Tải bản đầy đủ

Chế độ pháp lý về quản tài viên theo luật phá sản năm 2014

NGUYỄN THẠCH THẢO

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
LUẬT KINH TẾ

CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ QUẢN TÀI VIÊN
THEO LUẬT PHÁ SẢN 2014

NGUYỄN THẠCH THẢO

2016 - 2018

HÀ NỘI – 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI


LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ QUẢN TÀI VIÊN
THEO LUẬT PHÁ SẢN 2014

NGUYỄN THẠCH THẢO
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS.NGUYỄN KIỀU GIANG

HÀ NỘI – 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả
nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu,
ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi
đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo
quy định của Khoa Đào tạo sau Đại học - Viện Đại học Mở Hà Nội.

Hà Nội, tháng 08 năm 2018
NGƯỜI CAM ĐOAN


LỜI CẢM ƠN
Qua hai năm học tập nghiên cứu tại Viện Đại học Mở Hà Nội và viết luận văn
tốt nghiệp đề tài “Chế độ pháp lý về Quản tài viên theo Luật Phá sản 2014”. Tác
giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Viện Đại học Mở Hà Nội, Khoa Sau đại học
Viện Đại học Mở Hà Nội, các thầy giáo, cô giáo Viện Đại học Mở Hà Nội, trường
Đại học Luật Hà Nội và các Bộ, ngành đã trực tiếp giảng dạy lớp cao học Luật kinh
tế. Đặc biệt xin biết ơn thầy hướng dẫn luận văn Nguyễn Kiều Giang đã tận tình
hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong quá trình viết luận văn.
Cảm ơn các bạn trong lớp cao học Luật Kinh tế, Khoa Sau đại học, Viện Đại
học Mở Hà Nội đã giúp đỡ trong quá trình học tập. Tác giả xin được bày tỏ lòng
biết ơn sâu đậm đến đồng nghiệp và gia đình đã nhiệt tình hỗ trợ, động viên, tạo
điều kiện trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thiện luận văn này.
Do thời gian có hạn và kiến thức, kinh nghiệm còn nhiều thiếu sót, hạn chế,


tác giả mong muốn các Quý thầy, cô giáo, nhà khoa học, chuyên gia và độc giả
quan tâm tham gia đóng góp để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, tháng 08 năm 2018
TÁC GIẢ LUẬN VĂN


MỤC LỤC
TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
Chương 1.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TÀI VIÊN VÀ
CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ QUẢN TÀI VIÊN .......................................................... 4
1.1. Những vấn đề lý luận về Quản tài viên - chủ thể quản lý, thanh lý doanh
nghiệp phá sản ....................................................................................................... 4
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của Quản tài viên ........................................................ 4
1.1.2. Vị trí, vai trò của Quản tài viên .................................................................... 7
1.1.3. Mô hình Quản tài viên ở các nước ............................................................... 8
1.2. Tổng quan pháp luật điều chỉnh chế độ pháp lý Quản tài viên ở Việt Nam
.............................................................................................................................. 16
1.2.1. Cơ sở và các yếu tố tác động đến việc xây dựng chế độ pháp lý về Quản tài
viên ....................................................................................................................... 16
1.2.2. Khái niệm chế độ pháp lý về Quản tài viên ................................................ 18
1.2.3. Nội dung chế độ pháp lý về Quản tài viên .................................................. 19
1.2.4. Sự hình thành và phát triển chế độ pháp lý Quản tài viên qua các thời kỳ 21
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ
VỀ QUẢN TÀI VIÊN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG .......................................... 25
2.1. Thực trạng pháp luật điều chỉnh chế độ pháp lý về Quản tài viên theo Luật
Phá sản 2014 ........................................................................................................ 25
2.1.1. Điều kiện hành nghề Quản tài viên ............................................................ 25
2.1.2. Quyền và trách nhiệm của Quản tài viên ................................................... 30
2.1.3. Hoạt động nghiệp vụ của Quản tài viên ..................................................... 34
2.1.4. Quản lý nhà nước đối với hoạt động của Quản tài viên ............................. 52
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật điều chỉnh chế độ pháp lý về Quản tài viên
theo Luật Phá sản 2014 ....................................................................................... 60


2.2.1. Những yếu tố tác động đến thực tiễn áp dụng chế độ pháp lý về Quản tài
viên ....................................................................................................................... 60
2.2.2. Những thành công của pháp luật quy định chế độ pháp lý Quản tài viên . 62
2.2.3. Những hạn chế, tồn tại của pháp luật quy định chế độ pháp lý về Quản tài
viên ....................................................................................................................... 62
Chương 3 HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ
VỀ QUẢN TÀI VIÊN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN.................. 68
3.1. Yêu cầu của việc hoàn thiện chế độ pháp lý về Quản tài viên .................... 68
3.2. Các giải pháp hoàn thiện chế độ pháp lý về Quản tài viên ......................... 69
3.2.1. Về điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên ................................ 69
3.2.2. Về căn cứ đình chỉ Quản tài viên tiến hành vụ việc phá sản ..................... 70
3.2.3. Về phương thức xác định thù lao Quản tài viên ........................................ 70
3.2.4. Bổ sung quy định về tiêu chí quyết định chỉ định Quản tài viên của Thẩm
phán tiến hành thủ tục phá sản ............................................................................ 71
3.2.5. Bổ sung quy định các trường hợp cụ thể đối với trách nhiệm bồi thường
thiệt hại của Quản tài viên ................................................................................... 72
3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ pháp lý về Quản tài viên
.............................................................................................................................. 73
3.3.1. Nâng cao năng lực của Quản tài viên ........................................................ 73
3.3.2. Tham khảo quy định của pháp luật nước ngoài về sự tham gia của quản tài
viên trong giải quyết phá sản ................................................................................ 75
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 1


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CP

:

Chính phủ



:

