Tải bản đầy đủ

Những khía cạnh pháp lý trong giai đoạn thành lập công ty của nhà đầu tư

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NHỮNG KHÍA CẠNH PHÁP LÝ TRONG GIAI
ĐOẠN THÀNH LẬP CÔNG TY CỦA NHÀ ĐẦU TƯ

NGUYỄN THỊ THẮM

Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số

: 8 38 01 07

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ DUNG

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số
liệu, ví dụ, trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy, trung thực.
Hà Nội, ngày 6 tháng 11 năm 2018
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Thắm


LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa Sau đại học, Viện Đại học Mở Hà Nội và sự
đồng ý của giáo viên hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Dung về đề tài luận văn: "Những
khía cạnh pháp lý trong giai đoạn thành lập công ty của nhà đầu tư". Để hoàn thành
được luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của
quý thầy, cô giáo trong trường.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo của Viện Đại
học Mở Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình tôi học tập,
nghiên cứu tại Viện.
Chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn khoa học TS. Nguyễn Thị Dung đã
tận tình hướng dẫn tôi nghiên cứu thực hiện luận văn của mình.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa đào tạo sau đại
học, Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập.
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng để thực hiện luận văn một cách hoàn chỉnh
nhất, nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà tự bản thân không
thể tự nhận thấy được. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của Quý thầy, cô giáo để
luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên tôi, động
viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện luận văn, công trình nghiên cứu
của mình.
Hà Nội, ngày 6 tháng 11 năm 2018
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Thắm


MỤC LỤC
Trang
1

MỞ ĐẦU



Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT TRONG GIAI ĐOẠN
THÀNH LẬP CÔNG TY

1.1.

Khái niệm công ty và bản chất pháp lý của công ty

6
6

1.1.1. Khái niệm công ty

6

1.1.2. Bản chất pháp lý của công ty

8

1.2.

11

Các loại hình công ty

1.2.1. Loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

12

1.2.2. Loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

13

1.2.3. Loại hình công ty cổ phần

14

1.2.4. Loại hình công ty hợp danh

15

1.3.

17

Khái quát về giai đoạn thành lập công ty

1.3.1. Giai đoạn 1: Thỏa thuận thành lập công ty

17

1.3.2. Giai đoạn 2: Chuẩn bị đầy đủ các điều kiện vật chất cần thiết để
thành lập doanh nghiệp

22

1.3.3. Giai đoạn 3: Soạn thảo và nộp hồ sơ thành lập công ty

23

1.3.4. Giai đoạn 4: Thủ tục sau thành lập công ty

24

1.4.

Những điều nhà đầu tư cần quan tâm trước khi thành lập công ty

26

1.5.

Vai trò của pháp luật trong giai đoạn thành lập công ty của nhà đầu tư

28

Chương 2: NHỮNG NỘI DUNG PHÁP LÝ VỀ ĐIỀU KIỆN VÀ THỦ TỤC
TRONG GIAI ĐOẠN THÀNH LẬP CÔNG TY CỦA NHÀ ĐẦU TƯ

2.1.

31

Những điều kiện pháp lý cơ bản nhà đầu tư cần chuẩn bị trong giai
đoạn thành lập công ty

31

2.1.1. Điều kiện về chủ thể thành lập công ty

31

2.1.2. Điều kiện về vốn và góp vốn thành lập công ty

37

2.1.3. Điều kiện về ngành nghề kinh doanh

41


2.1.4. Điều kiện về thỏa thuận thành lập công ty

47

2.1.5

Điều kiện về hồ sơ thành lập công ty

49

2.2.

Quy định về thủ tục pháp lý nhà đầu tư cần thực hiện để thành lập
công ty

52

2.2.1. Thủ tục nộp hồ sơ

52

2.2.2. Thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

53

Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT NHẰM ĐẢM BẢO AN TOÀN PHÁP LÝ
CHO NHÀ ĐẦU TƯ TRONG GIAI ĐOẠN THÀNH LẬP CÔNG TY

3.1.

57

Một số kiến nghị cụ thể các nhà đầu tư cần rà soát vấn đề pháp lý
trong giai đoạn thành lập công ty

57

3.1.1. Những người sáng lập công ty cần chủ động rà soát và kiểm soát
quyền thành lập doanh nghiệp của mình và của những người cùng
góp vốn

57

3.1.2. Nhà đầu tư cần coi trọng vấn đề thỏa thuận thành lập công ty và
nên ký hợp đồng thành lập công ty trong giai đoạn chuẩn bị thành
lập công ty
3.1.3. Nhà đầu tư cần tìm hiểu kỹ các quy định pháp luật bắt buộc tuân thủ
3.2

59

Các giải pháp hoàn thiện pháp luật trong giai đoạn thành lập công ty
của nhà đầu tư

