Tải bản đầy đủ

Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp từ thực tiễn huyện sơn dương, tỉnh tuyên quang

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG
NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN HUYỆN SƠN DƯƠNG,
TỈNH TUYÊN QUANG

CẤN ĐỨC DUY

HÀ NỘI – 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ


PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG
NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN HUYỆN SƠN DƯƠNG,
TỈNH TUYÊN QUANG

CẤN ĐỨC DUY
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN LỆ THU

HÀ NỘI – 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và có kế thừa
các công trình nghiên cứu trước đó có liên quan đến đề tài.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày

tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Cấn Đức Duy


LỜI CẢM ƠN
Trong hơn 2 năm học tập, nghiên cứu chương trình cao học Luật Kinh tế tại
Viện Đại học Mở Hà Nội, chúng tôi đã tiếp thu được nhiều kiến thức mới, những
kinh nghiệm quý báu, là hành trang cho chúng tôi tiếp tục thực hiện tốt hơn nhiệm
vụ của mình.
Luận văn này là một phần kết quả quan trọng trong quá trình đào tạo cao
học. Với tất cả tình cảm của mình, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu
Viện Đại học Mở, các Thầy, Cô giáo trong và ngoài Viện Đại học Mở đã tận tình
giảng dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và
nghiên cứu.
Tôi xin cảm ơn TS. Trần Lệ Thu – người đã hướng dẫn tôi trong suốt quá
trình làm Luận văn. Cô giáo đã cho tôi thêm nhiều kiến thức về khoa học, cách tiếp
cận và nghiên cứu về pháp luật bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nói chung và


pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp nói riêng cũng như
giúp tôi rèn luyện kỹ năng nghiên cứu khoa học.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cơ quan của UBND huyện Sơn
Dương, tỉnh Tuyên Quang giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập
trong suốt thời gian qua.
Mặc dù tôi đã có cố gắng trong quá trình làm luận văn, song không thể tránh
khỏi những hạn chế nhất định, rất mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý và giúp đỡ quý
báu của các Thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp.

Hà Nội, tháng

năm 2018

Tác giả luận văn


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
UBND

Ủy ban nhân dân

THĐ

Thu hồi đất


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu số 01/GĐ-CHN ............................................................................................. 61
Biểu số 02/GĐ-CLN .............................................................................................. 61
Biểu số 03/GĐ-RSX .............................................................................................. 62
Biểu số 04/GĐ-NTS .............................................................................................. 63

;


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC
THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP ......................................................................... 7
1.1. Quan niệm về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp. .................. 7
1.1.1. Khái niệm về đất nông nghiệp. .................................................. 7
1.1.2. Khái niệm về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp. . 8
1.1.3. Đặc điểm của việc bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp ............................................................................................ 10
1.1.4. Ý nghĩa của việc bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp ............................................................................................ 11
1.2. Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp. .................. 12
1.2.1. Khái niệm .............................................................................. 12
1.2.2. Nguyên tắc của việc bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp ............................................................................................ 14
1.2.3. Sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật về bồi thường khi nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp và những yêu cầu đặt ra. ...................... 19
1.2.4. Nội dung pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp. ............................................................................................ 23
Kết luận chương 1 ................................................................................................. 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ
NƯỚC THĐ NÔNG NGHIỆP QUA THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI HUYỆN
SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG............................................................. 29
2.1. Thực trạng pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp.