Nghị định


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Mô hình chủ thể quản lý, thanh lý tài sản trong pháp luật phá sản tùy thuộc
vào điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù của mỗi quốc gia. Xu hướng chung cho thấy,
pháp luật của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển thường quy định chủ thể
quản lý, thanh lý tài sản là những cá nhân hành nghề độc lập, chuyên nghiệp. Việc
quy định chủ thể quản lý, thanh lý tài sản là cá nhân, doanh nghiệp trong Luật Phá
sản năm 2014 là một bước tiến quan trọng của pháp luật về phá sản ở Việt Nam.
Chế định này được xây dựng dựa trên cơ sở sự phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước thời gian qua, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trên thế giới;
giúp giải quyết những bất cập trong thủ tục phá sản doanh nghiệp đồng thời khẳng
định vị trí, vai trò quan trọng của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài
sản trong việc giải quyết phá sản ở Việt Nam.Tuy nhiên sau hơn 03 năm áp dụng,
việc thực thi chế định này vẫn còn nhiều điểm chưa hoàn thiện, gây lung túng trong
việc áp dụng vào thực tiễn đối với thẩm phán, quản tài viên, doanh nghiệp và cả nhà
lập pháp
Xuất phát từ những điều đó, học viên đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Chế
độ pháp lý về Quản tài viên theo Luật Phá sản 2014” làm luận văn Thạc sĩ chuyên
ngành Luật kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Có rât nhiều bài viết, công trình nghiên cứu, các báo cáo chuyên đề, hội
thảo chuyên đề về phá sản và Pháp luật Phá sản .
Nhìn chung các công trình trên thường chủ yếu tập trung vào việc phân
tích, đánh giá các quy định của pháp luật trong giải quyết việc phá sản mà chưa có
công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về chủ thể
quản lý thanh lý tài sản nói chung và Quản tài viên nói riêng. Vì vậy nhằm sửa đổi
bổ sung, hoàn thiện các quy định của Luật phá sản thì việc nghiên cứu đề tài này là
rất cần thiết và bổ ích.

1


3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những nội dung và đặc điểm của pháp luật quy định về Quản tài
viên theo luật phá sản 2014;
- Đánh giá những tiến bộ và hạn chế của mô hình chủ thể Quản lý thanh lý
tài sản qua các thời kỳ;
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật trong thực tiễn;
- Đưa ra nguyên nhân và biện pháp hoàn thiện chế độ pháp lý về Quản tài
viên theo Luật phá sản 2014.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu các quy định về Quản tài viên trong Luật Phá sản 2014 và các
Văn bản pháp luật có liên quan;
- Đối chiếu, so sánh với các mô hình chủ thể quản lý thanh lý tài sản theo
quy định của pháp luật về Phá sản trước khi Luật Phá sản 2014 ra đời và các mô
hình chủ thể tiêu biểu theo pháp luật của các nước khác.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, đánh giá;
- Phương pháp so sánh;
-Phương pháp bình luận, , diễn dịch, quy nạp.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu
Thứ nhất, đưa ra những quy định của pháp luật liên quan đến Quản tài viên;
Thứ hai, đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng thực thi chế định Quản tài
viên trong thực tiễn;
Thứ ba, đề xuất những định hướng và các giải pháp cụ thể góp phần tiếp tục
hoàn thiện hệ thống pháp luật về Quản tài viên theo Luật Phá sản 2014 và các Văn
bản pháp luật có liên quan.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
Luận văn được bố cục gồm 3 chương:

2


Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về Quản tài viên Chế độ pháp lý về
Quản tài viên;
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh chế độ pháp lý về Quản tài viên
và Thực tiễn áp dụng;
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh chế độ pháp lý Quản tài viên và
nâng cao hiệu quả thực hiện.

3


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TÀI
VIÊN VÀ CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ QUẢN TÀI VIÊN
1.1. Những vấn đề lý luận về Quản tài viên - chủ thể quản lý, thanh lý
doanh nghiệp phá sản
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của Quản tài viên
Trước sự thay đổi của tình hình kinh tế, xã hội đất nước; đồng thời khắc
phục những hạn chế của Luật Phá sản năm 2004 về chế định chủ thể quản lý, thanh
lý tài sản. Luật Phá sản năm 2014 đã có nhiều những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
Trong đó “Quản tài viên” là một khái niệm hoàn toàn mới được quy định trong Luật
Phá sản năm 2014 của Việt Nam. Theo quy định tại khoản 7, Điều 4 Luật Phá sản
thì Quản tài viên được định nghĩa “là cá nhân hành nghề quản lý, thanh lý tài sản
của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán trong quá trình giải quyết
phá sản”.
Nghiên cứu về quản tài viên cho thấy chủ thể này có các đặc điểm pháp lý
sau:
Thứ nhất, quản tài viên là thiết chế cá nhân, nhân danh cá nhân thực hiện
hoạt động quản lý, thanh lý tài sản. Đây là điểm khác biệt của Luật Phá sản năm
2014 so với Luật Phá sản năm 1993 và Luật Phá sản năm 2004. Tổ quản lý tài sản,
tổ thanh toán tài sản theo Luật Phá sản năm 1993, Tổ quản lý và thanh lý tài sản
trong Luật Phá sản năm 2004 là thiết chế tập thể bao gồm đại diện của các cơ quan
chuyên môn thuộc Nhà nước, đại diện người lao động, Ban chấp hành Công đoàn,
đại diện chủ nợ, nhân danh quyền lực Nhà nước thực hiện hoạt động này.
Thứ hai, quản tài viên là thiết chế vừa đại diện chủ nợ, vừa đại diện cho con
nợ, vừa đại diện cho Nhà nước trong quá trình giải quyết phá sản. Sau khi được Tòa
án ra quyết định chỉ định, quản tài viên có vị trí độc lập với cả hai bên chủ nợ và
con nợ, vừa là người đại diện cho lợi ích của chủ nợ và cả con nợ. Tuy nhiên khác
với các trường hợp đại diện thông thường, là sự đại diện theo ủy quyền giữa người