3.2.1

57

62

Bổ sung hoàn thiện các quy định pháp luật cụ thể về giai đoạn thành
lập công ty

3.2.2. Nhận thức đúng ý nghĩa của hợp đồng thành lập và điều lệ công ty

62
66

3.2.3. Linh hoạt trong việc áp dụng nguồn pháp luật để giải quyết tranh
chấp liên quan đến giai đoạn thành lập công ty

67

KẾT LUẬN

71

TÀI LIỆU THAM KHẢO

73


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
"Công ty" là một trong những chủ thể quan trọng của luật kinh tế và cũng là
chủ thể được quan tâm hàng đầu trong đời sống kinh tế - xã hội. Thành lập công ty
có thể hiểu là quá trình đầu tiên để tổ chức hoặc cá nhân có thể tiến hành các hoạt
động kinh doanh của mình một cách hợp pháp. công ty được khái niệm là tổ chức
có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định
của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp
2005 đến Luật Doanh nghiệp năm 2014 cho phép công ty được phép kinh doanh
những gì pháp luật không cấm, nhưng không có hướng dẫn cụ thể rằng những
ngành nghề cấm kinh doanh và không cấm kinh doanh khiến cho công ty gặp nhiều
trở ngại trong việc lựa chọn ngành nghề kinh doanh. Ở một góc độ khác có nhiều tư
tưởng mở rộng tạo môi trường đầu tư cho công ty nhưng trong thực tiễn kinh doanh
hiện nay để nhà đầu tư có thể biết được những rào cản do quy định pháp luật đặt ra,
nhưng cũng tồn tại những rào cản do vấn đề thực thi. Do đó, bất cứ người học luật
lẫn người làm ăn kinh doanh nào cũng có nhu cầu tìm hiểu pháp luật về các công ty.
Đây là một xu hướng chung và thiết yếu trong xã hội hiện đại.
Cần nhận thức rằng, hiểu về "công ty" không chỉ bó hẹp trong phạm vi từ
lúc công ty chính thức hoạt động đến khi chấm dứt số phận pháp lý bằng các thủ tục
như giải thể, phá sản… mà cũng cần một cái nhìn toàn diện và thấu suốt về thời kỳ
thành lập công ty.
Sau khi Luật Công ty ra đời, nhiều văn bản pháp luật khác nhau đã được
ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh
vực khác nhau nhưng được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần. Hoạt động của
các doanh nghiệp này một mặt phải tuân thủ các quy định của Luật công ty, mặt
khác, do đặc thù riêng của các ngành nghề kinh doanh, hoạt động của các doanh

1


nghiệp này còn phải tuân thủ theo quy định của các luật chuyên ngành. Chẳng hạn
như trong Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ ngày 01/10/1998 tại Điều 12 quy
định về các loại hình tổ chức tín dụng có hình thức tổ chức tín dụng cổ phần của
Nhà nước và nhân dân, hay nói cách khác các ngân hàng thương mại cổ phần chính
là các công ty cổ phần hoạt động trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ.
Những năm gần đây, pháp luật về công ty thường xuyên được sửa đổi, thậm
chí có những vấn đề buộc phải thay đổi tận gốc do quan niệm sai lầm của một số
nhà làm luật. Số lượng công ty trên thực tế phát triển nhanh chóng, kéo theo đó là
vô vàn tranh chấp cần giải quyết ngay từ khâu thành lập. Thế nhưng, với những
nhận thức chưa đầy đủ, quy phạm pháp luật sơ sài, việc xét xử tranh chấp đối với
các vấn đề tiền công ty như hợp đồng thành lập công ty, hợp đồng giữa sáng lập
viên với bên thứ ba… dường như chưa hiệu quả.
Nhằm mục đích tìm hiểu, nghiên cứu về những vấn đề lí luận và thực tiễn,
thông qua đó tìm ra những hạn chế còn tồn tại để tìm ra những hướng khắc phục có
hiệu quả hơn. Cũng chính vì thế mà tác giả chọn đề tài: "Những khía cạnh pháp lý
trong giai đoạn thành lập công ty của nhà đầu tư" để làm đề tài luận văn cho mình.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Phát triển kinh tế luôn là hướng đi hàng đầu để xây dựng một quốc gia phồn
thịnh. Trong đó trọng tâm của vấn đề phát triển kinh tế đó chính là thúc đẩy sự phát
triển của các doanh nghiệp trong nước. Nhận thấy được điều này Đảng và Nhà nước
ta luôn chú trọng xây dựng một môi trường kinh doanh cởi mở cho doanh nghiệp
đặc biệt là vấn đề thành lập doanh nghiệp - bước khởi đầu để doanh nghiệp gia nhập
vào hoạt động kinh tế trong nước cũng như quốc tế. Bởi vậy, vấn đề pháp lý trong
giai đoạn thành lập công ty của nhà đầu tư đã được Chính phủ chú trọng cải cách
cũng như được rất nhiều các học giả, nhà nghiên cứu lựa chọn nghiên cứu, đã có rất
nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này trong các giai đoạn phát triển kinh tế của đất
nước, điển hình như: PGS.TS Nguyễn Viết Tý - TS. Nguyễn Thị Dung (Đồng tác