............................................................................................ 29

2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. .............................................. 51
2.2.1.Tổng quan về bồi thường thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn
Huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang ............................................... 51


2.3.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang .... 52
Kết luận chương 2............................................................................ 77
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THĐ NÔNG NGHIỆP ......................... 78
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp. ...................................................................................................... 78
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu đất nông
nghiệp phải phù hợp với quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng . 78
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông
nghiệp phải đảm bảo lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, đảm bảo
công bằng xã hội. ............................................................................ 78
3.1.3. Hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp cần có sự thống nhất, đông thời với việc hoàn thiện pháp
luật đất đai nói chung và pháp luật chuyên ngành khác nói riêng. ...... 79
3.1.4. Đảm bảo lợi ích hài hòa giữa Nhà nước, doanh nghiệp và của
người bị thu hồi đất. . ...................................................................... 79
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp................................................................................................................ 79
3.2.2. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường khi
nhà nước thu hồi đất nông nghiệp. ..................................................................... 83
Kết luận chương 3 ............................................................................................. 85
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 87


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đối với một nước có xuất phát điểm là nông nghiệp như Việt Nam thì đất đai
là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, nguồn tư liệu sản xuất quan trọng. Tuy nhiên,
trong quá trình phát triển công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, việc sử dụng đất
đai vào các mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng để
thực hiện mục tiêu phát triển đất nước, đặc biệt là các dự án phát triển đô thị, dự án
sản xuất, kinh doanh phát triển kinh tế làm giảm diện tích đất nông nghiệp là một
điều không tránh khỏi. Hậu quả của việc thu hồi đất nông nghiệp, người dân không
còn đất sản xuất là một vấn đề bức xúc hiện nay. Vì vậy, việc bồi thường, hỗ trợ
người dân khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp đang là một vấn đề mang tính thời
sự cấp bách.
Luật Đất đai mới được Quốc hội thông qua có hiệu lực thi hành kể từ ngày
1/7/2014 đã có những đổi mới đáng kể trong công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nói chung, đất nông nghiệp nói riêng nhưng
vẫn còn nhiều vướng mắc: điều kiện hỗ trợ, bồi thường về đất, giá trị đất, nhà ở, tài
sản gắn liền với đất, chính sách hỗ trợ bồi thường quy định vẫn chưa thực sự thỏa
đáng, chưa đảm bảo cân bằng lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất, nhà đầu tư
. Từ đó dẫn đến tranh chấp, khiếu kiện kéo dài. Việc thực thi pháp luật của các cơ
quan ban ngành còn nhiều lúng túng, bị động và cứng nhắc.
Về đặc thù, huyện Sơn Dương nằm ở phía Nam của tỉnh Tuyên Quang. Là
một huyện thuộc trung du và miền núi tuy nhiên diện tích đất nông nghiệp chiếm
diện tích lớn nhất (gần 50%) với hơn 70% dân số nông thôn trong đó có gần 50%
dân số làm nghề nông, đất nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng trong phát triển
kinh tế, xã hội của huyện Sơn Dương; huyện Sơn Dương cách Trung tâm thành phố
Tuyên Quang 28km do đó có vị trí vô cùng thuận lợi trong giao lưu kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội, là đầu mối của một số tuyến giao thông quan trọng như Quốc lộ
2C, Quốc lộ 37, Đường tỉnh lộ ĐT 186, giao thông đường thủy song Lô nối với các
1