4


ủy quyền và người nhận ủy quyền, quản tài viên đại diện cho các chủ thể trên cơ sở
quy định của pháp luật (đại diện theo pháp luật); nói cách khác, pháp luật trao cho
họ những nhiệm vụ, quyền hạn để bảo vệ lợi ích cho cả chủ nợ, con nợ và Nhà
nước. Họ là “nhân vật chính” trong quá trình thực hiện các thủ tục phá sản1.
Quản tài viên đại diện cho chủ nợ thể hiện ở chỗ, sau khi chủ nợ có đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản để thu hồi nợ thì hầu như họ không trực tiếp thực hiện việc
đòi nợ với con nợ mà quản tài viên do Tòa án chỉ định đã đứng ra thực hiện các thủ
tục thu hồi nợ cho họ. Trong cả hai trường hợp, nếu doanh nghiệp thực hiện thành
công phương án phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc phải thanh lý tài sản
thì mục đích đều nhằm thu hồi lại nợ cho các chủ nợ; các biện pháp bảo toàn hay xử
lý tài sản đều nhằm bảo đảm cho lợi ích của chủ nợ một cách cao nhất. Ngoài ra, khi
xét người lao động với tư cách là một loại chủ nợ thì Quản tài viên còn đại diện cho
người lao động thực hiện thu hồi các khoản nợ tiền công, tiền lương, bảo hiểm…
cho người lao động.
Quản tài viên đại diện cho con nợ khi thay mặt cho con nợ thực hiện việc
thanh toán với các chủ nợ theo quy định của pháp luật. Quản tài viên còn đại diện
cho con nợ đàm phán thỏa thuận với chủ nợ về phương án phục hồi lại hoạt động
sản xuất, kinh doanh, giúp con nợ vượt qua khó khăn, thanh toán được các khoản
nợ, tiếp tục duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh. Chính điều này khẳng định ưu
điểm của tố tụng phá sản là có tác dụng “khai tử” cho các doanh nghiệp mắc nợ một
cách hòa bình và có trật tự.
Quản tài viên đại diện cho Nhà nước bởi họ là người được Tòa án chỉ định,
thay mặt Tòa án thực hiện các thủ tục pháp lý nhằm giải quyết việc phá sản. Nói
cách khác, họ được pháp luật trao quyền giải quyết vụ việc phá sản và phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện các nhiệm vụ đó. Mặt khác hoạt động
của họ cũng nhằm thu hồi các khoản nợ đọng thuế, các khoản chi phí phát sinh
trong quá trình giải quyết việc phá sản cho Nhà nước.

1
Đặng Văn Huy, Đặc điểm pháp lý và các mối liên hệ cơ bản của quản tài viên, trích dẫn từ:
http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-luat.aspx?ItemID=177, cập nhật ngày 1/7/2018.

5


Thứ ba, hoạt động của quản tài viên là hoạt động nghề nghiệp, mang tính
chuyên nghiệp cao. Hoạt động của “Tổ quản lý tài sản, Tổ thanh toán tài sản” theo
Luật Phá sản năm 1993 và “Tổ quản lý và thanh lý tài sản” theo Luật Phá sản năm
2004 như đã phân tích là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, vừa mang tính
xã hội, do các thành viên đại diện cho nhiều cơ quan, tổ chức thực hiện, phục vụ
mục tiêu của Nhà nước là nhằm giải quyết việc phá sản có hiệu quả, bảo đảm tốt
nhất quyền, lợi ích hợp pháp của chủ nợ, con nợ, người lao động. Tuy nhiên thực
tiễn thi hành Luật Phá sản năm 1993, Luật Phá sản năm 2004 cho thấy, do Luật
không xác định rõ trách nhiệm của từng thành viên đã dẫn đến tình trạng đùn đẩy,
né tránh trách nhiệm, việc thực hiện các thủ tục pháp lý do Tổ thực hiện thường bị
chậm trễ, hiệu quả thấp. Quản tài viên là chức danh được bổ nhiệm từ những cá
nhân có chuyên môn, nghiệp vụ (Luật sư, kiểm toán viên, người có trình độ về kế
toán, tài chính và pháp luật) phù hợp với hoạt động quản lý, thanh lý tài sản vốn có
đặc điểm vừa mang tính pháp lý, vừa mang tính kinh tế. Ngoài ra, họ còn phải đáp
ứng được yêu cầu về thời gian, kinh nghiệm công tác, phải mua bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp theo quy định của pháp luật. Tính chuyên nghiệp cao trong hoạt
động của quản tài viên còn được thể hiện bởi pháp luật có quy định chặt chẽ, toàn
diện về nguyên tắc hành nghề, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của quản tài viên,
đặc biệt quy định những hành vi bị nghiêm cấm, trách nhiệm pháp lý của quản tài
viên trong hành nghề quản lý, thanh lý tài sản. Có thể nói, với những quy định về
quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, Luật Phá sản năm 2014 đã tạo
ra một nghề nghiệp mới – nghề quản lý và thanh lý tài sản ở Việt Nam, thêm một
nội dung hoạt động vốn thuộc chức năng của Nhà nước đã được xã hội hóa.
Thứ tư, hoạt động quản lý, thanh lý tài sản do quản tài viên thực hiện là
hoạt động dịch vụ, mang tính kinh tế. Đặc điểm này được thể hiện ở điểm: Ngoài
việc hưởng các chi phí khác như tiền tàu xe, lưu trú và các chi phí hợp lý khác cho
việc thực hiện hoạt động quản lý, thanh lý tài sản, mục đích hoạt động của quản tài
viên nhằm hướng tới lợi ích vật chất (thù lao được hưởng từ hoạt động quản lý,
thanh lý tài sản). Thù lao của quản tài viên được chi trả từ tài sản của doanh

6


nghiệp, hợp tác xã dựa trên cơ sở thời gian, công sức, kết quả thực hiện nhiệm vụ
của quản tài viên (Khoản1, Điều 24 Luật Phá sản năm 2014) và được xác định bằng
nhiều phương thức như: Căn cứ vào giờ làm việc của quản tài viên, thỏa thuận mức
thù lao trọn gói hoặc mức thù lao tính theo tỷ lệ phần trăm tổng giá trị tài sản của
doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản thu được sau khi thanh lý. Tuy nhiên,
dù xác định theo phương thức nào thì thù lao cũng phải bảo đảm tương xứng với
thời gian, công sức và kết quả lao động của quản tài viên. Như vậy, giá trị sức lao
động của quản tài viên được xác định trên cơ sở giá cả thị trường và mục đích của
hoạt động cung cấp dịch vụ này là lợi ích kinh tế. Đối với Tổ quản lý và thanh lý tài
sản, do thành viên hầu hết là đại diện các cơ quan Nhà nước, hưởng lương từ ngân
sách nhà nước, trong quá trình tham gia hoạt động quản lý, thanh lý tài sản họ vẫn
thực hiện nhiệm vụ thường xuyên ở nơi công tác, vì vậy mức thù lao họ được hưởng
từ hoạt động quản lý, thanh lý tài sản chỉ mang tính “hỗ trợ”, không được xác định
trên cơ sở giá cả thị trường, nhìn chung mức chi thấp, không phù hợp với điều kiện
kinh tế - xã hội thực tế và không tương xứng với công sức nên không động viên,
khích lệ được họ tích cực thực hiện nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản.