2


giả) (2017), Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam, tập 1, Trường Đại học Luật Hà
Nội, Nxb Tư pháp, Hà Nội; Nguyễn Hợp Toàn (2008), Giáo trình Pháp luật kinh tế,
Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội; Lê Thị Thanh (2008), Giáo trình Pháp luật
kinh tế, Nxb Tài Chính, Hà Nội; Nguyễn Thị Nga (2016), Thủ tục đăng ký thành lập
doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học
Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Thị Thu Hà (2013), Pháp luật Việt Nam về góp vốn
thành lập doanh nghiệp, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia
Hà Nội; Nguyễn Thị Yến (2010), Những quy định về thủ tục thành lập doanh
nghiệp cần được tiếp tục hoàn thiện, Tạp chí Luật học, số 9/2010...
Cùng một số công trình nghiên cứu, bài báo khoa học về vấn đề thủ tục
đăng ký kinh doanh, thành lập công ty và một số công trình nghiên cứu khác… Các
công trình nghiên cứu này đã nghiên cứu ở các vấn đề, khía cạnh liên quan đến
thành lập công ty, thành lập doanh nghiệp là khác nhau, là tài liệu tham khảo hữu
ích trong quá trình tác giả nghiên cứu, hoàn thành luận văn của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Thông qua việc tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam, có sự so
sánh, đối chiếu với pháp luật nước ngoài, Luận văn hướng tới mục đích nghiên cứu
một cách có hệ thống và đầy đủ các quy định trong lĩnh vực thành lập công ty, để từ
đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hiệu lực pháp
luật trong giai đoạn thành lập công ty của nhà đầu tư.
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, nghiên cứu làm sáng rõ những vấn đề lí luận về công ty và thành
lập công ty.
Thứ hai, phân tích những nội dung pháp lý về điều kiện và thủ tục trong
giai đoạn thành lập công ty của nhà đầu tư.
Thứ ba, phân tích, đánh giá thực tiễn, đưa ra một số kiến nghị nhằm đảm
bảo an toàn pháp lý cho nhà đầu tư trong giai đoạn thành lập công ty.

3


4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Vấn đề thành lập công ty được được đề cập trong trong Luật Doanh nghiệp,
Luật Đầu tư. Chính vì vậy, phạm vi nghiên cứu đề tài luận văn khá rộng và sâu.
Luận văn chủ yếu tập trung đánh giá, phân tích một số lĩnh vực như: trình tự thành
lập công ty.
Thành lập công ty là giai đoạn chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về pháp lý
cũng như tư cách pháp nhân của nhà đầu tư, nhà đầu tư cần hiểu rõ các nội dung
khái quát về các giai đoạn thành lập công ty, các điều kiện và thủ tục được pháp luật
công nhận trong quá trình thành lập công ty để từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm
đảm bảo tính an toàn trong quá trình thành lập công ty của nhà đầu tư.
Chế định pháp luật về công ty là một chế định rộng, liên quan đến nhiều
yếu tố pháp lý lẫn thực tiễn như: các loại hình công ty, các học thuyết pháp lý về
bản chất công ty, thành lập, hoạt động, giải thể hoặc phá sản công ty … Luận văn
không có tham vọng nghiên cứu toàn bộ chế định này mà chỉ tập trung vào giai
đoạn tiền công ty để làm rõ các vấn đề có tính nguyên tắc cần thiết cho việc xây
dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực này.
Luận văn cũng không dàn trải quy định pháp luật của nhiều quốc gia trên
thế giới mà chỉ đi sâu phân tích và giải quyết các quy định của pháp luật Việt Nam.
Luận văn sẽ có sự so sánh ở mức độ nhất định nhằm đánh giá các quy định của pháp
luật Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp thích hợp cho một khung pháp luật
chặt chẽ và đúng đắn về vấn đề này.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu, luận văn đã sử dụng kết hợp nhiều
phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như: phương pháp phân tích, phương
pháp tổng hợp, phương pháp so sánh - đối chiếu, phương pháp thống kê…
Các phương pháp nghiên cứu trên đều có nền tảng là cơ sở phương pháp để
làm sáng tỏ nội dung đề tài.

4


6. Ý nghĩa luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu
Luận văn phản ánh cái nhìn khách quan về các khía cạnh pháp lý trong giai
đoạn thành lập công ty của nhà đầu tư.
Luận văn chỉ ra những điểm mới, những nội dung pháp lý về điều kiện và
thủ tục trong giai đoạn thành lập công ty của chủ đầu tư. Để từ đó đưa ra những kiến
nghị nhằm đảm bảo an toàn pháp lý cho nhà đầu tư trong giai đoạn thành lập công ty.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đẩu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về pháp luật trong giai đoạn thành lập công ty.
Chương 2: Những nội dung pháp lý về điều kiện và thủ tục trong giai đoạn
thành lập công ty của nhà đầu tư.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo an toàn pháp lý cho nhà đầu
tư trong giai đoạn thành lập công ty.

5


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT TRONG GIAI ĐOẠN
THÀNH LẬP CÔNG TY
1.1. Khái niệm công ty và bản chất pháp lý của công ty
1.1.1. Khái niệm công ty
Công ty xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XIX ở châu Âu. Tùy từng cách
tiếp cận, khái niệm công ty cũng được nhìn nhận khác nhau.
Nhìn từ góc độ kinh tế, công ty là một tổ chức kinh tế, là doanh nghiệp
được thành lập nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận và lấy hoạt động kinh doanh làm
ngành nghề chính. Công ty chỉ mang tính chất như một vỏ bọc hình thức để hợp
pháp hóa các giao dịch, chi phí và hoạt động kinh doanh của thành viên công ty, "là
một cái áo khoác để thực hiện ý tưởng kinh doanh" [28, tr. 250].
Dưới góc độ kinh tế luật, Ronald Coase - nhà kinh tế học nổi tiếng đã có
một khái niệm trở thành kinh điển về doanh nghiệp. Coase phát biểu: "doanh nghiệp
là một sự thể hiện cao cấp của hợp đồng giữa các thành viên của doanh nghiệp đó",
và rằng - "các thành viên cần phải tập hợp lại với nhau để chung vốn, chung sức
cạnh tranh" [27, tr. 152]. Khi doanh nghiệp được thành lập, chi phí giao dịch giữa
các thành viên cũng như giữa các doanh nghiệp với nhau cũng sẽ giảm, từ đây sức
cạnh tranh tang lên. Như vậy, chi phí giao dịch chính là vấn đề cốt lõi về mặt kinh
tế của khái niệm doanh nghiệp nói chung và công ty nói riêng. Vấn đề "tư cách
pháp nhân" của công ty hầu như không được quan tâm đúng mức.
Nhìn từ góc độ pháp lý, công ty là một chủ thể pháp luật, được tạo nên bởi
một sự kiện pháp lý, có nghề nghiệp kinh doanh và hoạt động với tư cách một chủ
thể độc lập. Theo đó, công ty được xác lập bằng thủ tục thành lập và đăng ký kinh
doanh, có năng lực chủ thể để tham gia các quan hệ pháp luật và có quyền tự chủ
trong các hoạt động kinh doanh. Dưới góc độ pháp lý, công ty được hiểu là hợp
đồng, là pháp nhân tùy theo quan điểm luật pháp của các quốc gia.