xã phía Nam của huyện và các tỉnh lân cận như Hà Giang, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc,
Phú Thọ. Là điểm đến của du khách cả nước về với chiến khu xưa Di tích lịch sử
Cây đa Tân Trào (Thủ đô Gió ngàn, thủ đô Kháng Chiến). Để thực hiện mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội, căn cứ theo báo cáo số 08/BC- PTQĐSD ngày 6/3/2016
của Chi nhánh Phát triển quỹ đất huyện Sơn Dương từ năm 2013 đến nay trên địa
bàn huyện Sơn Dương đã thu hồi 315.9 ha để thực hiện 115 dự án lớn nhỏ, trong đó
có các dự án lớn như công trình cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2C; công trình cải tạo,
nâng cấp đường ĐT 186 Thượng Ấm – Đại Phú…
Tuyên Quang - một tỉnh đang phát triển, thường xuyên tiến hành các công
tác thu hồi, bồi thường giải phóng mặt bằng, đây là địa danh thuận lợi làm cơ sở để
đánh giá, tổng kết chính xác những kết quả đạt được, những vướng mắc xảy ra khi
áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp.
Chính vì vậy, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Pháp luật về bồi thường khi nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp và thực tiễn áp dụng tại huyện Sơn Dương, tỉnh
Tuyên Quang.” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Do tầm quan trọng, tính phức tạp và nhạy cảm của bồi thường, hỗ trợ khi nhà
nước thu hồi đất nên vấn đề này đã thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả. Trong nhiều
chuyên đề nghiên cứu, trên các tạp chí, các báo cáo, bài viết, báo viết, báo điện tử đã có
nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến các nội dung xoay quanh vấn đề này. Có thể kể đến
cuốn chuyện khảo “Pháp luật về định giá trong bồi thường giải phóng mặt bằng ở Việt
Nam”, PGS.TS Doãn Hồng Nhung (chủ biên), NXB. Tư pháp 2013; chuyên đề “Bình
luận và góp ý đối với các quy định về đất, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất trong dự thảo Luật Đất đai sửa đổi” PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến tổ chức tại Đại
học Luật Hà nội; đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường (2013) “ Pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất – thực trạng và hướng hoàn thiện”
của TS.Nguyễn Thị Nga, Đại học Luật Hà Nội. Ngoài ra còn có một số bài viết tiêu
biểu như “Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất” của TS. Trần Quang Huy – Tạp
chí Luật học, số 10/2010; pháp luật về hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp,

2


Ths. Lê Ngọc Thạch;,…. Một số luận án, luận văn nghiên cứu xoay quanh vấn đề bồi
thường hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp trong thời gian gần đây như Luận
văn “Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư người có đất bị thu hồi trong giải phóng mặt bằng
và giải pháp hoàn thiện” Đỗ Phương Linh (2012). Luận văn “ Pháp luật về sử dụng đất
nông nghiệp ở Việt Nam” Nguyễn Danh Kiên(2012). Luận án tiến sĩ luật học “Pháp
luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam” Phạm Thu Thủy
(2014); Luận văn Thạc sĩ luật học “Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất từ
thực tiễn thành phố Đà Nẵng” Nguyễn Tân Cảnh (2017); Luận văn Thạc sĩ luật học
“Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh
Tây Ninh” Nguyễn Tất Đắc (2018); Luận văn Thạc sĩ luật học “Pháp luật về bồi
thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất” Nguyễn Vinh Diện (2006); Luận văn Thạc
sĩ luật học “Pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Quảng
Nam” Lê Thành Long (2017); Luận văn Thạc sĩ luật học “Pháp luật về Hỗ trợ, tái định
cư khi nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế” Lê Phú Lượng (2018);
Các nghiên cứu này đã phân tích, làm rõ cơ sở lý luận về bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất; đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất nói chung trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh Luật Đất đai năm
2013 mới được triển khai, chưa có nhiều công trình chuyên sâu về bồi thường khi
nhà nước thu hồi đất nông nghiệp theo quy định của Luật đất đai năm 2013 đặc biệt
việc tập trung xem xét, nghiên cứu thực tiễn áp dụng tại một huyện thuộc tỉnh trung
du miền múi như Sơn Dương thì chưa có công trình nào nghiên cứu. Luận văn
nghiên cứu và kế thừa các thành quả của các nhà nghiên cứu trước nhưng có sự tập
trung về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp một cách chuyên sâu hơn
qua thực tiễn áp dụng tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận về bồi thường khi nhà nước thu
hồi đất nông nghiệp, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về
bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên

3


Quang. Qua đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp, những vấn đề lý luận về pháp luật bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp từ đó xác định bản chất , nội dung, yêu cầu của pháp luật bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
+ Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu
hồi đất nông nghiệp, chỉ ra những kết quả đạt được, nguyên nhân hạn chế, tồn tại
của pháp luật trong lĩnh vực này.
+ Đưa ra định hướng, đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về
bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp và các giải pháp nâng cao hiệu
quả công tác thực thi pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng:
- Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về pháp luật về bồi thường khi nhà nước
thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang theo luật Đất đai
năm 2013.
- Nghiên cứu khía cạnh pháp lý về vấn đề pháp luật bồi thường khi nhà nước
thu hồi đất nông nghiệp không nghiên cứu khía cạnh xã hội, kỹ thuật ..
Phạm vi:
- Luận văn nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường khi Nhà
nước THĐ nông nghiệp và thực tiễn áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này trên địa
bàn huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Thời gian nghiên cứu là 5 năm từ năm
2013 đến 2017.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận:

4


Cơ sở phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lê nin.
-Phương pháp nghiên cứu:
Để giải quyết yêu cầu của đề tài, luận văn sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu cụ thể sau:
* Phương pháp nghiên cứu hệ thống được sử dụng để xem xét, đánh giá quá
trình phát triển của pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
qua các thời kì ( Sử dụng trong Chương 1, Chương 2)
*Phương pháp phân tích, phương pháp lập luận lôgic được sử dụng để
nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp ( Sử dụng trong Chương 1)
* Phương pháp bình luận, phương pháp đối chiếu, phương pháp đánh giá …
được sử dụng để tìm hiểu thực trạng pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi
đất nông nghiệp và thực tiễn áp dụng tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. ( Sử
dụng trong Chương 2)
* Phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp, phương pháp suy luận logic
… được sử dụng để đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi
thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp và thực tiễn áp dụng tại huyện Sơn
Dương tỉnh Tuyên Quang ( Sử dụng tại Chương 3)
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu
Luận văn này cung cấp một cách trực diện những vấn đề lý luận về bồi
thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Luận văn là nguồn tư liệu tổng hợp về thực trạng thường khi nhà nước thu
hồi đất nông nghiệp tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Cung cấp thêm các
luận cứ khoa học trong công tác bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang trong thời gian tới.
Luận văn có giá trị tham khảo đối với sinh viên đại học, cao học luật và hành
chính, có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu ở

5


Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện, hoặc làm tài liệu tham khảo cho những ai
quan tâm đến vấn đề này.
Những đề xuất, giải pháp của luận văn là tư liệu tham khảo để các nhà hoạch
định pháp luật tiếp tục hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ
NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ
NƯỚC THĐ NÔNG NGHIỆP QUA THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI HUYỆN SƠN
DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG KHI NHÀ NƯỚC THĐ NÔNG NGHIỆP

6


CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
1.1.

Quan niệm về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp.

1.1.1. Khái niệm về đất nông nghiệp.
Đất nông nghiệp là thuật ngữ được dùng phổ biến trong các văn bản luật đất
đai ở Việt Nam, được hiểu là đất trồng lúa, trồng cây hoa màu như ngô, khoai, sắn
và những loại cây được coi là lương thực. Tuy nhiên, trên thực tế còn có nhiều loại
cây lâu năm khác…
Theo Từ điển Luật học của Bộ Tư pháp: “Đất nông nghiệp là tổng thể các
loại đất được xác định là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho việc trồng trọt và
chăn nuôi, nghiên cứu thí nghiệm về trồng trọt và chă nuôi, bảo vệ môi trường sinh
thái, cung ứng sản phẩm cho các ngành côn nghiệp và dịch vụ [40, tr.237-238]
Theo quy định tại Luật Đất đai năm 1993: “Đất nông nghiệp là đất được xác
định chủ yếu sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi
trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp”
Theo quy định tại Luật Đất đai năm 2003 thì khái niệm đất nông nghiệp
không được đề cập đến mà chỉ đưa ra thuật ngữ “Nhóm đất nông nghiệp” và đất đai
được chia làm ba loại căn cứ vào mục đích sử dụng đất. Cụ thể, nhóm đất nông
nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng [22,tr.6].
Cũng tương tự Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013 giải thích đất
nông nghiệp đưới dạng 3 nhóm đât. Theo đó, Nhóm đất nông nghiệp bao gồm: Đất
trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; Đất trồng
cây lâu năm; Đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ; Đất rừng đặc dụng; Đất nuôi
trồng thủy sản; Đất làm muối; Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng
nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng
trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các
loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng
thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con

