Tải bản đầy đủ

tieu luan triết học cổ điển đức

LỜI NÓI ĐẦU
Triết học cổ điển Đức – một trong những tiền đề lý luận trong sự hình
thành triết học Mác. Mác và Ăngghen đã kế thừa những thành quả trong lịch sử
nhân loại trước đó, những tư tưởng tiến bộ, đồng thời khắc phục những sai lầm
thiếu sót của các nhà triết học trước đó. Triết học cổ điển Đức đóng vai trò quan
trọng trong quá trình hình thành triết học Mác, từ phép biện chứng duy tâm của
Hêghen là cơ sở xây dựng thành công phép biện chứng duy vật, từ triết học duy vật
của Phoiơbắc về con người, tự nhiên, tôn giáo, cũng đã có đóng góp lớn cho chủ
nghĩa duy vật.
Bất cứ thời kỳ nào cũng diễn ra cuộc đấu tranh giữa các nhà tư tưởng,
giữa triết học duy vật và triết học duy tâm. Ở nước Đức thời kỳ đó cũng vậy, trước
hệ thống triết học duy tâm đồ sộ của Hêghen, chứa đựng những tư tưởng sắc bén,
biện chứng nhưng lại duy tâm, để bảo vệ triết học duy vật Phoiơbắc đã đấu tranh
bảo vệ, phủ nhận một sạch trơn tư tưởng triết học của Hêghen, mà không thấy
được những yếu tố biện chứng trong đó. Ông xây dựng học thuyết triết học của
mình, tuy chứa đựng những yếu tố duy vật, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế.
Với tư tưởng đề cao con người triết học duy vật nhân bản của Phoiơbắc
đã ra đời là một trong những tư tưởng chứa đựng yếu tố duy vật biện chứng được
góp phần vào quá trình tiếp cận và nghiên cứu chuyên sau vấn đề bản chất con
người trong triết học Mác –Lênin sau này, đặc biệt là tình thần nhân văn hay tính
nhân bản, lấy con người làm trung tâm của nghiên cứu triết học.


1


NỘI DUNG
1. Vài nét về thân thế và sáng tác triết học của L.Phoiơbắc
L.Phoiơbắc (1804 – 1872) - đại biểu cuối cùng của một trào lưu triết học
đặc sắc, người đã viết chương cuối hùng tráng trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật và
vô thần để kết thúc bản giao hưởng “triết học cổ điển Đức”. Chủ nghĩa duy vật của
L.Phoiơbắc là chủ nghĩa nhân bản. Với một tên gọi như thế, vấn đề văn hoá và con
người nằm trong trường suy ngẫm của ông là một điều dĩ nhiên.
Cùng với sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa, mô hình cổ điển về văn hoá dựa trên ba nguyên lý cơ bản: nhân
văn, duy lý và lịch sử đã được hình thành trong triết học cổ điển phương Tây. Mô
hình này đã phát triển theo hai đường hướng lý giải chủ yếu: cách lý giải theo chủ
nghĩa tự nhiên thông qua các nhà Khai sáng Pháp và cách lý giải theo chủ nghĩa
duy tâm thông qua hai đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức - I.Cantơ và
G.V.Ph.Hêghen. Để mô hình cổ điển về văn hoá tiếp tục phát triển, nó cần phải
được lý giải trên mảnh đất của chủ nghĩa duy vật và người thực hiện trọng trách đó
chính là L.Phoiơbắc.
L.Phoiơbắc bắt đầu học tập và nghiên cứu triết học với tư cách là học trò
của Hêghen. Trong hai năm, ông đã nghe những bài giảng của Hêghen ở Béclin với
lòng nhiệt thành và sự chăm chú. Được đào luyện trong hệ thống triết học tư biện
của Hêghen, những năm đầu trong sự nghiệp của mình, L.Phoiơbắc trở thành nhà
triết học duy tâm là một điều dĩ nhiên. Nhưng chính nhờ được tôi luyện trong cái
“lò bát quái” tư biện ấy, L.Phoiơbắc đã nhìn thấy những mâu thuẫn, những nghịch
lý trong hệ thống triết học của Hêghen. Tuy nhiên, việc đoạn tuyệt với triết học duy
tâm ấy cũng là một quá trình. Ông viết: “Hêghen đã chuyển những định nghĩa, mà
những định nghĩa này trong chính bản thân mình chẳng có chút gì hiện thực
2