6


Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp định nghĩa: "Công ty là một hợp đồng mà
thông qua đó hai hay nhiều người thỏa thuận với nhau sử dụng tài sản hay khả
năng của mình vào một hoạt động chung nhằm chia lợi nhuận thu được qua hoạt
động đó" [27, tr. 109].
Đến Luật Công ty 1990, khái niệm về công ty được nêu tại Điều 2 "Công ty
trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần, gọi chung là công ty, là doanh nghiệp
trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ
tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty
trong phạm vi phần vốn góp của mình góp vào công ty " [27, tr. 109]. Có thể thấy ở
giai đoạn này, Luật Công ty của Việt Nam chỉ nhìn nhận hai loại hình chủ yếu được
gọi là công ty đó là công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần, trong khi hợp
danh là một loại hình công ty đã tồn tại lâu đời và được ghi nhận ở hầu khắp các
quốc gia lại chưa được đề cập đến. Đây có thể xem là một điểm thiếu sót của các
nhà làm luật, dẫn đến khái niệm về công ty bị bó hẹp trong phạm vi các loại hình.
Hiện nay, khó có thể đưa ra khái niệm chung về tất cả các loại công ty có
hoạt động kinh doanh vì sự đa dạng của các loại hình liên kết. Ngày nay người ta đã
thừa nhận cả các loại hình công ty không có sự liên kết (công ty trách nhiệm hữu
hạn 1 chủ) về nhiều phương diện chúng được xem như công ty và vì vậy phải chịu
sự điều chỉnh của luật doanh nghiệp. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, khái niệm
doanh nghiệp được xem là một tổ chức kinh tế, có tài sản và tên riêng, có trụ sở
giao dịch ổn định, được cấp giấy đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để
thực hiện các hoạt động kinh doanh trên trị trường (Mục 7 Điều 1 Chương 1). Quá
trình kinh doanh thực hiện một cách liên tục, một số hoặc tất cả các công đoạn của
quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị
trường nhằm mục đích để sinh lợi. Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi,
mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn
nhằm mục tiêu lợi nhuận. Theo bản chất kinh tế của của chủ sở hữu chúng ta sẽ
có ba loại hình doanh nghiệp là:

7


+ Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai
thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) là doanh
nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa
vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên, là doanh nghiệp
trong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác
của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp. Thành
viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên tối thiểu là hai và
tối đa không vượt quá năm mươi. Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp
nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, có từ hai thành viên
trở lên phải có Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc. công
ty trách nhiệm hữu hạn có trên mười một thành viên phải có Ban kiểm soát.
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: là một hình thức đặc biệt
của công ty trách nhiệm hữu hạn. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, công ty
trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc cá nhân
làm chủ sở hữu; chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài
sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp.
- Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:
a) Phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau
kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh). Ngoài các
thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn;
b) Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài
sản của mình về các nghĩa vụ của công ty;
c) Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty
trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
1.1.2. Bản chất pháp lý của công ty
Xét về bản chất pháp lý của công ty, hiện có nhiều quan điểm khác nhau.
Các nước theo truyền thống Civil Law (Họ pháp luật La Mã - Đức) xem bản chất