7


giống và đất trồng hoa, cây cảnh (Theo Khoản 1 Điều 10 Luật Đất đai năm 2013)
[23, tr.17].
Về cơ bản cách hiểu đất nông nghiệp theo Luật Đất đai năm 2013 đã rất chi tiết,
phân loại rõ ràng tránh cách hiểu hạn hẹp, không bao quát được hết các loại đất
nông nghiệp, gây thiệt thòi cho người dân khi tiến hành bồi thường cũng như giải
quyết các chế độ chính sách, Luật Đất đai năm 2013 Luật hóa quy định về đất nông
nghiệp khác. Theo đó, cách hiểu dất nông nghiệp khác không còn mang nặng ảnh
hưởng về mặt địa lý, đó không chỉ là các loại đất chỉ có ở nông thôn mà còn là đất
có xây dựng công trình để trồng trọt, chăn nuôi, ở cả đô thị và nông thôn. Ngoài ra,
theo Luật Đất đai năm 2013 đất xây dựng không để trồng trọt, chăn nuôi trong các
trạm, trại nghiên cứu và cơ sở ươm tạo cây giống, con giống; nhà kho của dân để
chứa nông sản, thuộc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông
nghiệp đồng thời thêm đất trồng hoa, cây cảnh cũng không còn được coi là đất nông
nghiệp khác.
Như vậy việc kết hợp sử dụng nhiều loại đất thuộc nhóm đất nông nghiệp như
vậy là một nhu cầu tất yếu khách quan của mỗi hộ muốn nâng cao năng lực sản
xuất, tận dụng quỹ đất để khai thác đất đai có hiệu quả, bên cạnh đó cũng thể hiện
sự thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước trong việc khuyến khích
sản xuất nông nghiệp theo mô hình nông trang trại kết hợp với nông – lâm – ngư –
diêm nghiệp. Do vậy tôi cho rằng việc phân loại đất nông nghiệp như quy định của
luật đất đai hiện hành là hợp lý.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu một cách chung nhất: Đất nông nghiệp bao
gồm tổng thể các loại đất có đặc tính sử dụng giống nhau là tư liệu sản xuất chủ
yếu phục vụ cho nục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp như trồng trọt, chăn
nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, đất làm muối; nghiên cứu thí nghiệm về nông
nghiệp, lâm nghiệp.
1.1.2. Khái niệm về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp.
Khái niệm về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp có rất nhiều
quan điểm:

8


Quan điểm thứ nhất: Hiến pháp năm 1992 không quy định về vấn đề thu hồi
đất, mà chỉ quy định về vấn đề trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản
hợp pháp của cá nhân, tổ chức (Điều 23, Hiến pháp năm 1992). Trường hợp trưng
mua quyền sử dụng đất, Nhà nước sẽ bù đắp tổn thất cho người sử dụng theo cơ chế
bồi hoàn thỏa đáng [10].
Quan điểm thứ hai: “Bồi thường” hay “đền bù” thiệt hại khi Nhà nước thu
hồi đất, vấn đề cần định danh lại. Trước hết cần thấy rằng: Thu hồi đất theo quy
định của pháp luật đất đai, là việc Nhà nước bằng quyền lực của nhân dân giao phó
(Nhà nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và
vì nhân dân) và bằng ý chí của mình do pháp luật quy định, quyết định thu hồi đất
của tổ chức, cá nhân vì lợi ích của toàn xã hội. Do vậy, trong trường hợp này, pháp
luật nên quy định là “đền bù thiệt hại” khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục
đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng [28, tr.40].
Quan điểm thứ ba: “Thu hồi đất” và “Bồi thường khi thu hồi đất” là những
thuật ngữ luôn gắn liền với chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai và Nhà nước là
người đại diện. Điều này cần được xem xét ở hai khía cạnh; Quyền đại diện sở hữu
của Nhà nước đối với đất đai là cơ sở, là nền tảng pháp lý cho Nhà nước thực hiện
việc thu hồi đất; Bồi thường là hệ quả tất yếu sau thu hồi, nếu người sử dụng đất
đáp ứng được các điều kiện do pháp luật đất đai quy định. Mặt khác, “bồi thường”
là thuật ngữ phù hợp đặt trong bối cảnh Nhà nước thu hồi đất với tư cách là chủ sở
hữu đại diện đối với đất đai. [30, tr.33]
Mặt khác, xét về mặt bản chất, thì “bồi thường” hay “đền bù” hay “bồi hoàn”
đều là sự bù đắp tương xứng những thiệt hại đã gây ra. Đây là những thuật ngữ có
nội hàm tương đối đồng nhất. Thiết nghĩ, không nên bàn sâu về vấn đề thuật ngữ
này, bởi vì không mang lại nhiều ý nghĩa về mặt thực tiễn, cũng như không làm
thay đổi nội dung về trách nhiệm và nghĩa vụ lớn lao của Nhà nước đối với người
dân, khi Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất. Điều quan trọng là, khi Nhà nước thu
hồi đất, cần phải có cơ chế thực hiện một cách nghiêm túc sự bù đắp tương xứng

9


với những thiệt hại hữu hình và vô hình về vật chất và tinh thần cho người dân có
đất bị thu hồi.
Xuất phát từ các quan điểm trên, có thể đưa ra khái niệm về bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp như sau: “Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp là việc Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho
thuê đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc
gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế phải bù đắp những tổn hại về đất và tài sản
trên đất do hành vi thu hồi đất gây ra, cho người sử dụng đất tuân theo những quy
định của pháp luật đất đai”.
1.1.3. Đặc điểm của việc bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Thứ nhất, cơ sở làm phát sinh việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp, đó là khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng cho mục đích quốc phòng, an
ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng hay vì mục tiêu phát triển kinh tế. Pháp luật
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp phải giải quyết hài hòa mâu thuẫn
giữa lợi ích “công” của nhà Nhà nước, của xã hội và lợi ích “tư” của người sử dụng
đất trong thu hồi đất. Điều này thể hiện khi thu hồi đất để sử dụng cho mục đích
chung thì Nhà nước phải chú trọng bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử
dụng đất nông nghiệp bị thu hồi, dựa trên cơ sở quyền sử dụng đất là một loại quyền
về tài sản được pháp luật bảo hộ, hơn thế nữa đất nông nghiệp còn được coi là tư
liệu sản xuất đặc thù của người nông dân.
Thứ hai, về đối tượng được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
chỉ những người có quyền sử dụng đất nông nghiệp hợp pháp tức là có giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, hoặc có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất hoặc đủ điều
kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới được bồi thường.
Thứ ba, về phạm vi bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp, hộ gia
đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp không chỉ được bồi thường các thiệt hại
vật chất thực tế, mà người nông dân phải gánh chịu khi Nhà nước thu hồi đất, mà
còn phải tính đến những tổn hại phi vật chất ở thời điểm thu hồi và trong tương lai
mà người nông dân phải đối mặt. Bởi lẽ, đối tượng bị thu hồi đất nông nghiệp có