cả, thành một cái gì đó độc lập. Sự việc cũng lại như thế với tồn tại ở phần mở đầu
của “Khoa học lôgíc”. Có thể hiểu tồn tại theo cách nào khác như tồn tại không
hiện thực, tồn tại không có thật? Vậy thì khái niệm tồn tại là gì trong sự khác
biệt với khái niệm tồn tại hiện tồn, hiện thực, thật sự? Dĩ nhiên, đó chính là hư
vô...”. Vấn đề là ở chỗ, với L.Phoiơbắc, tồn tại thống nhất với cái mang sự tồn tại,
không thể có khả năng cái này tách biệt khỏi cái kia. Sêlinh cũng đã đưa ra những
luận chứng tương tự để chống lại Hêghen, nhưng rồi chính ông lại bị vướng mắc
và lúng túng trong vấn đề này. Kết cục, cả hai đường hướng của chủ nghĩa duy tâm


Đức - Sêlinh và Hêghen đều cùng phạm một sai lầm: không thừa nhận tồn tại và
không biết đến tồn tại thực sự. Vượt ra khỏi những cái bóng của cả Sêlinh lẫn
Hêghen, L.Phoiơbắc đã xây dựng một chủ nghĩa duy vật mới – chủ nghĩa duy vật
nhân bản.
2. Chủ nghĩa nhân bản của L.Phoiơbắc
Triết học nhân bản của Phoiơbắc ra đời trên cơ sở phê phán quan niệm duy
tâm của Hêghen về bản chất con người, quy nó về tự ý thức. Theo Phoiơbắc, chủ
nghĩa duy tâm đã tách con người ra làm đôi, đem tách tư duy ra khỏi cơ thể, biến
nó thành một sức mạnh linh thiêng sáng tạo ra vật chất, đem đồng nhất bản chất
con người với tư duy ý thức.
Bên cạnh đó ông cũng phê phán lối tách đôi nửa vời của phái nhị nguyên,
khẳng định rằng tình thần luôn luôn liên hệ với thân thể và phụ thuộc vào thân thể.
Ông cho rằng triết học nhân bản sẽ xoá bỏ sự tách biệt giữa tinh thần với thân thể,
rằng bản chất con người là sự thống nhất giữa tinh thần với thân thể.
Theo Phoiơbắc vấn đề bản con người thực chất là mối quan hệ giữa tư duy
và tồn tại, chỉ con người mới có tư duy, vì vậy, triết học phải trở thành nhân bản
học , tức là học thuyết về con người. Là triết học về con người, vậy con người là
3


gì? Khi phê phán Hêghen coi thường con người cụ thể, con người sống, tuyệt đối
hoá mặt tinh thần, Phoiơbắc cố gắng tiếp cận theo cách mà theo ông là khoa học
hơn. Ông lấy con người sống, con người có cảm giác làm điểm xuất phát cho triết
học của mình. Theo ông, con người là một sinh vật có thân thể, có cảm giác, ở
trong không gian thời gian, có năng lực quan sát và suy nghĩ. Con người là một bộ
phận của giới tự nhiên, được sinh ra từ giới tự nhiên. Bản chất con người là tổng
thể các phẩm chất vốn có của thể xác như khát vọng, khả năng, nhu cầu, ham
muốn, tưởng tượng…Ông cũng nhận thấy ảnh hưởng của điều kiện sống và mội
trường đối với tư duy và ý thức con người, từ đó ông khẳng định: “con người là
sản phẩm của con người, của văn hoá, và của lịch sử”.
Trong chương mở đầu cuốn Bản chất đạo Thiên Chúa giáo – tác phẩm
chủ yếu của L.Phoiơbắc, ông đã bàn về bản chất chung của con người. Trước
những câu hỏi: bản chất con người là gì? Đâu là những dấu hiệu người thực sự
trong mỗi con người?… L.Phoiơbắc đã trả lời rằng, đó chính là lý trí, ý chí và trái
tim. Ông khẳng định: “Con người hoàn thiện có sức mạnh của tư duy, sức mạnh
của ý chí và sức mạnh của tình cảm. Sức mạnh của tư duy là ánh sáng của sự nhận
thức, sức mạnh của ý chí – năng lực của tính cách, sức mạnh của tình cảm – tình
yêu. Lý trí, tình yêu và sức mạnh của ý chí - đó là những hoàn thiện. Bản chất tuyệt
đối và cao quý của con người như nó vốn có và là mục đích cho sự tồn tại của nó
nằm ở trong ý chí, tư duy và cảm xúc. Con người tồn tại để nhận thức, yêu thương
và ham muốn. Nhưng mục đích của lý trí là như thế nào? – Lý trí. Của tình yêu? –
Tình yêu. Của ý chí? – Tự do ý chí. Chúng ta nhận thức để nhận thức, yêu thương
để yêu thương, mong muốn để ham muốn, nghĩa là tự do. Thực thể chân chính là
thực thể biết tư duy, biết yêu thương và biết hy vọng nhờ ý chí. Cái hoàn thiện thực
sự, thần thánh thực sự chỉ là cái tồn tại vì chính bản thân mình. Tình yêu, lý trí và ý
chí là những cái như thế. “Ba ngôi” thần thánh được biểu hiện trong con người và
4