1.1.2. Vị trí, vai trò của Quản tài viên
Quản tài viên tham gia giải quyết phá sản kể từ khi được Tòa án chỉ định
tham gia thủ tục phá sản. Đây là căn cứ quyết định việc tham gia hay không tham
gia của quản tài viên vào các giai đoạn phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Khi tham
gia vào thủ tục này, quản tài viên có vai trò không thể thiếu với các bên có liên
quan.
Thứ nhất, vai trò của quản tài viên đối với tòa án tham gia giải quyết thủ tục
phá sản.
Quản tài viên giúp tòa án thực hiện một số nhiệm vụ trong giải quyết phá
sản doanh nghiệp, hợp tác xã như: quản lý tài sản, giám sát hoạt động kinh doanh,
lập bảng kê khai tài sản, thu thập, quản lý tài liệu, chứng cứ liên quan đến hoạt động
của doanh nghiệp, hợp tác xã… Đây là những hoạt động đòi hỏi phải có chuyên
môn, nghiệp vụ cao mà không phải bất cứ một chủ thể nào cũng có thể thực hiện

7


được kể cả tòa án. Hơn nữa, Tòa án phải thực hiện rất nhiều nhiệm vụ, giữ vai trò
trung tâm trong việc thực hiện các thủ tục phá sản, vì vậy, sự giúp đỡ của quản tài
viên là vô cùng cần thiết.
Thứ hai, vai trò của quản tài viên đối với các đương sự tham gia thủ tục phá
sản.
Quản tài viên là chủ thể giữ vai trò điều hòa lợi ích của các đương sự. Hoạt
động quản lý tài sản của quản tài viên một mặt giúp cho con nợ, chủ nợ có những
nhận thức cụ thể, chính xác nhất về tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ,
kể từ đó đưa ra những giải pháp hợp lý trong quá trình phục hồi hoạt động kinh
doanh. Mặt khác, hoạt động này sẽ khiến cho con nợ không có khả năng tẩu tán tài
sản, giúp việc hoàn trả các khoản nợ cho các chủ nợ được đảm bảo một cách tối đa
nhất. Bên cạnh đó, khi chủ thể này tiến hành hoạt động phân chia tài sản và phân
phối các khoản nợ giúp cho mỗi chủ nợ đều được nhận lại một khoản tài sản nhất
định từ doanh nghiệp, hợp tác xã phù hợp với quy định của pháp luật, đồng thời lại
giúp con nợ không mất khả năng thanh toán và bị xiết nợ dồn dập và có thể rút lui
khỏi thị trường kinh doanh trong trật tự.
Từ những vai trò của Quản tài viên có thể thấy đây là một trong những chủ
thể quan trọng giúp thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện theo quy
định của Luật phá sản năm 2014 được tiến hành nhanh chóng, chính xác, kịp thời,
thuận lợi và đạt hiệu quả cao.

1.1.3. Mô hình Quản tài viên ở các nước
1.1.3.1. Mô hình của Nhật Bản
Hệ thống văn bản pháp luật về phá sản của Nhật Bản không giống với đa số
các quốc gia khác. Do lịch sử quốc gia này có nhiều cuộc chiến tranh xảy ra và sự
thay đổi chế độ chính trị nên các quy định về phá sản không nằm trong một văn bản
duy nhất mà được trải rộng tại nhiều văn bản khác nhau ban hành ở những thời

8


điểm khác nhau như: Luật phá sản, Bộ luật thương mại, Luật về tổ chức lại công ty,
Luật về thỏa hiệp, Bộ luật về phục hồi dân sự2.
Chủ thể quản lý, thanh lý tài sản trong Luật Phá sản Nhật Bản được gọi
bằng thuật ngữ “banhkruptcy trustee” có nghĩa là người được ủy thác, ủy quyền
trong thủ tục phá sản và được gọi bằng tên gọi Quản trị viên. Pháp luật Nhật Bản
quy định về thủ tục phá sản có hai loại đó là: thủ tục thanh lý tài sản và thủ tục phục
hồi. Ở cả hai thủ tục này đều có sự tham gia của Quản trị viên.
Về nguyên tắc, tòa án là cơ quan tư pháp có thẩm quyền áp dụng thủ tục
thanh lý tài sản và thủ tục phục hồi doanh nghiệp. Tuy nhiên, cũng giống như pháp
luật của nhiều quốc gia phát triển khác, tòa án Nhật Bản cũng thành lập một đơn vị
khác có nhiệm vụ hỗ trợ tòa án trong việc quản lý tài sản. Theo pháp luật phá sản
của Nhật Bản thì một cá nhân sẽ được bổ nhiệm để thực hiện nhiệm vụ quản lý,
thanh lý tài sản và giám sát hoạt động của công ty mắc nợ.
Để giải quyết tình trạng một doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, pháp luật Nhật
Bản quy định thủ tục thanh lý tài sản và thủ tục phục hồi (thủ tục phục hồi bao gồm:
thủ tục tổ chức lại doanh nghiệp và thủ tục phục hồi dân sự). Ở mỗi loại thủ tục thì
Quản trị viên sẽ có những nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau nhưng Quản trị viên ở
hai thủ tục đều có những nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, trong trường hợp tổ chức lại doanh nghiệp, người quản lý tài sản
sẽ đến doanh nghiệp mắc nợ để nắm quyền điều hành kinh doanh (Ban điều hành
của công ty bị giải tán). Người này sẽ điều tra tình trạng của công ty trong thời hạn
từ một đến ba tháng. Nếu thấy công ty có khả năng tái thiết được thì báo cáo với tòa
án để mở thủ tục tái thiết công ty, ngược lại nếu thấy công ty không có khả năng
phục hồi thì mở thủ tục phá sản. Để thực hiện những công việc trên, người quản lý
tài sản sẽ phải tìm kiếm người có khả năng quản lý công ty vỡ nợ, tìm kiếm những
công ty có thể mua (bảo trợ) công ty vỡ nợ.