8


pháp lý của công ty là hợp đồng. Trong khi các nước Common Law (Họ pháp luật
Anh Mỹ), điển hình là Hoa Kỳ, phát triển rất nhiều học thuyết khác nhau về bản
chất pháp lý của công ty. Có thể kể ra một số học thuyết như sau: Học thuyết hư cấu
hay thực thể nhân tạo - xem công ty là một pháp nhân hay một thực thể nhân tạo
được thiết lập bởi nhà chức trách; học thuyết thừa nhận hay học thuyết nhượng
quyền - xem sự tồn tại của công ty bởi sự nhượng bộ của nhà nước; học thuyết hiện
thực - xem nhân tính của công ty là sự thừa nhận các lợi ích nhóm như một hiện
tượng thực tế đã tồn tại; học thuyết doanh nghiệp - nhấn mạnh tới doanh nghiệp
thương mại cơ bản, không nhấn mạnh tới thực thể - sự liên kết của những thực thể
cấu thành; học thuyết biểu tượng - xem công ty là một biểu tượng cho sự liên kết
của những cá nhân tạo thành công ty có nhân tính nhóm; học thuyết mối liên hệ hợp
đồng - xem công ty là một giả tưởng pháp lý bao gồm một mạng lưới các quan hệ
giữa các cá nhân; học thuyết hợp đồng - công ty là hợp đồng.
Các học thuyết khác nhau về bản chất của công ty đã góp phần cho việc giải
thích khái niệm hiện đại về công ty nhưng mỗi học thuyết chỉ chiếm một vị trí nhất
định trong việc giải thích này và không bao trùm toàn bộ.
Thực tiễn cho thấy, học thuyết hợp đồng được sử dụng rộng rãi ở các nước
để xử lí các mối quan hệ pháp lý giữa các thành viên trong công ty với nhau và giữa
thành viên với công ty. "Việc xem công ty là một hợp đồng là một quan niệm
nghiêng về tính chất pháp lý của công ty". Quan điểm này cũng được xem xét trên
nguyên tắc thừa nhận những nội dung hạt nhân của học thuyết tự do ý chí, theo đó,
"cơ sở phát sinh nghĩa vụ của mọi hành vi pháp lý (trong đó có thành lập công ty) là
tự do ý chí của chủ thể" [25, tr. 29].
Tuy nhiên, quan điểm này lại trở nên bất lực trong việc giải thích bản chất
của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, bởi không ai lại tự đi lập hội và ký
hợp đồng với chính bản thân mình. Lúc này, chúng ta lại cần viện dẫn đến quan
điểm về bản chất công ty của các nước theo truyền thống Common law. Theo đó,
công ty đơn giản là một pháp nhân hay một thực thể nhân tạo được thiết lập bởi nhà

9


chức trách. Khi được thành lập theo đúng các thủ tục luật định, công ty tồn tại độc
lập với người lập ra nó, bất kể số lượng thành viên là bao nhiêu. Công ty, trong án
lệ của Mỹ, theo lời của Chánh án Tòa án tối cao John Marshall "là một thứ được
người ta tạo ra, không thấy được, không sờ được, và chỉ tồn tại theo những quy định
của luật pháp. Thuần túy là một sản phẩm của luật pháp. Nó chỉ mang những tính
chất mà văn bản lập nên nó đặt vào nó, hoặc được nêu một cách rõ ràng, hoặc vì có
liên quan đến sự tồn tại của chính nó. Những tính chất đó đã được tính toán kỹ để
giúp nó đạt mục tiêu mà vì đó nó được lập ra. Một trong số những tính chất quan
trọng nhất của nó là tính bất tử, và - nếu có thể nói được - tính con người; một tính
chất mà nhờ đó sự kế tục vĩnh cửu của nhiều người được coi như nhau, và do đó có
thể hành động như một con người".
Ở Việt Nam hiện nay, công ty là một chủ thể kinh doanh. Điều này thể hiện
rõ nét trong các định nghĩa về công ty tại Luật Công ty 1990 và định nghĩa chung về
doanh nghiệp trong Luật Doanh nghiệp năm 1999 và Luật Doanh nghiệp năm
2005. Tuy nhiên, trong các Bộ luật dân sự của các chế độ cũ ở Việt Nam lại có một
chương riêng về khế ước lập hội, đồng thời trong khái niệm về công ty cũng xác
định rõ bản chất pháp lý của công ty hay thương hội là hợp đồng.
Có thể nói, mỗi cách tiếp cận đều có cái lí và mặt tích cực riêng và có thể
đưa ra những dấu hiệu nhận diện cơ bản sau về công ty:
Thứ nhất, công ty là một chủ thể pháp lý độc lập, là "người" do pháp luật
tạo ra. "Luật pháp đã trao cho công ty quyền năng giống như một cá nhân thực
hiện các công việc kinh doanh cho chính mình".
Theo pháp luật của Việt Nam hiện hành thì, một công ty có thể được coi là
có tư cách pháp nhân tại thời điểm công ty đó được cấp giấy chứng nhận đăng ký
doanh nghiệp, tức là được pháp luật công nhận việc khai sinh ra công ty. Công ty có
tên riêng được đăng ký để gọi và sử dụng trong các giao dịch, công ty có điều lệ
hoạt động rõ ràng, có cơ cấu tổ chức cụ thể, có người đại diện theo pháp luật để
nhân danh (thay mặt, đại diện) cho công ty thực hiện các giao dịch. Công ty có