thậm chí ở trên những con người cá nhân trong sự thống nhất của lý trí, tình yêu và
ý chí”.
Nhìn chung triết học duy vật nhân bản của Phoiơbắc đã khắc phục được
những mặt thiếu xót trong quan niệm về con người của triết học Hêghen. Con
người trong triết học của ông dường như là cụ thể với thể xác, với những ước mơ
khát vọng…trong quá trình phát triển của lịch sử, con người là sản phẩm của quá
trình phát triển lịch sử, của văn hoá, tuy nhiên quan điểm đó vẫn còn dừng ở bước
khởi đầu, chưa được phân tích sâu hơn. Con người mà ông hướng đến vẫn chỉ là
con người chung chung trừu tượng, phi lịch sử, tách rời các quan hệ xã hội.
Triết học nhân bản của Phoiơbắc còn được ông thể hiện trong quan niệm
về ý thức xã hội và trong phương pháp nghiên cứu. Ông cho rằng ý thức xã hội là
phản ánh bản chất con người, bản chất con người đó là tính cảm giác, là sự sống
của trí tuệ và trái tim, là những trải nghiệm nội tâm phong phú của con người đang
yêu, đang đau khổ và đang vương tới những hạnh phúc…Trong phương pháp nhân
bản học ông đưa cái siêu nhiên về cái tự nhiên, cái mớ mộng về hiện thực, quy cái
siêu cảm giác về cảm giác.
Chính những yếu tố duy vật đó góp phần xây dựng thành công triết học
nhân bản của ông, tuy vẫn còn một số hạn chế, trong đó hạn chế lớn nhất là quan
niệm trừu tượng về cá nhân thuần tuý sinh học, nhưng đã có góp quan trọng trong
vấn đề bảo vệ chủ nghĩa duy vật, hình thành học thuyết Mác.
3. Vai trò của nó đối với sự ra đời của triết học Mác
Quan niệm về con người trong triết học Phoiơbắc như đã trình bày ở
trên theo đánh giá của A.G.Spirkin "chính là điểm xuất phát cho những lập luận
của Mác về con người và bản chất con người". Bởi vì, bằng những quan niệm đó,
5