2
Đào Hải Lâm (2015), Quản lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ theo luật phá sản hiện
hành, luận văn thạc sĩ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 27

9


Thứ hai, sự tham gia của chủ thể quản lý, thanh lý tài sản trong thủ tục phục
hồi và thanh lý tài sản của doanh nghiệp.
Một là, đối với thủ tục phục hồi, tòa án chỉ định người giám sát tài sản và ra
lệnh bảo toàn tài sản. Thành phần quản lý hiện tại của doanh nghiệp mắc nợ vẫn
được nắm quyền quản lý và điều hành kinh doanh. Trong vòng từ hai tuần đến một
tháng, người giám sát tài sản điều tra doanh nghiệp mắc nợ còn có khả năng kinh
doanh hay không, Tòa án sẽ quyết định mở thủ tục phục hồi dân sự dựa trên báo cáo
này. Trong trường hợp áp dụng thủ tục phục hồi dân sự thì sau khi thủ tục phá sản
được mở, một Quản trị viên sẽ được bổ nhiệm để quản lý tài sản doanh nghiệp.
Hai là, đối với thanh lý tài sản, khi có quyết định phá sản thì nhân viên quản
lý tài sản sẽ được tòa án chỉ định, ngay sau khi được tòa án chỉ định thì chủ thể này
sẽ tiến hành các biện pháp bảo toàn tài sản tại trụ sở của doanh nghiệp mắc nợ theo
quyết định từ Tòa án. Nếu doanh nghiệp chưa cho công nhân thôi việc thì nhân viên
quản lý tài sản sẽ cho công nhân thôi việc. Nhân viên quản lý tài sản giám sát hoạt
động của doanh nghiệp có thẩm quyền quyết định dừng hoạt động của doanh nghiệp
hay không và có quyền bán các tài sản của doanh nghiệp để quy đổi tài sản thành
tiền mặt và lưu trũ trong một tài khoản riêng.
- Quản trị viên sẽ phải điều tra các khoản nợ thông qua việc xác nhận với
từng chủ nợ. Sau khi xác định, nếu thấy đúng chủ nợ và số nợ thì đưa họ vào danh
sách chủ nợ. Quản trị viên sẽ phải lập danh sách chủ nợ chính thức sau khi đã có sự
đối chiếu danh sách do con nợ nộp và bản kê khai của chủ nợ nếu các danh sách này
đều thống nhất. Nếu không có sự thống nhất và xảy ra tranh chấp thì tranh chấp này
sẽ được chuyển cho tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Quản trị viên có quyền quyết định dừng hay tiếp tục thực hiện các hoạt
động của doanh nghiệp và có quyền bán tài sản của doanh nghiệp trong trường hợp
áp dụng thủ tục thanh lý tài sản nhằm quy đổi cacsc tài sản của doanh nghiệp thành
tiền mặt và lưu trữ trong một tài khoản riêng. Có quyền hủy những hành vi nhất
định, được thực hiện trước khi có quyết định tuyên bố pahs sản mà gây thiệt hại đối
với các chủ nợ.

10


Nếu có quyết định mở thủ tục tổ chức lại doanh nghiệp, Quản trị viên sẽ có
nhiệm vụ hướng dẫn và giám sát con nợ thực hiện các giai đoạn của quá trình tổ
chức lại doanh nghiệp, các giai đoạn bao gồm: xây dựng dự thảo kế hoạch tổ chức
lại doanh nghiệp, phê duyệt dự thảo kế hoạch và thực thi kế hoạch tổ chức lại doanh
nghiệp. Nếu có quyết định của tòa án mở thủ tục tổ chức lại doanh nghiệp thì mọi
khoản nợ có bảo đảm bị đình chỉ tạm thời chưa thanh toán. Các Quản trị viên tổ
chức hội nghị chủ nợ để xây dựng dự thảo kế hoạch tổ chức lại doanh nghiệp. Về
nguyên tắc, hội nghị chủ nợ được tiến hành ba lần, cuộc họp đầu tiên được triệu tập
trong vòng hai tháng kể từ ngày tòa án mở thủ tục tổ chức lại. Sau cuộc họp này,
Quản trị viên chịu trách nhiệm soạn thảo kế hoạch tổ chức lại và trình bày ra tòa án
trong một thời hạn được xác định bởi tòa án. Việc xây dựng kế hoạch tái thiết lại
công ty được thực hiện trong vòng một năm kể từ ngày tòa án mở thủ tục tổ chức lại
công ty và có thể gia hạn thêm một năm. Kết thúc thời hạn này mà Quản trị viên
chưa đệ trình bản dự thảo kế hoạch thì tòa án ra lệnh hủy thủ tục tổ chức lại và
chuyển sang thủ tục phá sản. Quản trị viên trình bày kế hoạch tổ chức lại để tòa án
xem xét và báo cáo các bên liên quan về sự phát triển liên quan đến quả trình tổ
chức lại và kế hoạch tổ chức lại.
- Quản trị viên sẽ cùng với chủ nợ và con nợ kiểm tra tính xác thực của các
khoản nợ vào một ngày đã được ấn định trong tuyên bố phá sản. Cuối cùng, Quản
trị viên lập một danh sách thanh toán các khoản nợ (thứ tự ưu tiên thanh toán), số
tiền được thanh toán và gửi tới các chủ nợ. Đồng thời Quản trị viên thực hiện việc
thanh lý tài sản bằng việc quyết định phương thức bán tài sản của doanh nghiệp
theo phương thức thông thường hoặc đấu giá. Trong quá trình bán tài sản của doanh
nghiệp, Quản trị viên được phép bán tài sản thế chấp và trả nợ cho chủ nợ được bảo
đảm bằng tài sản đó. Toàn bộ tài sản được chuyển đổi thành tiền mặt và gửi vào tài
khoản ngân hàng.
- Tòa án quyết định ngày ấn định kiểm tra các khoản nợ trong quá trình phá
sản. Nhân viên quản lý tài sản phải kiểm tra chứng cứ các khoản nợ. Vào ngày ấn
định kiểm tra các khoản nợ các chủ thể liên quan bao gồm: người quản lý tài sản,

