Tải bản đầy đủ

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại theo pháp luật việt nam hiện hành

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG
TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

TRỊNH HOÀNG MIÊN

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ


TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG
TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

TRỊNH HOÀNG MIÊN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS BÙI NGUYÊN KHÁNH

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung
thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài
chính theo quy định của Đại học ...
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 12 tháng 10 năm 2018
NGƯỜI CAM ĐOAN

Trịnh Hoàng Miên


LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập, nghiên cứu. Để hoàn thành luận văn này tôi xin bày
tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới:
- Thầy giáo hướng dẫn PGS. TS Bùi Nguyên Khánh, Học viện khoa học xã
hội - người đã định hướng về mặt khoa học, luôn chỉ dẫn và tận tình giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
- Các thầy, cô giáo khoa đào tạo sau đại học - Viện Đại học mở Hà Nội đã
giúp đỡ và cung cấp cho tôi những kiến thức trong thời gian học tập tại trường và
tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài luận
văn thạc sỹ này.
- Lãnh đạo đơn vị và các cán bộ trong đơn vị đã luôn quan tâm, động viên
và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu.


- Bên cạnh đó sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè và người thân đã luôn ủng hộ
và tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể tập trung nghiên cứu và hoàn thành đề tài này.
Lần đầu tiên thực hiện một công trình nghiên cứu ở cấp độ luận văn tốt
nghiệp sau đại học, tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận
được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô để luận văn của tôi được hoàn thiện.
Một lần nữa xin gửi đến thầy cô, bạn bè cùng gia đình lời cảm ơn chân thành
và tốt đẹp nhất!
Hà Nội, ngày 12 tháng 10 năm 2018
TÁC GIẢ

Trịnh Hoàng Miên


MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI .......................... 8
1.1. Khái quát về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động
thương mại .......................................................................................................... 8
1.1.1. Hợp đồng trong hoạt động thương mại và trách nhiệm do vi phạm
hợp đồng trong hoạt động thương mại ............................................................. 8
1.1.2. Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại ...... 19
1.1.3. Chức năng của chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
trong hoạt động thương mại ........................................................................... 24
1.2. Khái quát pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong
hoạt động thương mại ........................................................................................ 25
1.2.1. Nguồn pháp luật điều chỉnh.................................................................. 25
1.2.2. Hệ thống các văn bản pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng trong hoạt động thương mại ........................................................... 29
1.2.3. Nội dung cơ bản của pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng trong hoạt động thương mại ........................................................... 32
Kết luận Chương 1............................................................................................. 33
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP
LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG
HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .................................. 35
2.1. Thực trạng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng trong hoạt động thương mại ở Việt Nam hiện nay ..................................... 35
2.1.1. Căn cứ áp dụng .................................................................................... 35


2.1.2. Giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong
hoạt động thương mại .................................................................................... 46
2.1.3. Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong
hoạt động thương mại .................................................................................... 48
2.1.4. Áp dụng phối hợp chế tài bồi thường thiệt hại với các hình thức chế tài khác ..... 53
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại ở Việt Nam hiện nay .................... 55
Kết luận Chương 2............................................................................................. 59
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI
THƯỜNG THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG
THƯƠNG MẠI ..................................................................................................... 61
3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng trong hoạt động thương mại ............................................................... 61
3.1.1. Phù hợp với đương lối xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường ở
Việt Nam ....................................................................................................... 61
3.1.2. Đảm bảo sự thống nhất của các văn bản pháp luật ................................ 62
3.1.3. Đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam...................... 62
3.2. Giải pháp hoàn thiện quy định về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng trong hoạt động thương mại ...................................................................... 63
3.2.1. Hoàn thiện các quy định về thiệt hại thực tế ......................................... 63
3.2.2. Hoàn thiện các quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại .................................................. 64
3.2.3. Hoàn thiện quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ....... 65
3.2.4. Hoàn thiện quy định áp dụng phối hợp chế tài bồi thường thiệt hại và
chế tài phạt vi phạm ....................................................................................... 65
Kết luận Chương 3............................................................................................. 66
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 70


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Vấn đề “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” luôn được Đảng và
Nhà nước ta quan tâm. Ngay từ Đại hội VI, Đảng và Nhà nước đã chú trọng nghiên
cứu đổi mới nhận thức, lý luận, có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp xây
dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, luôn coi
đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp đổi mới phát triển đất nước.
Cho đến Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng đưa ra khái niệm “kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa” và Đại hội X của Đảng xác định tiếp tục hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ quan
trọng và cấp bách để: “phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công
cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”. Sau gần 30 năm
đổi mới, thực hiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
qua các kỳ Đại hội Đảng, nhận thức về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam từng bước được đổi mới, nâng cao; các nền tảng cơ bản
của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được hình thành và từng
bước phát triển. Đại hội lần thứ XII của Đảng đã khẳng định tiếp tục hoàn thiện thể
chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo tiền đề vững chắc cho việc
xây dựng thành công và vận hành đồng bộ, thông suốt nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa; góp phần huy động và phân bổ, sử dụng có hiệu quả nhất
mọi nguồn lực để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhanh và bền vững vì mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Để nền kinh tế thị trường có thể vận hành một cách có hiệu quả, hoạt động
thương mại diễn ra một cách có trật tự, Nhà nước cần phải thiết kế và xây dựng hệ
thống các văn bản pháp luật hoàn chỉnh và một cơ chế đảm bảo việc thi hành chúng
một cách có hiệu quả. Một bộ phận quan trọng của cơ chế pháp lý đó chính là hệ
thống các văn bản điều chỉnh hoạt động kinh doanh, thương mại, trong đó có Luật
thương mại. Trong luật thương mại, chế tài trong thương mại là một chế định có ý
1


nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
trong quan hệ thương mại cũng như sự nghiêm minh của pháp luật và đảm bảo trật
tự vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong hệ thống pháp luật về chế tài thương mại, bồi thường thiệt hại là một
hình thức chế tài đã có từ lâu và được áp dụng một cách phổ biến và thường xuyên
nhất. Qua những lần sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động
thương mại cho đến nay, chế tài bồi thường thiệt hại cũng được bổ sung và hoàn
thiện hơn, đã góp phần đảm bảo cho hợp đồng trong hoạt động thương mại được
thực hiện một cách nghiêm chỉnh, bảo vệ lợi ích hợp pháp của các bên trước hành vi
vi phạm. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng các quan hệ
thương mại, đặc biệt là các quan hệ thương mại quốc tế ngày càng đa dạng và phức
tạp, thì các quy định hiện hành về chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
trong hoạt động thương mại vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của
thực tiễn kinh doanh. Có những vấn đề mà pháp luật thương mại không quy định cụ
thể, rõ ràng như: việc xác định thế nào là tổn thất thực tế và trực tiếp chưa được quy
định gây nhiều khó khăn trong việc xác định các khoản thiệt hại được bồi thường;
các quy định về miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong
hoạt động thương mại chưa rõ ràng đối với trường hợp người thứ ba có quan hệ với
một bên trong hợp đồng gặp bất khả kháng dẫn đến bên đó vi phạm hợp đồng thì có
được miễn trách nhiệm bồi thường hay không? Những hạn chế, bất cập của pháp
luật hiện hành về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương
mại đã gây nhiều khó khăn cho việc áp dụng và thực thi pháp luật. Việc khắc phục
những bất cập nhằm hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng trong hoạt động thương mại hướng tới đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
các bên trong quan hệ thương mại cũng như duy trì trật tự kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Chính vì những lý do trên, tác giả lựa chọn việc nghiên cứu “Trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại theo pháp
luật Việt Nam hiện hành”.
2


2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Chế tài do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại trong đó có bồi
thường thiệt hại là một chế định đã có từ lâu trong hệ thống pháp luật nước ta. Do
đó, chủ đề nghiên cứu này thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học ở những cấp
độ khác nhau, đáng chú ý trong số đó là các công trình:
- “Thỏa thuận hạn chế hay miễn trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng” của
TS.Dương Anh Sơn trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 3 năm 2005.
- “Về việc áp dụng chế tài phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại vào thực
tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng trong hoạt động thương mại” của tác giả
Nguyễn Thị Hằng Nga (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9 năm 2006).
- “Bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo quy
định của công ước Viên 1980 - So sánh với pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ
luật học của Trần Thùy Linh, Trường Đại học luật Hà Nội, năm 2009.
- “Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại - Những vấn đề lí luận và thực
tiễn”, Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Hoàng Thị Hà Phương, Trường Đại học
Luật Hà Nội, năm 2011.
- “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động
thương mại” Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền, Trường
Đại học Luật Hà Nội, năm 2013.
Các công trình nói trên đã đề cập đến vấn đề bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng trong hoạt động thương mại ở những mức độ và phạm vi khác nhau, vào
những khoảng thời gian nhất định. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này chủ
yếu đề cập một cách khái quát về tất cả các hình thức trách nhiệm hợp đồng nói
chung dưới góc độ lý luận hoặc nghiên cứu chuyên sâu về hình thức bồi thường
thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại nhưng lại trong bối cảnh Bộ luật dân sự
năm 2015 chưa ra đời. Tuy nhiên, từ khi Bộ luật dân sự năm 2015 ra đời và có hiệu
lực thì việc nghiên cứu chuyên sâu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm

3


hợp đồng trong hoạt động thương mại và sự tương thích của Luật thương mại năm
2005 với Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến nay vẫn không có công trình nào đề cập.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý
luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động
thương mại; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật
về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương
mại ở Việt Nam; và để từ đó đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp
luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động
thương mại ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại ở Việt Nam;
- Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại ở Việt Nam;
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại ở Việt Nam
hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về bồi
thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại, đánh giá thực
4


trạng pháp luật để thấy được vị trí, vai trò và mối quan hệ của hình thức chế tài này
với các hình thức chế tài thương mại khác.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ nghiên cứu, tìm hiểu các quy định về chế tài bồi thường thiệt
hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại của Luật thương mại năm
2005, ngoài ra có sự đối chiếu với các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, Luật
thương mại năm 1997, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 và các quy định trong
hệ thống pháp luật thương mại quốc tế mà đại diện là Công ước viên 1980 về mua
bán hàng hóa quốc tế và Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc
tế nhằm đưa ra sự so sánh với pháp luật Việt Nam.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn dựa trên phương pháp luận chung nhất của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử và quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước, pháp luật, kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa; Các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về đổi mới toàn diện đất
nước, nhất là các quan điểm, chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp.
Ngoài ra, luận văn còn dựa trên cơ sở lý luận của khoa học Luật thương mại,
những nghiên cứu có liên quan đến chế tài bồi thường thiệt hại trong thương mại.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Cùng với việc sử dụng phương pháp luận chung nhất của phép biện chứng
duy vật, đề tài được thực hiện bằng việc sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên
cứu chuyên ngành luật như phương pháp mô tả, phân tích, so sánh, tổng hợp, chứng
minh, thống kê, lịch sử...
Phương pháp phân tích, so sánh được sử dụng chủ yếu để đánh giá, nhận xét
về các quy định pháp luật hiện hành về chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng trong hoạt động thương mại trong tương quan so sánh với các quy định trước
5


đây cũng như pháp luật quốc tế. Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng phương pháp thống
kê, phương pháp lịch sử để đánh giá sự phát triển và những hạn chế cần khắc phục
của pháp luật hiện hành.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần cung cấp một cách có hệ
thống mang tính lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
trong hoạt động thương mại; giúp người đọc nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn về
chế tài do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại, đặc biệt là vấn đề trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn cũng nêu lên những thực trạng, tồn tại và thách thức trong việc áp
dụng và thực thi các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại. Từ đó nêu ra
một số kiến nghị, giải pháp cơ bản khắc phục những bất cập nhằm hoàn thiện pháp
luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại đồng
thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ thương mại.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,
giảng dạy của các cơ sở đào tạo nghiên cứu khoa học pháp lý, nhất là đối với
chuyên ngành Luật kinh tế. Là tài liệu tham khảo cho các cơ quan pháp luật để bảo
đảm việc áp dụng và thực thi đúng quy định của pháp luật trong tình hình mới theo
yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng trong hoạt động thương mại.
6


Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại ở Việt
Nam hiện nay.
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt
hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại ở Việt Nam trong thời gian tới.

7


Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG
TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động
thương mại
1.1.1. Hợp đồng trong hoạt động thương mại và trách nhiệm do vi phạm hợp
đồng trong hoạt động thương mại
1.1.1.1. Hợp đồng trong hoạt động thương mại
Để tồn tại và phát triển, cá nhân hay tổ chức đều phải tham gia vào nhiều
mối quan hệ xã hội khác nhau, trong đó có việc các bên thiết lập với nhau những
quan hệ để chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhất định nhằm đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng. Song việc chuyển giao các lợi ích vật chất này không phải tự nhiên
thiết lập mà chỉ được hình thành khi có hành vi có ý chí của chủ thể, nói như C.Mác
thì: “Tự thân chúng, hàng hóa không thể đi đến thị trường và trao đổi với nhau
được. Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau, thì những người giữ chúng phải
đối xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong các vật đó” [30, tr.577]. Theo
đó, khi quan hệ trao đổi lợi ích vật chất được hình thành trên cơ sở thống nhất ý chí
giữa các bên thì được gọi là hợp đồng. Hợp đồng theo nghĩa chung nhất được hiểu
là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và
nghĩa vụ trong quan hệ cụ thể.
Pháp luật về hợp đồng nói chung và hợp đồng trong hoạt động thương mại
nói riêng luôn là nội dung quan trọng trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia và
hợp đồng thương mại là công cụ pháp lý chủ yếu để các thương nhận thực hiện hoạt
động kinh doanh thu lợi nhuận của mình. Tuy nhiên, với những truyền thống pháp
luật khác nhau, trình độ phát triển kinh tế xã hội và tập quán kinh doanh không