người khai mở con đường cho chủ nghĩa duy vật nhân bản đã giáng một đòn phá
tan mâu thuẫn giữa chủ nghĩa duy vật và chỉ nghĩa duy tâm khách quan của
Hêghen "đưa một cách không úp mở chủ nghĩa duy vật trở lại ngôi vua", ông đã
khẳng định một cách dứt khoát rằng "tự nhiên tồn tại độc lập đối với mọi triết học.
Nó là cơ sở trên đó con người chúng ta bản thân chúng ta cũng là một sản phẩm
của tự nhiên đã sinh trưởng”. Mác và Ăngghen luôn đánh giá cao triết học
củaPhoiơbắc nói chung, chủ nghĩa duy vật nhân bản của ông nói riêng, họ tự thừa
nhận mình là môn đồ của ông, chào đón quan điểm mới đó một cách nhiệt liệt, tin
và đi theo Phoiơbắc với một tinh thần hào hứng, phấn khởi.
Xem xét con người và văn hoá dưới góc độ của nguyên lý nhân bản,
L.Phoiơbắc đã có những đóng góp thực sự trong việc phát triển triết học văn hoá.
Đối với ông, văn hoá trước tiên là những năng lực, những phẩm chất phát triển bản
chất con người thông qua lý trí, cảm xúc và ý chí. Tiếp bước mô hình của I.Cantơ,
ông đã khảo sát những phẩm chất người ấy trong các lĩnh vực nhận thức luận, đạo
đức học và mỹ học để làm sáng tỏ mối liên kết của các véctơ chân, thiện, mỹ trong
trường văn hoá của tộc loại người. Tuy nhiên, L.Phoiơbắc cũng không tránh khỏi
một số hạn chế nhất định; chẳng hạn, sau khi phê phán và loại bỏ quan điểm duy
tâm trong việc lý giải văn hoá và con người cũng như việc thực thể hoá lý trí của
Hêghen, L.Phoiơbắc lại đi thực thể hoá cảm xúc trong triết học văn hoá của ông..
Hạn chế cơ bản xuyên suốt toàn bộ triết học nhân bản củaPhoiơbắc là chủ nghĩa

6


nhân đạo trừu tượng và chủ nghĩa duy tâm về lịch sử. "Lấy con người làm xuất
phát điểm, song ông hoàn toàn không nói đến thế giới trong đó con người ấy sống.
Vì vậy con người mà ông nói luôn là con người trừu tượng... con người đó không
ra đời từ trong bụng mẹ, mà lại sinh ra từ ông thần của các tôn giáo độc thần... con
người đó cũng không sống trong thế giới hiệan thực". Những hạn chế ấy của
L.Phoiơbắc sau này được C.Mác, Ph.Ăngghen khắc phục và vượt qua.
Luận cương về Phoiơbắc được coi như là bản tổng kết toàn bộ những
khiếm khuyết trong triết học Phoiơbắc, trong đó khi phê phán quan điểm về con
người trừu tượng của nhà triết học này, Mác viết: "Phoiơbắc hoà tan bản chất tôn
giáo vào bản chất con người. Nhưng bản chất con người không phải là một cái gì
trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất
con người là tổng hoà những quan hệ xã hội”.
Trong Hệ tư tưởng Đức, Mác và Ăngghen đã dành hẳn một chương bàn về
triết học Phoiơbắc, theo các ông, thì "so với các nhà duy vật "thuần tuý", Phoiơbắc
có ưu điểm lớn là ông thấy rằng, con người cũng là một "đối tượng của cảm
giác", ...nhưng ông vẫn còn bám vào lý luận và không xem xét con người trong
mối quan hệ xã hội nhất định của họ, trong những điều kiện sinh hoạt... làm cho họ
trở thành những con người đúng như họ đang tồn tại trong thực tế... nên ông vẫn cứ
dừng lại ở một sự trừu tượng.

7


Trung tâm thế giới quan mới do Mác và Ăngghen đặt nền móng là chủ
nghĩa duy vật về lịch sử. Theo ý kiến của họ, con người không phải bước ra từ sâu
thẳm của giới tự nhiên thành một sinh thể tự nhiên phổ quát như Phoiơbắc nhận
định, mà nó trở thành như vậy trong tiến trình lịch sử. Con người khác vôi động vật
trước hết không phải bởi nó có ý thức như Phoiơbắc nói, mà bởi sự bắt buộc phải
lao động sản xuất nhằm tạo ra cho mình các phương tiện sống. Trong quá trình
sản xuất đó, con người khám phá ra sức mạnh tự nhiên, chuyển nó thành lực lượng
lao động xã hội, tạo nên nội dung của lịch sử thế giới. Sự khám phá đó được tiến
hành bởi các cá nhân có những nhu cầu tự nhiên - xã hội xác định và những năng
lực hoạt động của họ trong phạm vi những hình thái kinh tế - xã hội được
chuyển giao từ thế hệ này qua thế hệ khác.Với nghĩa như vậy, Mác và Ăngghen
viết: "Những tiền đề xuất phát của chúng tôi, không phải là những tiền đề tuỳ
tiện, không phải là giáo điều, đó là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có
thể bỏ qua trong trí tưởng tượng thôi. Đó là những cá nhân hiện thực, là hoạt động
của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ... tiền để đầu tiên của toàn bộ
lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống. Vì
vậy, điều cụ thể dầu tiên cần phải xác định là tổ chức cơ thể của những cá nhân ấy
và mối quan hệ mà tổ chức cơ thể ấy tạo ra giữa họ với phần còn lại của tự nhiên".
Những năm cuối đời, Ph.Ăngghen đã dành phần lớn thời gian cho việc nghiên cứu
triết học. Phoiơbắc, kết quả cụ thể của việc nghiên cứu đó là tác phẩm Ludvic
Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức. Trong tác phẩm nổi danh này,
8