10


điều kiện sống và công việc để mưu sinh mang đặc thù riêng, khác với các chủ thể
sử dụng đất khác, đất bị thu hồi chính là tư liệu sản xuất chính không gì thay thế
được của một nghề nghiệp được coi là duy nhất đối với người nông dân. Do vậy
Nhà nước cần xem xét, giải quyết các vấn đề mang tính xã hội như được hỗ trợ ổn
định đời sống, ổn định sản xuất, chuyển đổi việc làm thông qua đào tạo nghề mới.
1.1.4. Ý nghĩa của việc bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Một là: Đảm bảo bồi thường những tổn thất cho người có đất bị thu hồi
Có thể nói, pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp là
một lĩnh vực pháp luật nhạy cảm. Nó thu hút sự quan tâm của mọi người dân trong
xã hội, đặc biệt là những người bị thu hồi đất. Việc bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất nông nghiệp nhằm bù đắp những tổn thất mà người sử dụng đất phải gánh
chịu, đồng thời giải quyết các vấn đề kinh tế- xã hội là hậu quả của việc Nhà nước
thu hồi đất gây ra.
Hai là: Đảm bảo ổn định tình hình chính trị, đảm bảo quyền lợi và lợi ích
hợp pháp của người sử dụng đất
Đảo đảm cho người dân nhanh chóng có chỗ ở mới để đảm bảo cuộc sống,
giải quyết hài hòa giữa việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước,
nhà đầu tư và người sử dụng đất. Các quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất nông nghiệp được ban hành phù hợp với thực tiễn, bảo hộ quyền và lợi ích hợp
pháp của người dân thì được họ đồng tình ủng hộ, haaij quả là việc thu hồi đất được
thực hiện nhanh chóng, dứt điểm. Ngược lại các quy định về bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp (đặc biệt là các quy định về giá đất bồi thường) không
phù hợp với thực tế, tác động tiêu cực đến tâm lý, suy nghĩ của người dân thì sẽ
không nhận được sự đồng thuận, phát sinh các tranh chấp, khiếu kiện kéo dài tiềm
ẩn nguy cơ mất ổn định chính trị - xã hội; hậu quả là việc thu hồi đất gặp nhiều khó
khăn, phức tạp và thậm chí là không thực hiện được.
Ba là: Bồi thường khi Nhà nước THĐ còn thể hiện trách nhiệm của Nhà
nước nhằm bù đắp tổn thất về quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất do
hành vi thu hồi đất của Nhà nước.

11


1.1.5. Phân biệt giữa hỗ trợ với bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Theo Khoản 12 Điều 3 và Điều 74 Luật Đất đai 2013: Bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyên sử dụng đất đối với diện tích
đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất.
Theo Khoản 14 Điều 3 và Điều 83 Luật Đất đai 2013 thì: Hỗ trợ khi Nhà
nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo
nghề mới, bố chí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm chỗ ở mới để ổn
định đời sống, sản xuất và phát triển.
Như vậy sự khác nhau căn bản giữa bồi thường và hỗ trợ, tái định cư là: Bồi
thường là khái niệm xuất phát từ ngành luật dân sự mang tính tương xứng với các
nguyên tắc chủ thể nào gây thiệt hại, chủ thể đó phải bồi thường; thiệt hại đến đâu,
bồi thường đến đó. Trong khi đó, khái niệm hỗ trợ là “giúp đỡ” mang tính chính
sách, thể hiện việc cộng thêm vào nên không đòi hỏi tính tương xứng như bồi
thường.
1.2.

Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp.

1.2.1. Khái niệm
Trong quan hệ pháp Luật Đất đai, thuật ngữ “bồi thường” đã được đề cập từ
rất sớm. Tuy nhiên, khi Luật Đất đai năm 2001 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Đất đai năm 1993 được Quốc hội ban hành, thuật ngữ “bồi thường” được sử
dụng trở lại và tiếp tục xuất hiện trong Luật Đất đai năm 2003. Theo đó, “Bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất
đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất” (Khoản 6, Điều 4 Luật Đất
đai năm 2003). Quan điểm này chưa thật toàn diện, bởi lẽ nếu quy định bồi thường
là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất là không đúng. Giá trị của đất, đặc
biệt là đất nông nghiệp không bao giờ giữ nguyên ban đầu mà luôn tăng thêm do có
sự cải tạo, đầu tư của con người. Bên cạnh việc bồi thường giá tri ̣ quyền sử dụng
đất , Nhà nước còn có các chính sách bồi thường với tài sản trên đất, những chi phí
đầu tư vào đất. Chẳng hạn thực tế trường hợp Nhà nước giao đất nông nghiệp không