10


quyền nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật thông qua người đại diện
với tư cách là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trước
tòa án, trọng tài và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, công ty là chủ thể kinh doanh phải có tài sản độc lập để hoạt động
kinh doanh. Theo quy định của pháp luật thì công ty phải sở hữu một lượng tài sản
nhất định để sử dụng trong các giao dịch và hoàn toàn chịu trách nhiệm với các tài
sản đó. Tài sản này được pháp luật công nhận thuộc quyền sở hữu của công ty, tức
là công ty có toàn quyền sử dụng mà không chịu sự chi phối, kiểm soát của bất kỳ
ai. Tài sản đó phải hoàn toàn tách biệt với tài sản của các cá nhân là thành viên nên
các thành viên chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn góp vào công ty
trừ ngoại lệ trách nhiệm tài sản của thành viên hợp danh công ty hợp danh.
Thứ ba, công ty được hình thành trên nền tảng tự do ý chí của các thành
viên nhằm thỏa thuận thành lập ra mô hình công ty. Công ty (thuộc sở hữu của
nhiều thành viên) được hình thành dựa trên nền tảng tự do ý chí mà thông qua đó
hai hoặc nhiều cá nhân, tổ chức tự nguyện góp vốn và tài sản để tiến hành hoạt động
kinh doanh chung nhằm thu lợi nhuận. Pháp luật của nhiều quốc gia quy định những
thỏa thuận này được ghi nhận trong hợp đồng có tên gọi là hợp đồng thành lập công
ty (pre- incorporation agreements). Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, khi công ty
và pháp luật về công ty ra đời cũng là lúc xuất hiện hợp đồng thành lập công ty. Khi
dự định liên kết góp vốn thành lập công ty, các nhà đầu tư tất yếu phải gặp nhau để
thỏa thuận các vấn đề: Loại hình công ty, ngành nghề sản xuất kinh doanh, tài sản
góp vốn, tỷ lệ góp vốn, phân chia lợi nhuận, rủi ro, phân chia quyền lực quản lí
công ty… Hợp đồng thành lập công ty thể hiện rõ tính chất liên kết góp vốn kinh
doanh và là cơ sở để soạn thảo điều lệ hoạt động của công ty sau này.
1.2. Các loại hình công ty
Theo Luật doanh nghiệp năm 2014 mới nhất quy định và phân chia ra các
loại hình công ty, doanh nghiệp phổ biến sau: Công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần,

11


công ty hợp danh. Luật doanh nghiệp cũng quy định rõ ràng tính chất, đặc điểm,
quy mô, cơ cấu tổ chức quản lí, quyền hạn, nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty.
1.2.1. Loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ
chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở
hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty
trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ
ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành
cổ phần.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là chủ sở hữu công ty có toàn
quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty. Chủ sở hữu công
ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ
chức, cá nhân khác, chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác
của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
Tùy thuộc vào ngành, nghề kinh doanh, cơ cấu tổ chức quản lí nội bộ của
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên bao gồm: Hội đồng quản trị và Giám
đốc hoặc Chủ tịch công ty và Giám đốc. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên không được quyền phát hành cổ phiếu.
* Ưu điểm:
Do có tư cách pháp nhân nên các thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn
chỉ có trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công
ty nên ít gây rủi ro cho người góp vốn.
Cơ cấu tổ chức gọn nhẹ dễ dàng ra quyết định trong các vấn đề.
* Nhược điểm:
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được giảm vốn điều lệ.

12


1.2.2. Loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp, trong đó:
Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá
năm mươi;
Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp;
Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các
điều 43, 44 và 45 của Luật này.
Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phần. Công
ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên là công ty trong đó thành viên chịu
trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi
số vốn đã cam kết góp vào công ty. Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá
nhân, số lượng thành viên tối thiểu là hai và tối đa không vượt quá năm mươi
người. Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, công ty trách nhiệm hữu hạn không
được quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn. Những ưu và nhược điểm của loại
hình công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.
* Ưu điểm:
Do có tư cách pháp nhân nên các thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn
chỉ có trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công
ty nên ít gây rủi ro cho người góp vốn.
Số lượng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn không nhiều và các thành
viên thường là người quen biết, tin cậy nhau, nên việc quản lí, điều hành công ty
không quá phức tạp.

13


Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư dễ
dàng kiểm soát được việc thay đổi các thành viên, hạn chế sự thâm nhập của người
lạ vào công ty.
* Nhược điểm:
Do chế độ trách nhiệm hữu hạn nên uy tín của công ty trước đối tác phần
nào bị ảnh hưởng.
Công ty trách nhiệm hữu hạn chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật hơn
doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh.
Việc huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn bị hạn chế do không
có quyền phát hành cổ phiếu.
1.2.3. Loại hình công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và
không hạn chế số lượng tối đa;
Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác,
trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này.
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh.
Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động
vốn. Công ty cổ phần là loại hình công ty, trong đó vốn điều lệ được chia thành
nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần được thành lập và tồn tại độc lập. Công ty cổ
phần phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám
đốc), đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông phải có Ban kiểm soát. Cổ
đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong
phạm vi số vốn đã góp vào công ty, có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của

14


mình cho người khác, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng
tối đa. công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra ngoài theo quy định của
pháp luật về chứng khoán.
* Ưu điểm:
Chế độ trách nhiệm của công ty cổ phần là trách nhiệm hữu hạn, các cổ
đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong
phạm vi vốn góp nên mức độ rủi do của các cổ đông không cao.
Khả năng hoạt động của công ty cổ phần rất rộng, trong hầu hết các lĩnh
vực, ngành nghề.
Cơ cấu vốn của công ty cổ phần hết sức linh hoạt tạo điều kiện nhiều người
cùng góp vốn vào công ty.
Khả năng huy động vốn của công ty cổ phần rất cao thông qua việc phát
hành cổ phiếu ra công chúng, đây là đặc điểm riêng có của công ty cổ phần.
Việc chuyển nhượng vốn trong công ty cổ phần là tương đối dễ dàng, do
vậy phạm vi đối tượng được tham gia công ty cổ phần là rất rộng, ngay cả các cán
bộ công chức cũng có quyền mua cổ phiếu của công ty cổ phần.
* Nhược điểm:
Việc quản lí và điều hành công ty cổ phần rất phức tạp do số lượng các cổ
đông có thể rất lớn, có nhiều người không hề quen biết nhau và thậm chí có thể có
sự phân hóa thành các nhóm cổ động đối kháng nhau về lợi ích.
Việc thành lập và quản lí công ty cổ phần cũng phức tạp hơn các loại hình
công ty khác do bị ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật, đặc biệt về
chế độ tài chính, kế toán
1.2.4. Loại hình công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:
Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau
kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoài các
thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn.