8


đồng nhất mà quan niệm về hợp đồng thương mại còn có sự khác nhau giữa các
quốc gia.
Các nước theo truyền thống pháp luật thông luật (Common Law) điển hình là
Anh, Mỹ, Úc… Những nước này không phận biệt giữa pháp luật dân sự và pháp
luật thương mại cũng như không có sự phân biệt giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng
thương mại. Do đó, pháp luật của những nước này cũng hoàn toàn không phân biệt
các khái niệm hợp đồng, hợp đồng thương mại, hợp đồng dân sự. Các quy định của
pháp luật về hợp đồng được áp dụng thống nhất trong mọi lĩnh vực của đời sống
con người, từ lĩnh vực dân sự thuần túy đến lao động hay kinh doanh thu lợi nhuận.
Ở các nước theo truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa (Civil law) như
Pháp, Đức, Bỉ, một số nước thuộc Châu Mỹ - La Tinh, Châu Á có Nhật Bản, Thái
Lan v.v… sớm có sự phân biệt hành vi thương mại và hành vi dân sự. Tuy nhiên
các nước chịu ảnh hưởng của truyền thống pháp luật này cũng chỉ coi hành vi
thương mại là một dạng đặc biệt của hành vi dân sự. Trong pháp luật của các nước
này không tồn tại khái niệm về hợp đồng thương mại với nội hàm riêng của nó.
“Mọi hợp đồng dù được xác lập giữa các thương nhân với mục đích kinh doanh thu
lợi nhuận hay giữa các công dân với mục đích sinh hoạt, tiêu dùng đều được gọi
chung là hợp đồng. Những hợp đồng nào xác lập từ các hành vi thương mại sẽ chịu
sự điều chỉnh của Bộ luật thương mại hoặc Luật thương mại; đối với những vấn đề
không quy định trong Bộ luật thương mại hay Luật thương mại thì áp dụng những
quy định chung trong Bộ luật dân sự” [4, tr.4].
Ở Việt Nam, khoa học pháp lý và pháp luật thực định đã sử dụng nhiều khái
niệm pháp lý để chỉ hợp đồng trong hoạt động thương mại như: hợp đồng kinh
doanh, hợp đồng kinh tế, hợp đồng thương mại…Pháp luật hiện hành không đưa
ra định nghĩa về hợp đồng trong hoạt động thương mại mà chỉ quy định khái niệm
chung về hợp đồng. Bộ luật dân sự năm 2015 định nghĩa: “Hợp đồng là sự thỏa
thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
sự” (Điều 385). Với phạm vi áp dụng của Bộ luật dân sự 2015 đã mở rộng phạm

9


vi hơn so với quy định của Bộ luật dân sự năm 2005. Nếu như Bộ luật dân sự 2005
quy định “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay
đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự” (Điều 388) thì các quy định về hợp
đồng nói chung trong Bộ luật dân sự năm 2015 được áp dụng cho tất cả các loại
hợp đồng (trong các lĩnh vực dân sự, lao động, thương mại…). Như vậy, hợp đồng
trong hoạt động thương mại là một dạng của hợp đồng. Tuy nhiên, hoạt động
thương mại có những đòi hỏi đặc thù, đó là tính nhanh chóng, linh hoạt, đơn giản,
đảm bảo tối đa quyền tự do kinh doanh của các chủ thể mà hợp đồng trong hoạt
động thương mại cũng phải có những điểm khác biệt so với những hợp đồng thông
thường theo cách hiểu truyền thống. Có thể xem xét hợp đồng trong hoạt động
thương mại trong mối liên hệ với hợp đồng theo nguyên lý của mối quan hệ giữa
cái chung và cái riêng. Trong đó, hợp đồng là cái chung còn hợp đồng trong hoạt
động thương mại là cái riêng. Trên quan điểm như vậy, các qui định về hợp đồng
được quy định trong Bộ luật dân sự là pháp luật có tính chất cơ bản, chung nhất, là
nền tảng, còn pháp luật về hợp đồng trong hoạt động thương mại là bộ phận pháp
luật có tính chất chuyên ngành, là sự quy định cụ thể các nguyên tắc của việc kí
kết và thực hiện hợp đồng trong một lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực hoạt động kinh
doanh của các thương nhân [18, tr.21].
Trước đây, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 đã đưa ra khái niệm hợp
đồng kinh tế: “là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên kí kết
về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu, ứng
dụng nghiên cứu khoa học - kĩ thuật và các thỏa thuận khác có mục đích kinh doanh
với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế
hoạch của mình” (Điều 1). Theo đó, hợp đồng kinh tế được ký kết giữa pháp nhân
với pháp nhân, pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của
pháp luật, giữa các pháp nhân với người làm công tác khoa học - kĩ thuật, nghệ
nhân, hộ kinh doanh gia đình, hộ nông dân, ngư dân cá thể (Điều 2, Điều 42). Như
vậy, theo Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 thì khái niệm hợp đồng kinh tế có
ngoại diên tương đối hẹp được đặc trưng bởi ba yếu tố cơ bản là chủ thể, mục đích
10