11


chủ nợ, đại diện công ty phá sản sẽ cùng thực hiện kiểm tra các khoản nợ. Quản trị
viên trả nợ cho các chủ nợ từ số tiền mặt của công ty theo thứ tự đã được thông báo
tại danh sách. Các khoản nợ được ưu tiên thanh toán đó là: chi phí bảo quản, thanh
lý, phân phối tài sản; tiền lương của công nhân.
Luật Phá sản của Nhật Bàn còn quy định về việc bù trừ. Theo đó chủ nợ có
một khoản nợ phá sản mà lại là người mắc nợ của công ty phá sản vào cùng thời
điểm tuyên bố phá sản có thể thanh toán khoản nợ của mình bằng tài sản phá sản.
Tuy nhiên, một số trường hợp cụ thể sẽ không được thanh toán bù trừ đó là các
trường hợp: khoản nợ được hình thành sau khi tuyên bố phá sản, quyền đòi nợ được
mua, tậu sau khi tuyên bố phá sản. Người quản lý tài sản sẽ thực hiện công việc
thanh toán các khoản nợ và chấm dứt thủ tục phá sản. Sau ngày kiểm tra các khoản
nợ đầu tiên, người quản lý tài sản có trách nhiệm phân chia các tài sản tiền mặt của
công ty bị phá sản. Sau khi thanh lý hoàn toàn, người quản lý tài sản tiến hành phân
chia tài sản của công ty bị phá sản lần cuối với sự phê chuẩn của tòa án. Sau đó, tòa
án triệu tập một cuộc họp toàn thể các chủ nợ để nhân viên quản lý tài sản trình bày
về mặt tài chính. Khi giá trị của khối tài sản phá sản không đủ để trả các chi phí phá
sản thì tòa án tuyên bố chấm dứt thủ tục phá sản. Khi yêu cầu tuyên bố phá sản, tòa
án đánh giá rằng tổng tài sản phá sản sẽ không đủ chi phí thì tòa án có trách nhiệm
tuyên bố chấm dứt phá sản ngay khi quyết định tuyên bố phá sản3.
1.1.3.2. Mô hình của Cộng hòa Liên bang Đức
Trong hệ thống pháp luật phá sản Đức, tồn tại hai loại chủ thể có thẩm
quyền quản lý tài sản phá sản trong các giai đoạn khác nhau. Người quản lý tài sản
tạm thời thực hiện quản lý tài sản từ khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đến
khi tòa án ra quyết định về đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Người quản lý tài sản
phá sản là người thực hiện quản lý tài sản từ khi mở thủ tục phá sản. Theo quy định
của pháp luật Đức, người quản lý tài sản tạm thời không có yêu cầu cụ thể gì. Trái
lại, với người quản lý tài sản phá sản, yêu cầu phải thông thạo kinh doanh, không

3
Trần Danh Phú (2017), Sự tham gia của Quản tài viên trong quá trình giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp
tác xã theo quy định của Luật Phá sản năm 2014, luận văn thạc sĩ luật học trường Đại học Luật Hà Nội.

12


phụ thuộc vào các chủ nợ và con nợ. Người quản lý tài sản phá sản được nhận một
văn bẳng bổ nhiệm và chịu sự giám sát của Tòa án phá sản.
Sau khi mở thủ tục phá sản sẽ có một phiên họp báo cáo. Tại phiên báo cáo
này, Quản tài viên sẽ có trách nhiệm báo cáo tình hình tài chính của cọ nợ. Quản tài
viên sẽ nêu khả năng xây dựng được một kế hoạch phục hồi và sự ảnh hưởng của
từng biện pháp đối với các chủ nợ.
Trong phiên họp đầu tiên của Hội nghị chủ nợ, dựa trên một số báo cáo của
Quản tài viên, Hội nghị chủ nợ sẽ quyết định về tiến trình của thủ tục phá sản, phiên
họp này được gọi là “phiên báo cáo”.
Con nợ và Quản tài viên có quyền xây dựng một kế hoạch phục hồi. Khi
Hội nghị chủ nợ ủy nhiệm cho Quản tài viên soạn thảo một kế hoạch phục hồi và ấn
định trước mục tiêu cho nó thì Quản tài viên phải soạn thảo và có trách nhiệm trình
lên tòa án trong một thời gian hợp lý. Trong trường hợp con nợ đệ trình kế hoạch
phục hồi và được tòa án chấp nhận thì Quản tài viên phải trình bày ý kiến của mình.
Khi chấm dứt thủ tục phá sản thì Quản tài viên sẽ kết thúc chức năng. Tuy
nhiên, Quản tài viên cùng với các thành viên Ủy ban chủ nợ và tòa án vẫn có chức
năng giám sát. Quản tài viên cũng sẽ cùng Ủy ban chủ nợ và tòa án giám sát việc
thực hiện kế hoạch phục hồi.
Sau khi Hội nghị chủ nợ quyết định tiến hành thủ tục thanh lý tài sản, Quản
tài viên phải kịp thời tiến hành thanh lý tài sản thuộc tài sản phá sản. Trong quá
trình thanh lý, Quản tài viên thực hiện một số giao dịch đặc biệt quan trọng thì phải
được sự đồng ý của Ủy ban chủ nợ hoặc Hội nghị chủ nợ. Đối với các giao dịch đặc
biệt quan trọng này, Quản tài viên phải thông báo cho con nợ trước khi xin ý kiến
của Ủy ban chủ nợ hoặc Hội nghị chủ nợ.
Sau khi các chủ nợ nộp đơn yêu cầu của mình bằng văn bản kèm theo bản
sao các tài liệu chứng minh cho yêu cầu đó đến Quản tài viên thì Quản tài viên sẽ
tổng hợp các đơn yêu cầu này, lập thành một danh sách và danh sách này sẽ được
nộp cho tòa án.