15


Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản
của mình về các nghĩa vụ của công ty.
Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong
phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh.
Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
Công ty hợp danh là công ty trong đó phải có ít nhất hai thành viên hợp
danh là chủ sở hữu chung của công ty, ngoài các thành viên công ty hợp danh có thể
có thành viên góp vốn. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ
của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Công ty hợp danh có tư cách
pháp nhân, các thành viên có quyền quản lí công ty và tiến hành các hoạt động kinh
doanh thay công ty, cùng nhau chịu trách nhiệm và nghĩa vụ của công ty. Thành
viên góp vốn được chia lợi nhuận theo tỷ lệ tại quy định điều lệ công ty, các thành
viên hợp danh có quyền lợi ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lí công ty.
* Ưu điểm:
Công ty hợp danh là kết hợp được uy tín cá nhân của nhiều người. Do chế
độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh mà công ty hợp
danh dễ dàng tạo được sự tin cậy của các bạn hàng, đối tác kinh doanh.
Việc điều hành quản lí công ty hợp danh không quá phức tạp do số lượng
các thành viên ít và là những người có uy tín, tuyệt đối tin tưởng nhau.
* Nhược điểm:
Hạn chế của công ty hợp danh là do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn
nên mức độ rủi ro của các thành viên hợp danh là rất cao.
Loại hình công ty hợp danh được quy định trong Luật Công ty năm 2005
nhưng trên thực tế loại hình công ty này chưa phổ biến.

16


1.3. Khái quát về giai đoạn thành lập công ty
Một quy trình thành lập công ty /doanh nghiệp đối với hầu hết các loại hình
công ty /doanh nghiệp của nhà đầu tư theo luật doanh nghiệp ở thời điểm hiện tại (công
ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh) đầy đủ bao gồm 4 giai đoạn:
1.3.1. Giai đoạn 1: Thỏa thuận thành lập công ty
Quyết định thành lập doanh nghiệp là một quyết định quan trọng đối với bất
kỳ nhà đầu tư nào. Sau quyết định quan trọng đó, chính là lúc các nhà đầu tư tiến
thỏa thuận để thành lập công ty. Trong giai đoạn thành lập này, các nhà đầu tư
thường có khuynh hướng tập trung vào các vấn đề thương mại khác của doanh
nghiệp như tìm hiểu thị hiếu khách hàng tiềm năng, chọn địa điểm kinh doanh, tìm
nguồn vốn, nguồn nhân lực, nguồn cung cấp để phục vụ cho dự án kinh doanh...
Nhà đầu tư cần thỏa thuận với nhau ở các phương diện sau:
- Thỏa thuận về loại hình doanh nghiệp
Nếu chỉ có một nhà đầu tư duy nhất, loại hình doanh nghiệp sẽ có thể là
doanh nghiệp tư nhân với cơ chế quản lí là chủ doanh nghiệp, hay là công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên đối với trường hợp nhà đầu tư là tổ chức với cơ chế
quản lí có thể là hội đồng thành viên (nếu có từ hai người đại diện theo ủy quyền trở
lên) hay chủ tịch công ty (nếu chỉ có một người đại diện theo ủy quyền) hay chủ
tịch công ty nếu nhà đầu tư là cá nhân.
Nếu có từ hai nhà đầu tư trở lên thì các nhà đầu tư sẽ thỏa thuận chọn lựa
giữa việc thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (có hội đồng
thành viên) hay công ty cổ phần (có hội đồng quản trị và đại hội đồng cổ đông).
Mỗi loại hình doanh nghiệp và cơ cấu quản lí có những thuận lợi (ví dụ như
thay đổi cổ đông sở hữu dưới 5% tổng số cổ phần của công ty cổ phần không phải
thay đổi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, công ty cổ phần có thể phát hành trái
phiếu, chỉ cần một nhà đầu tư là đã có thể thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn)
và những khó khăn (ví dụ như công ty cổ phần thì các cổ đông sáng lập không được

17


chuyển nhượng cổ phần trong ba năm đầu thành lập, công ty cổ phần phải có ít nhất
ba cổ đông sáng lập, lương trả cho chủ doanh nghiệp tư nhân không được coi là chi
phí hợp lí, hợp lệ của doanh nghiệp tư nhân).
Do đó, các nhà đầu tư cần phải thỏa thuận trước để chọn lựa loại hình
doanh nghiệp và cơ cấu quản lí cho phù hợp. Chọn lựa sai có thể tạo sức ỳ, là lực
cản tăng trưởng hay thậm chỉ làm cho doanh nghiệp bị phá sản.
- Thỏa thuận về góp vốn
Thỏa thuận góp vốn thành lập doanh nghiệp về bản chất không phải chỉ là
thỏa thuận về việc chuyển giao tiền cho công ty khi thành lập doanh nghiệp, mà nó
là sự thống nhất một số các cam kết chung giữa các nhà đầu tư với nhau trước khi
ký vào hồ sơ doanh nghiệp. Có thể hiểu rằng, thỏa thuận về vốn là thỏa thuận quan
trọng nhất trong hợp đồng thành lập công ty. Việc góp vốn là hành vi tạo dựng cơ
sở vật chất để công ty có thể hoạt động, vì ngay cả khi công ty chưa được cấp Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh để hoạt động theo mục tiêu của các nhà đầu tư thì
công ty đã cần phải có những khoản vốn nhất định để chuẩn bị cho quá trình hoạt
động của công ty sau này. Theo quy định của pháp luật doanh nghiệp, góp vốn là
việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu chung của công ty. Các loại tài
sản góp vốn có thể là "tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền
sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kĩ thuật, các tài sản
khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn công ty".
Về nguyên tắc, mọi loại tài sản được pháp luật thừa nhận đều có thể được
sử dụng để góp vốn. Song xuất phát từ nhu cầu kinh doanh, các nhà đầu tư khi thỏa
thuận góp vốn thành lập công ty có quyền tiếp nhận hay từ chối các loại tài sản cụ
thể nếu như nghi ngờ về khả năng rủi ro do tiếp nhận loại tài sản góp vốn đó.
Trong điều khoản về góp vốn, các bên cần thỏa thuận rõ các nội dung liên quan:
- Số vốn góp và phần vốn góp vào công ty của từng thành viên;
- Tổng số vốn điều lệ của công ty;