và hình thức của hợp đồng, do đó chưa bao quát được hết mọi quan hệ hợp đồng
phát sinh trong hoạt động kinh doanh.
Khi Bộ luật dân sự năm 2015 ra đời và có hiệu lực, tất cả các loại hợp đồng
đều được điều chỉnh bởi Bộ luật dân sự; không còn sự phân biệt hợp đồng kinh tế
và hợp đồng dân sự nữa. Luật thương mại năm 2005 không đưa ra khái niệm hợp
đồng trong hoạt động thương mại. Tuy nhiên, căn cứ Điều 385 Bộ luật dân sự năm
2015 và Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại năm 2005 có thể hiểu hợp đồng trong
hoạt động thương mại là sự thỏa thuận giữa các chủ thể kinh doanh với nhau và với
các bên có liên quan về việc xác lập, thay đổi, hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ
trong hoạt động thương mại.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, có thể nhận diện hợp đồng trong hoạt
động thương mại theo một số tiêu chí pháp lý sau:
Về chủ thể hợp đồng, hợp đồng trong hoạt động thương mại được thiết lập chủ
yếu giữa các thương nhân. Theo Bộ luật thương mại Đức, chỉ cần một bên của hợp
đồng là thương nhân thực hiện hoạt động thương mại thì có thể áp dụng pháp luật
thương mại đối với hợp đồng này. Còn Bộ luật thương mại Pháp coi hợp đồng có cả
hai bên chủ thể là thương nhân là hợp đồng thương mại, nếu chỉ có một bên là thương
nhân, bên kia không phải là thương nhân thì đó là hợp đồng hỗn hợp và nếu có tranh
chấp xảy ra thì bên không phải là thương nhân được quyền lựa chọn kiện thương
nhân tại tòa dân sự thẩm quyền chung hoặc tòa thương mại, trong khi đó nếu thương
nhân kiện bên không phải là thương nhân thì chỉ có thể kiện tại tòa dân sự thẩm
quyền chung. Theo pháp luật thương mại Việt Nam, có những quan hệ hợp đồng
trong thương mại đòi hỏi các bên đều phải là thương nhân (hợp đồng đại diện cho
thương nhân, hợp đồng đại lý thương mại..). Bên cạnh đó có những hợp đồng thương
mại đòi hỏi ít nhất, chỉ một bên là thương nhân (hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa,
hợp đồng dịch vụ bán đấu giá hàng hoá, hợp đồng môi giới thương mại…).
Về hình thức, hình thức hợp đồng trong hoạt động thương mại được quy định
một cách đa dạng, có thể bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của
11


các bên giao kết. Trong một số trường hợp, pháp luật bắt buộc các bên phải thiết lập
hợp đồng bằng hình thức văn bản (hợp đồng đại lý thương mại, hợp đồng ủy thác
mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ khuyến mại,…). Luật thương mại 2005 cho
phép các bên trong quan hệ hợp đồng có thể thay thế hình thức văn bản bằng hình
thức khác có giá trị pháp lý tương đương (điện báo, fax, thông điệp dữ liệu điện tử).
Mục đích của hợp đồng trong hoạt động thương mại là lợi nhuận. Khác với
hợp đồng dân sự thuần túy được ký kết với mục đích tiêu dùng, hợp đồng trong hoạt
động thương mại được ký kết với mục đích sinh lợi. Theo pháp luật Việt Nam, với
những hợp đồng ký giữa một bên là thương nhân với một bên không phải là thương
nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận, việc áp dụng Luật thương mại để điều
chỉnh quan hệ hợp đồng này hay không do bên không có mục đích lợi nhuận quyết
định (Khoản 3 Điều 1 Luật thương mại 2005).
Về tính đền bù của hợp đồng thương mại: Pháp luật của hầu hết các nước đều
quy định hợp đồng thương mại phải mang tính đền bù. Ngay cả khi trong hợp đồng
không có thỏa thuận về giá cả thì một bên trong hợp đồng thương mại có quyền yêu
cầu thanh toán bằng tiền hoặc bằng các hình thức khác do việc thực hiện nghĩa vụ
theo hợp đồng.
1.1.1.2. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại
Trách nhiệm hợp đồng hay trách nhiệm do vi phạm hợp đồng là một thuật ngữ
được sử dụng rộng rãi trong khoa học pháp lý. Nhưng khái niệm này chưa được ghi
nhận trong văn bản pháp luật nên còn có cách hiểu khác nhau. Có quan điểm cho
rằng, “trách nhiệm” đồng nghĩa với “nghĩa vụ” và như vậy trách nhiệm hợp đồng
trước hết là việc phải thực thi các nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ hợp đồng sau đó là
việc phải gánh chịu các hậu quả pháp lý bất lợi khi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Tác
giả cho rằng không thể đồng nhất khái niệm trách nhiệm và nghĩa vụ. Bộ luật dân
sự năm 2015 phân biệt cụ thể “Nghĩa vụ” là việc một hoặc nhiều chủ thể phải
chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công
việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều
12