13


Quản tài viên sẽ đề nghị Ủy ban chủ nợ quyết định phần nợ được thanh toán
trong đợt thanh toán từng phần trên cơ sở đề nghị của Quản tài viên. Nếu không có
Ủy ban chủ nợ thì Quản tài viên sẽ quyết định việc này. Sau khi thanh toán nợ mà
vẫn còn tiền thì Quản tài viên sẽ có trách nhiệm trả lại cho con nợ.
1.1.3.3. Mô hình của Cộng hòa Liên bang Nga
Luật Phá sản của Liên bang Nga quy định về thủ tục tổ chức lại và thủ tục
thanh lý tài sản trong thủ tục phá sản tương ứng với đó có sự tham gia của Trọng tài
viên quản lý tài sản và Nhân viên thanh lý tài sản.
Trọng tài viên quản lý tài sản hay được gọi là Quản tài viên là người được
tòa án trọng tài bổ nhiệm có chức năng quản lý tài sản của người mắc nợ. Trọng tài
viên quản lý tài sản là kinh tế gia hoặc luật gia hoặc có kinh nghiệm công tác kinh tế
và không có tiền án. Không phải là cán bộ quản lý của doanh nghiệp mắc nợ hoặc
chủ nợ.
Sau khi có quyết định tiến hành thủ tục tổ chức lại, tòa án sẽ tiến hành bổ
nhiệm một trọng tài viên quản lý tài sản để quản lý tài sản của doanh nghiệp mắc
nợ. Người mắc nợ và các chủ nợ có quyền đề xuất các ứng cử viên chức Quản tài
viên của mình. Nếu có nhiều ứng cử viên thì Quản tài viên được bổ nhiệm trên cơ
sở cạnh tranh.
Trong trường hợp áp dụng thủ tục tổ chức lại doanh nghiệp từ sau khi chủ
nợ, người mắc nợ và chủ sở hữu người mắc nợ nộp đơn yêu cầu quản lý tài sản của
người mắc nợ đến tòa án trọng tài. Tòa án trọng tài sau khi xem xét đủ điều kiện sẽ
đồng ý tiến hành thủ tục quản lý tài sản của người mắc nợ. Thời hạn áp dụng tối đa
không quá 18 tháng.
Sau khi đồng ý tiến hành thủ tục quản lý tài sản của người mắc nợ, tòa án
trọng tài sẽ bổ nhiệm Quản tài viên và người này sẽ được trả thù lao. Quản tài viên
có quyền quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp, có trách nhiệm quản lý doanh nghiệp.
Tùy tình hình cụ thể, Quản tài viên có quyền quyết định đề nghị tòa trọng tài quyết
định đối với doanh nghiệp. Chấm dứt quản lý tài sản và tuyên bố doanh nghiệp bị
phá sản; tiếp tục thực hiện quản lý doanh nghiệp; tuyên bố doanh nghiệp thoát khỏi

14


tình trạng trên và chấm dứt quản lý tài sản của doanh nghiệp. Còn đối với thủ tục
thanh lý tài sản, tòa án trọng tài sẽ thực hiện việc bổ nhiệm nhân viên thanh lý tài
sản để thực hiện việc thanh lý tài sản của doanh nghiệp phá sản4.
1.1.3.4. Mô hình của Trung Quốc
Luật Phá sản doanh nghiệp Trung Quốc quy định về chủ thể quản lý, thanh
lý tài sản phá sản được gọi là Quản trị viên. Sau khi tòa án quyết định chấp nhận
đơn xin phá sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì một Quản trị viên
phá sản được bổ nhiệm, người được bổ nhiệm làm Quản trị viên phá sản có thể là
luật sư hoặc chuyên gia kinh tế để quản lý tài sản và điều hành hoạt động của doanh
nghiệp.
Theo Luật Phá sản của Trung Quốc thì Quản trị viên thực hiện hoạt động
trong thủ tục phá sản như: tiếp quản tài sản, con dấu, sổ sách, tài liệu và các dữ liệu
khác của doanh nghiệp mắc nợ; điều tra tình hình tài chính của con nợ và chuẩn bị
báo cáo về vấn đề tài chính của con nợ; trước khi cuộc họp chủ nợ đầu tiên được
diễn ra, Quản trị viên sẽ quyết định tiếp tục hay đình chỉ hoạt động của doanh
nghiệp mắc nợ; quản lý, xử lý tài sản của con nợ; tham gia vào các hoạt động pháp
lý, thủ tục trọng tài hay bất cứ thủ tục pháp lý nào khác thay mặt cho chủ nợ; đề
nghị tổ chức cuộc họp chủ nợ và thực hiện các nhiệm vụ khác mà tòa án nhân dân
thấy nên thực hiện.
Căn cứ vào yêu cầu của đơn xin phá sản, tòa án sẽ xem xét và ra quyết định
mở một trong các thủ tục: tổ chức lại hoặc thanh lý tài sản. Trong mỗi thủ tục thì
Quản trị viên có những nhiệm vụ và quyền hạn nhất định:
- Quản trị viên sẽ cùng với doanh nghiệp mắc nợ xây dựng dự thảo kế
hoạch tổ chức lại và trình lên tòa án trong vòng sáu tháng đến chính tháng kể từ
ngày tòa án quyết định mở thủ tục tổ chức lại;
- Sau khi kế hoạch tổ chức lại được thông qua, Quản trị viên gửi kế hoạch
tổ chức lại tới tòa án để phê duyệt.

4
Trần Danh Phú (2017), Sự tham gia của Quản tài viên trong quá trình giải quyết phá sản doanh nghiệp,
hợp tác xã theo quy định của Luật Phá sản năm 2014, luận văn thạc sĩ luật học trường Đại học Luật Hà Nội.

15


- Kế hoạch tổ chức lại sau khi được sự công nhận của tòa án thì doanh
nghiệp phải thực hiện theo đúng nội dung và tiến độ. Quản trị viên có nhiệm vụ
giám sát doanh nghiệp thực hiện kế hoạch này.
- Nếu doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng kế hoạch
tổ chức lại thì Quản trị viên có quyền yêu cầu tòa án ra quyết định chấm dứt thủ tục
tổ chức lại và tuyên bố doanh nghiệp phá sản.
Trong trường hợp tòa án tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản thì một Quản trị
viên sẽ được bổ nhiệm để quản lý tài sản và có trách nhiệm lập kế hoạch chuyển đổi
tài sản và thảo luận tại cuộc họp chủ nợ.
Trên cơ sở tổng số tiền thu được thông qua việc bán đấu giá tài sản, Quản
trị viên sẽ xây dựng dự thảo kế hoạch phân phối tài sản. Nếu tài sản không đủ trả
toàn bộ nợ, nó sẽ được phân phối theo tỉ lệ đảm bảo công bằng cho chủ nợ trong
từng nhóm.
Nếu bản kế hoạch phân phối tài sản được các chủ nợ thông qua thì Quản trị
viên sẽ gửi bản kế hoạch tới tòa án. Quyết định công nhận của tòa án là cơ sở để
Quản trị viên thực hiện kế hoạch phân phối.