18


- Loại tài sản dùng để góp vốn;
- Định giá tài sản góp vốn;
- Thời điểm góp vốn hoặc tiến độ góp vốn đối với những nhà đầu tư góp
nhiều lần;
- Thời điểm chuyển quyền sở hữu vốn góp…
Đối với mỗi loại tài sản góp vốn, các bên lại phải có sự thỏa thuận khác nhau:
- Góp vốn bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng là hình thức
góp vốn đơn giản nhất do tỉ lệ giá trị dễ xác định và dễ quy ra một đơn vị tiền tệ
nhất định;
- Góp vốn bằng tài sản hữu hình (không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự
do chuyển đổi, vàng), các thành viên, cổ động sáng lập phải tiến hành định giá tài
sản theo nguyên tắc nhất trí. Việc định giá này có thể tự tiến hành hoặc nhờ một tổ
chức định giá chuyên nghiệp thực hiện. Giá trị tài sản sẽ được quy đổi thành tiền và
được ghi vào trong hợp đồng.
- Góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất là hình thức góp vốn liên quan
đến quy định của pháp luật đất đai, vì vậy thỏa thuận của các bên phải đầy đủ thông
tin: diện tích đất, loại đất, vị trí và số hiệu trên bản đồ địa chính, tình trạng sử dụng
đất, thời hạn thuê đất còn lại (nếu có)…
- Góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kĩ thuật đòi hỏi
các bên phải có những thỏa thuận chặt chẽ và phức tạp. Đây là loại tài sản rất khó
định giá cho nên các bên cần thỏa thuận do pháp luật chưa có quy định về định giá
loại tài sản này.
Cũng có những trường hợp phức tạp, việc góp vốn không thể quy định gói
gọn trong một điều khoản của hợp đồng. Do đó, hợp đồng thành lập công ty phải có
những phụ lục hoặc những hợp đồng phụ như:
- Hợp đồng góp vốn bằng tài sản.
- Hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.

19


- Hợp đồng góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ…
Thỏa thuận ngành nghề kinh doanh
Thỏa thuận để xác định được ngành nghề kinh doanh cho doanh nghiệp rất
quan trọng vì ngoài thủ tục đăng ký kinh doanh thông thường, ở một số loại ngành
nghề, các nhà đầu tư còn phải xin thêm giấy phép kinh doanh, phải có chứng chỉ
hành nghề, hoặc phải đáp ứng thêm một số điều kiện đặc thù của ngành nghề đó mà
pháp luật quy định cũng như phải thực hiện đúng các điều kiện đó trong suốt quá
trình hoạt động kinh doanh.
Hiện nay pháp luật doanh nghiệp quy định ba loại hình của ngành nghề
kinh doanh chính mà đòi hỏi nhà đầu tư phải thỏa mãn thêm một số yêu cầu đối với
việc đăng ký kinh doanh, đó là: (i) các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, (ii) các
ngành, nghề kinh doanh phải có vốn pháp định, và (iii) các ngành, nghề kinh doanh
phải có chứng chỉ hành nghề.
Đối với các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện như nêu ở (i) thì tùy từng
ngành, nghề kinh doanh mà doanh nghiệp sẽ được yêu cầu phải: (i) xin giấy phép
kinh doanh do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho ngành nghề kinh doanh đó
(ví dụ như đối với ngành sản xuất phim, doanh nghiệp phải có giấy chứng nhận đủ
điều kiện kinh doanh do Cục Điện ảnh cấp trước khi làm thủ tục đăng ký kinh
doanh); hoặc (ii) đáp ứng các quy định về tiêu chuẩn vệ sinh môi trường, vệ sinh an
toàn thực phẩm; quy định về phòng cháy, chữa cháy, trật tự xã hội, an toàn giao
thông và quy định về các yêu cầu khác đối với hoạt động kinh doanh tại thời điểm
thành lập và trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Đối với ngành nghề kinh doanh phải có vốn pháp định như nêu ở (ii) ở trên
(ví dụ như kinh doanh bất động sản phải có vốn pháp định 6 tỉ đồng, dịch vụ đòi
nợ phải có vốn pháp định 2 tỉ đồng), các nhà đầu tư phải chuẩn bị văn bản xác
nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (cụ thể là xác nhận của
ngân hàng).

20


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×