người kế tục sự nghiệp của Mác phê phán quan điểm duy tâm về lịch sử của
Phoiơbắc: "Chủ nghĩa duy tâm thực sự của Phoiơbắc - Ăngghen viết là ở chỗ ông
xét các mối quan hệ giữa người và người dựa trên cảm tình đối với nhau, như tình
yêu nam nữ, tình bạn, lòng thương xót, tinh thần tự hy sinh... Phoiơbắc cho rằng,
những quan hệ ấy chỉ có giá trị đầy đủ, khi người ta đem lại cho chúng một sự tôn
phong tối cao bằng cái tên là tôn giáo". Do dựa trên một quan niệm duy tâm sai
lầm như vậy, nên "học thuyết của Phoiơbắc về đạo đức thì cũng giống như tất cả
những học thuyết trước đó. Nó được gọt giũa cho thích hợp với mọi thời kỳ, mọi
dân tộc, mọi hoàn cảnh, và chính vì thế mà không bao giờ nó có thể đem áp dụng
được ở đâu cả. Và đối với thế giới hiện thực, nó cũng bất lực như cái mệnh lệnh
tuyệt đối của Kantvậy". Sự bất lực đó của nhà triết học trước thực trạng xã hội Đức
đương thời đã làm cho ông "không tìm thấy con đường thoát khỏi vương quốc của
sự trừu tượng, mà bản thân ông ghét cay ghét đắng để đi tới hiện thực sinh động.
Ông bám hết sức chặt lấy giới tự nhiên và con người, song đối với ông, tất cả tự
nhiên lẫn con người vẫn chỉ là những danh từ mà thôi. Ông không biết nói với
chúng ta một cái gì chính xác về tự nhiên hiện thực, cũng nhu về con người hiện
thực". Nhưng lịch sử phát triển của nhận thức loài người có tính logic của nó,
những gì mà Phoiơbắc chưa thực hiện đã được Mác triển khai và hoàn thiện trong
các tác phẩm của mình.

9


KẾT LUẬN

Triết học duy vật nhân bản của Phoiơbắc đã khắc phục được
phần nào tính phiến diện của chủ nghĩa duy vật thể kỷ trước trong
10


quan niệm về con người. con người mà ông xây dựng là hình ảnh con
người sống động, bằng xương bằng thịt, tuy nhiên con người đó con
mang tính chung chung trườu tượng, thiếu nững tính quy định xã hội,
và chưa được đặt trong những điều kiện lịch sở cụ thể, nói cách khác
vẫn là cong người trừu tượng, phi lịch sử, in đạm dấu ấn của những
đặc điểm tự nhiên, sinh học.
Triết học của Phoiơbắc nói chung, triết học duy vật nhân bản
của ông nói riêng, đã góp phần xứng đáng vào sự phát triển của chủ
nghĩa duy vật, đã khôi phục những nội dung cơ bản của nó trong bối
cảnh chủ nghĩa duy tâm và thần bí đang còn chiềm ưu thế, góp phần
bảo vệ chủ nghĩa duy vật, xây dựng thành công học thuyết Mác.
Kế thừa chủ nghĩa duy vật của Phơbắc và phép biện chứng của
Hêghen, Mác đã thiết lập sự thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật
va phép biện chứng, xây dựng thành công chủ nghĩa duy vật biện
chứng, là cơ sở hình thành nên học thuyết vĩ đại nhất trong lịch sử:
triết học Mác – Lênin.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình lịch sử triết học cổ điển Đức – Ts. Bùi Thị Thanh Hương –
Nguyễn Đình Trình
2. Tạp trí nghiên cứu con người trong triết học của Phoiơbắc
3. Lịch sử triết học Mác – Lênin

11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×