1.2. Tổng quan pháp luật điều chỉnh chế độ pháp lý Quản tài viên ở Việt
Nam
1.2.1. Cơ sở và các yếu tố tác động đến việc xây dựng chế độ pháp lý về
Quản tài viên
Khi doanh nghiệp đang bên bờ vực phá sản, một phần chứng tỏ khả năng
kinh doanh của chủ doanh nghiệp không thể đáp ứng yêu cầu. Thêm vào đó, để
tránh tình trạng chủ doanh nghiệp có hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản, gây ảnh
hưởng đến quyền và lợi ích của những chủ thể liên quan, pháp luật các nước đều
quy định cho một chủ thể đặc biệt đóng vai trò quản lí tài sản của doanh nghiệp phá
sản. Chẳng hạn, theo Luật phá sản của Hoa Kỳ hay pháp luật của Canada quyền
quản lý tài sản phá sản được trao cho tín thác viên (Trustee); theo Luật phá sản của
Nhật Bản, quản trị viên (Kanxainin) được giao thực hiện nhiệm vụ quản lí tài sản
của doanh nghiệp phá sản trong cả thủ tục thanh lí và thủ tục tổ chức lại; theo pháp

16


luật của Đức, thẩm quyền này được trao cho người quản lí phá sản
(Insolvenzverwater)… Dù được quy định với những tên gọi khác nhau nhưng pháp
luật các nước đều quy định việc giám sát, quản lí tài sản phá sản được giao cho cá
nhân hoặc tổ chức mang tính độc lập và có trình độ chuyên môn nhất định.
Tuy nhiên, Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 hay Luật phá sản năm
2004 của Việt Nam khi quy định về chủ thể quản lí, thanh lí tài sản phá sản đều
chưa đáp ứng những đòi hỏi cần thiết này. Cụ thể, Luật phá sản doanh nghiệp năm
1993 phân tách chức năng quản lí, thanh lí tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã cho
tổ quản lí tài sản và tổ thanh lí tài sản; đến Luật phá sản năm 2004, nhiệm vụ này
được giao cho tổ quản lí, thanh lí tài sản. Theo Luật phá sản năm 2004, tổ quản lí,
thanh lí tài sản bao gồm một chấp hành viên, một cán bộ tòa án, đại diện chủ nợ, đại
diện doanh nghiệp con nợ trong trường hợp cần thiết có thể có đại diện công đoàn,
đại diện người lao động, đại diện các cơ quan chuyên môn tham gia. Có thể thấy,
mục đích của các nhà làm luật Việt Nam khi quy định về tổ quản lí, thanh lí tài sản
là vừa nhằm đảm bảo tính chuyên nghiệp, tính quyền lực nhà nước (có sự tham gia
của chấp hành viên cơ quan thi hành án với vai trò là tổ trưởng - vừa đảm bảo tính
chuyên môn và tính dân chủ rộng rãi (có sự tham gia của đông đảo các thành phần
thuộc các cơ quan chuyên môn cũng như đại diện công đoàn, người lao động và chủ
nợ). Tuy nhiên, những quy định này bộc lộ nhiều điểm không hợp lí, bắt nguồn từ
một số lí do sau:
Một là, thành phần của tổ quản lí, thanh lí tài sản rất đa dạng nhưng đều
kiêm nhiệm, không thể đảm bảo toàn tâm toàn ý cho công việc; thêm vào đó, cơ chế
phối hợp giữa các thành viên cũng không cụ thể. Ngoài ra, đa số thành phần của tổ
quản lí, thanh lí tài sản không đủ trình độ chuyên môn cũng như kinh nghiệm thực
tế trong vấn đề quản lí, thanh lí tài sản phá sản.
Hai là, thực tế đã chứng minh hiệu quả hoạt động của tổ quản lí, thanh lí tài
sản không cao. Cụ thể, theo báo cáo xếp hạng môi trường kinh doanh năm 2008 do
Tập đoàn tài chính quốc tế (IFC) và Ngân hàng thế giới công bố, Việt Nam xếp thứ
91. Trong đó ở chỉ tiêu thứ 10 chỉ được xếp hạng 121/178, báo cáo cho rằng việc

17


giải quyết các doanh nghiệp phá sản ở Việt Nam còn kém hiệu quả, thủ tục phải mất
5 năm, tốn kém đến 15% giá trị tài sản của doanh nghiệp; đối với các bên liên quan
chỉ thu hồi được 18% giá trị tài sản5.
Ba là, quy định về tổ quản lí, thanh lí tài sản theo Luật Phá sản năm 2004
không phù hợp với thông lệ quốc tế. Hiện nay, nhiều nước quy định việc quản lí,
thanh lí tài sản do một cá nhân thực hiện như: Nhật Bản, Đức, Nga, Pháp, Mỹ,
Latvia…; đồng thời, khuyến nghị số 45 của Ủy ban luật thương mại quốc tế của
Liên hợp quốc (UNCITRAL) cũng đưa ra khuyến nghị về chế định quản tài viên6.
Do đó, để khắc phục những hạn chế của tổ quản lí, thanh lí tài sản cũng như
để phù hợp với quy định pháp luật quốc tế, Luật Phá sản năm 2014 đã thay chế định
tổ quản lí, thanh lí tài sản bằng cá nhân duy nhất gọi là quản tài viên hoặc doanh
nghiệp quản lí, thanh lí tài sản.

1.2.2. Khái niệm chế độ pháp lý về Quản tài viên
Thuật ngữ “chế độ pháp lý về quản tài viên” là một thuật ngữ được sử dụng
tương đối phổ biến trong pháp luật phá sản. Tuy nhiên, hiện tại chưa có công trình
nghiên cứu nào đưa ra định nghĩa cụ thể về chế định này.
Xét về mặt ngữ nghĩa có thể thấy khái niệm “chế độ pháp lý về quản tài
viên” được cấu thành bởi hai thành tố là “chế độ pháp lý” và “quản tài viên”. Trong
đó, khái niệm “quản tài viên” đã Điều 7 Luật Phá sản năm 2014 định nghĩa cụ thể là
“cá nhân hành nghề quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả
năng thanh toán trong quá trình giải quyết phá sản”. Các chủ thể này tham gia với tư
cách là một bên trong quan hệ pháp luật phá sản, giữ vai trò trung gian giải quyết
các vấn đề về quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp phá sản giữa chủ nợ với
con nợ và với tòa án. Còn khái niệm “chế độ pháp lý” có thể hiểu là hệ thống các
quy định của pháp luật quy định về vấn đề phát sinh, nguyên tắc tổ chức, hoạt động,
quyền, nghĩa vụ của một chủ thể hoặc trình tự phát sinh, thay đổi, chấm dứt của một
quyền, nghĩa vụ nhất định…
5

http://vneconomy.vn/giao-thuong/moi-truong-kinh-doanh-viet-nam-nhin-tu-10-tieu-chi-66058.htm, truy cập
ngày 1/8/2018/
6
Phạm Thị Huyền (2016), Vấn đề bất cập về quản tài viên theo pháp luật hiện hành, tạp chí Luật học, tr.23

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×