chủ thể khác (Điều 274); và “Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ” là việc
người có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với
người có quyền. Vi phạm nghĩa vụ là việc người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa
vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội
dung của nghĩa vụ (Điều 351). Như vậy, trách nhiệm hợp đồng chính là trách nhiệm
do vi phạm hợp đồng - là một dạng của trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ.
Đây cũng là cách hiểu của đa số những người nghiên cứu cũng như áp dụng pháp
luật. Từ đó có thể đưa ra khái niệm sau: “Trách nhiệm hợp đồng là việc một bên
trong quan hệ hợp đồng phải gánh chịu các hậu quả pháp lý bất lợi do việc họ đã
không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc
thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ hợp đồng”.
Về bản chất, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng là một dạng cụ thể của trách
nhiệm pháp lý và vì vậy đều mang đầy đủ các đặc điểm cơ bản của trách nhiệm
pháp lý như: chỉ phát sinh khi có các căn cứ do pháp luật quy định; do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền áp dụng; mang lại hậu quả pháp lý bất lợi cho các chủ thể bị áp
dụng. Tuy nhiên, do một số đặc thù của quan hệ pháp luật hợp đồng nói chung và
hợp đồng trong hoạt động thương mại nói riêng, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
trong hoạt động thương mại có một số đặc trưng riêng cho phép chúng ta phân biệt
nó với các loại trách nhiệm pháp lý khác, đó là:
* Về thẩm quyền áp dụng: Các chế tài do vi phạm hợp đồng trong hoạt động
thương mại do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với bên vi phạm hợp
đồng dựa trên yêu cầu của bên có quyền lợi bị vi phạm. Tuy nhiên, trách nhiệm do
vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại còn có thể do cơ quan tài phán phi
chính phủ (như trọng tài thương mại) áp dụng cho các hành vi vi phạm.
*Về tính chất của trách nhiệm: Tính tài sản là đặc trưng của các hình thức
trách nhiệm áp dụng khi có hành vi vi phạm hợp đồng. Bên vi phạm hợp đồng phải
dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình đề bồi hoàn tổn thất vật chất cho phía
bên kia dưới hình thức tiền phạt vi phạm hoặc bồi thường thiệt hại; hoặc bên vi

13


phạm phải gánh chịu những tổn thất về vật chất để có thể đảm bảo thực hiện nghĩa
vụ hợp đồng như chi phí để thực hiện đúng hợp đồng. Trách nhiệm do vi phạm hợp
đồng trong hoạt động thương mại khi được áp dụng sẽ buộc bên vi phạm phải gánh
chịu những hậu quả bất lợi về mặt tài sản.
Sở dĩ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại mang tính
chất tài sản vì hợp đồng trong hoạt động thương mại là những hợp đồng mang tính
chất đền bù ngang giá, phản ánh mối quan hệ mang tính chất hàng hóa tiền tệ, nên
việc áp dụng các chế tài mang tính chất tài sản là tất yếu.
*Về lĩnh vực phát sinh: Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động
thương mại chỉ phát sinh trong lĩnh vực hoạt động thương mại khi hợp đồng đã
được ký kết và có hiệu lực pháp luật. Hợp đồng khi đã được ký kết và có hiệu lực
chính là cơ sở để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng.
Nếu hợp đồng chưa được ký kết hoặc hợp đồng đã được ký kết nhưng không có
hiệu lực pháp luật thì sẽ không có căn cứ để xác định có hành vi vi phạm hợp đồng
hay không. Đặc điểm này cho phép phân biệt trách nhiệm hợp đồng trong lĩnh vực
thương mại với các loại trách nhiệm dân sự nói chung, trách nhiệm dân sự có thể
phát sinh trong các giao dịch dân sự không phải là hợp đồng (ví dụ: hành vi pháp lý
đơn phương, chiếm hữu sử dụng được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật…).
* Về mục đích áp dụng: Mục đích cao nhất của việc áp dụng các hình thức
trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại là khôi phục lợi ích
vật chất và hạn chế những tổn thất cho bên có quyền lợi bị vi phạm. Điều này xuất
phát từ bản chất của các quan hệ hợp đồng kinh doanh là quan hệ mang tính chất
đền bù ngang giá.
Theo quy định của Luật thương mại 2005, các hình thức trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng bao gồm: buộc thực hiện đúng hợp đồng, hủy hợp đồng, phạt vi
phạm, bồi thường thiệt hại, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp
đồng và các hình thức chế tài khác do các bên thỏa thuận không trái với nguyên tắc
cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
14


Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế. So với Pháp lệnh Hợp đồng
kinh tế năm 1989 và Luật Thương mại năm 1997, Luật thương mại năm 2005 đã bổ
sung thêm hai loại chế tài nữa là: tạm ngừng thực hiện hợp đồng và đình chỉ thực
hiện hợp đồng.
Là các hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương
mại, các loại chế tài này đều mang những đặc điểm chung của trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại. Tuy nhiên, từng loại chế tài lại có
những đặc điểm riêng biệt. Việc tìm hiểu cặn kẽ từng loại chế tài không nằm trong
phạm vi nghiên cứu của luận văn, vì vậy, ở đây luận văn chỉ giới thiệu khái quát về
các loại chế tài này với những đặc trưng về từng loại chế tài, từ đó góp phần làm rõ
bản chất pháp lý của chế tài bồi thường thiệt hại.
Buộc thực hiện đúng hợp đồng:
Buộc thực hiện đúng hợp đồng là hình thức chế tài, theo đó bên vi phạm
nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của bên bị vi phạm. Chế tài
này được quy định trong các Điều 297, 298, 299 Luật thương mại năm 2005.
Khoản 1 Điều 297 Luật thương mại năm 2005 quy định: “Buộc thực hiện đúng
hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng
hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải
chịu chi phí phát sinh”. Mục đích của chế tài này là đảm bảo thực hiện trên thực tế
hợp đồng đã ký kết, đảm bảo cho các bên đạt được lợi ích mà họ mong muốn từ
việc thực hiện hợp đồng.
Phạt vi phạm:
Phạt vi phạm là hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng, theo đó bên vi phạm
hợp đồng phải trả cho bên bị vi phạm một khoản tiền nhất định theo sự thỏa thuận
của các bên trên cơ sở quy định của pháp luật. Chế tài này được quy định tại Điều
300 và Điều 301 Luật thương mại năm 2005. Căn cứ để bên bị vi phạm yêu cầu bên
vi phạm trả tiền phạt là: (i) có hành vi vi phạm hợp đồng (tức là hành vi không thực
hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ các cam kết trong hợp đồng); (ii)
15


các bên có thỏa thuận trong hợp đồng về việc phạt vi phạm. Lỗi trong phạt vi phạm
được coi là lỗi suy đoán. Theo đó, mọi hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng đều
bị suy đoán là có lỗi (trừ trường hợp bên vi phạm chứng minh được rằng mình
không có lỗi). Mục đích của chế tài này không chỉ trừng phạt bên có hành vi vi
phạm, phòng ngừa hành vi vi phạm và giáo dục ý thức tuân thủ các cam kết trong
hợp đồng mà còn góp phần bù đắp các tổn thất vật chất mà bên có quyền lợi bị vi
phạm đã phải gánh chịu.
Trên thế giới, không phải pháp luật quốc gia nào cũng quy định hình thức chế
tài phạt vi phạm hợp đồng. Ví dụ, theo pháp luật hợp đồng Hoa Kì, chế tài phạt hợp
đồng về nguyên tắc không tồn tại. Người vi phạm nghĩa vụ hợp đồng chỉ phải bồi
thường thiệt hại mà không bị phạt hợp đồng. Người phải thực hiện nghĩa vụ có
quyền tự do định liệu có thực hiện nghĩa vụ hay không, nếu xuất hiện những cơ hội
hấp dẫn hơn với các bên thứ ba, thì người này có thể không thực hiện nghĩa vụ và
đền bù thiệt hại cho bên bị vi phạm. Phạt hợp đồng, vì lẽ đó hạn chế quyền tự do
của bên phải thi hành nghĩa vụ, một điều khoản như vậy trong hợp đồng có thể bị
toà án Hoa Kỳ tuyên bố vô hiệu. Một bên không được phép dùng hình thức phạt
hợp đồng như là một biện pháp răn đe hạn chế quyền tự do định đoạt của bên kia.
Tuy nhiên, dưới những điều kiện nhất định, khi mà việc xác định thiệt hại được các
bên biết trước là sẽ rất khó khăn, các bên có thể ước lượng thiệt hại mà bên vi phạm
phải đền bù. Dưới những điều kiện khắt khe nhất định, Tòa án có thể xem những
thoả thuận ước lượng thiệt hại kể trên là không vô hiệu.
Bồi thường thiệt hại
Cũng có mục đích trừng phạt bên có hành vi vi phạm và phòng ngừa vi phạm,
giáo dục ý thức pháp luật, nhưng khác với các chế tài khác, bồi thường thiệt hại
nhằm mục đích quan trọng nhất là bồi hoàn, bù đắp, khôi phục lợi ích vật chất bị
thiệt hại cho bên bị vi phạm. Có thể nói rằng, bồi thường thiệt hại là chế tài quan
trọng và cơ bản nhất nhằm đảm bảo lợi ích của các bên khi hợp đồng bị vi phạm.
Chính vì thế, chế tài này có thể áp dụng cho hầu hết các hành vi vi phạm hợp đồng.

16


Chế tài tạm ngừng, đình chỉ thực hiện hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng:
So với Luật thương mại năm 1997, Luật thương mại năm 2005 đã bổ sung
thêm hai hình thức chế tài tạm ngừng và đình chỉ thực hiện hợp đồng. Các hình thức
chế tài: tạm ngừng, đình chỉ thực hiện hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng thể hiện sự tự
vệ và khả năng phản ứng trực tiếp của bên bị vi phạm đối với bên vi phạm hợp đồng
và được quy định cụ thể từ Điều 308 đến Điều 315.
-

Tạm ngừng thực hiện hợp đồng: được quy định tại Điều 308 và Điều 309

Luật thương mại năm 2005. Tạm ngừng thực hiện hợp đồng trong thương mại là
hình thức chế tài, theo đó, một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ trong hợp
đồng. Khi hợp đồng thương mại bị tạm ngừng thực hiện thì hợp đồng vẫn có hiệu
lực. Bên vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với những tổn thất đã
xảy ra do hành vi vi phạm của bên kia.
-

Đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ

hợp đồng. Khi hợp đồng trong hoạt động thương mại bị đình chỉ thực hiện thì hợp
đồng chấm dứt hiệu lực từ thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ. Các
bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có
quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng.
-

Hủy hợp đồng là sự kiện pháp lý mà hậu quả của nó làm cho phần hợp đồng

bị hủy bỏ không có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết. Hủy bỏ hợp đồng có thể là
hủy bỏ một phần hoặc hủy bỏ toàn bộ hợp đồng.
+ Hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp
đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn có hiệu lực pháp luật.
+ Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả các
nghĩa vụ của hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng. Khi một hợp đồng thương mại bị
hủy bỏ toàn bộ, hợp đồng được coi là không có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết.
Các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng,
trừ thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ sau khi hủy bỏ hợp đồng và về giải quyết
tranh chấp.
17


Nếu trong quá trình thực hiện hợp đồng mà các bên thỏa thuận tạm ngừng,
đình chỉ thực hiện hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng thì không được coi là áp dụng các
hình thức chế tài. Chỉ được coi là chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương mại khi
một bên vi phạm hợp đồng và một bên tuyên bố đơn phương tạm ngừng, đình chỉ,
hoặc hủy bỏ hợp đồng.
Các hình thức chế tài: tạm ngừng, đình chỉ và hủy bỏ hợp đồng được áp dụng
không giống nhau, song chúng cũng có những nét tương đồng cơ bản đó là căn cứ áp
dụng: trừ các trường hợp được miễn trách nhiệm hợp đồng, các chế tài tạm ngừng,
đình chỉ và hủy bỏ hợp đồng được áp dụng khi có một trong các điều kiện sau:
-

Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để tạm ngừng,
đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng.

-

Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.
Như vậy nếu không có thỏa thuận trong hợp đồng thì các hình thức chế tài

tạm ngừng, đình chỉ thực hiện hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng chỉ áp dụng đối với
hành vi vi phạm cơ bản. Đây là điểm mới khá quan trọng của Luật thương mại
năm 2005. Việc đưa ra khái niệm về hai loại vi phạm cơ bản và không cơ bản là
cơ sở quan trọng để quyết định việc áp dụng các hình thức chế tài này. Việc bổ
sung này là phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế và thực tiễn thực hiện
thương mại của Việt Nam.
Các hình thức chế tài khác do các bên thỏa thuận
Bên cạnh việc bổ sung thêm hai hình thức chế tài là tạm ngừng và đình chỉ
thực hiện hợp đồng thì Luật thương mại năm 2005 đã cho phép các bên thỏa thuận
các hình thức chế tài khác, miễn là không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật
Việt Nam, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam là thành
viên và tập quán thương mại quốc tế. Đây là điểm mới khá quan trọng của Luật
thương mại năm 2005 nhằm đảm bảo quyền tự do thỏa thuận, tự do giao kết của các
bên và đáp ứng xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. Các bên có thể thỏa thuận thêm các
hình thức chế tài mà Luật thương mại năm 2005 không quy định cụ thể như cầm giữ
18


tài sản, yêu cầu phong tỏa tài khoản… để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng,
đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Việc áp dụng các hình thức chế tài
này sẽ theo điều kiện các bên đã thỏa thuận và áp dụng quy định chung của Bộ luật
Dân sự năm 2015.
1.1.2. Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động thương mại
1.1.2.1. Khái niệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong hoạt động
thương mại
Bồi thường thiệt hại là một chế tài pháp luật phổ biến đã có từ lâu trong hệ
thống pháp luật của nước ta cũng như của các nước trên thế giới. Theo Từ điển Luật
học, “bồi thường thiệt hại là việc người có hành vi vi phạm, có lỗi trong việc gây ra
thiệt hại về vật chất, tinh thần phải bồi hoàn cho người bị thiệt hại nhằm phục hồi
tình trạng tài sản, bù đắp tổn thất tinh thần cho người bị thiệt hại” [2, tr.84]. Trách
nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và
trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần. Bộ luật dân sự năm 2015 của Việt
Nam cũng quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ tại
Điều 360 như sau:
“Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ
phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có
quy định khác”.
Luật thương mại năm 2005 tại khoản 1, Điều 302 quy định: “bồi thường thiệt
hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm gây ra cho
bên bị vi phạm”. Trong quan hệ hợp đồng trong hoạt động thương mại, với tính chất
đền bù ngang giá, người ta chỉ chấp nhận bồi thường các thiệt hại vật chất, còn các
thiệt hại về tinh thần như tổn hại về uy tín, danh dự của thương hiệu về nguyên tắc
không được chấp nhận bồi thường.
Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế không có định nghĩa thế nào là bồi thường thiệt
hại mà chỉ ghi nhận rằng “… trong trường hợp có thiệt hại thì phải bồi thường thiệt
hại” (Khoản 2 Điều 29 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989). Luật thương mại
19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×