12


thu tiền cho hộ gia đình, cá nhân Nhà nước vẫn tiến hành bồi thường chi phí đầu tư
vào đất.
Nhằm có cách hiểu rõ ràng hơn về đinh nghĩa này, tách bạch rạch ròi giữa
bồi thường về đất và bồi thường về tài sản , Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi
hành từ ngày 01/7/2014 tại Khoản 12 Điều 3 đã giải thích rõ “Bồi thường về đất là
việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho
người sử dụng đất” còn những vấn đề bồi thường về tài sản gắn liền với đất , những
chi phí đầu tư vào đất được quy định cụ thể hơn tại các điều luật khác. Bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất về cơ bản vẫn có một số đặc trưng sau:
- Bồi thường nhà nước là hậu quả pháp lý trực tiếp do hành vi thu hồi đất của
Nhà nước, nó chỉ phát sinh sau khi có quyết định hành chính của về thu hồi đất của
cơ quan có thẩm quyền.
- Bồi thường là trách nhiệm của Nhà nước nhằm bù đắp tổn thất về quyền và
lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất do hành vi thu hồi đất của Nhà nước.
- Người bi ̣Nhà nước thu hồi đất không chỉ được bồi thường về đất mà còn
được bồi thường về tài sản trên đất và được xem xét , hỗ trợ giải quyết các vấn đề
mang tính xã hội như ổn định đời sống, ổn định sản xuất, chuyển đổi việc làm...
- Việc bồi thường chỉ được áp dụng với các đối tượng bi ̣ thu hồi đất đáp ứng
những điều kiện nhất đi ṇ h theo quy định của pháp luật. Từ những phân tích, căn cứ
trên ta có thể hiểu đầy đủ về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp là
việc Nhà nước bù đắp những thiệt hại , tổn hại về đất và tài sản, chi phí đầu tư trên
đất do hành vi thu hồi đất nông nghiệp gây ra cho người sử dụng đất đáp ứng các
quy định của pháp luật về đất đai. Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp là tổng hợp các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh
trong quá trình nhà nước bồi thường về đất, tài sản, chi phí đầu tư trên đất khi Nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp. Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp là một lĩnh vực pháp luật khá nhạy cảm. Bên cạnh việc chịu sự chi
phối bởi hình thức sở hữu toàn dân về đất đai pháp luật về bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất nông nghiệp còn có những đặc trưng riêng như: cơ sở để bồi thường

13


trong pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp không chỉ dựa trên những thiệt hại thực
tế mà người nông dân phải gánh chịu ngay tại thời điểm thu hồi mà còn tính đến các
thiệt hại trong tương lai bởi vai trò không gì thay thế được của đất nông nghiệp với
người nông dân, khác với chủ thể khác, các loại đất khác, đất nông nghiệp là tư liệu
sản xuất chính trong nghề nông, nghề nghiệp duy nhất của người nông dân. Ngoài
ra, pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp áp dụng chủ yếu
đối với cá nhân, hộ nông dân ở nông thôn là sự kết hợp đan xen hài hòa giữa nhiều
biện pháp khác nhau: biện pháp hành chính, biện pháp kinh tế, thuyết phục và
cưỡng chế. Đặc biệt, ở mỗi địa phương khác nhau khi thực hiện việc bồi thường đối
với người nông dân bị thu hồi đất thì bên cạnh việc tuân thủ các quy định chung của
pháp luật cần chú trọng đặc điểm vùng miền, đặc điểm của các loại đất để có định
hướng, quy định phù hợp.[20, tr.16- 17]
Từ những điều nêu trên có thể hiểu pháp luật về bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất nông nghiệp như sau: “Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất nông nghiệp, nhằm giải quyết hài hòa lợi ích của người bị thu hồi đất, lợi ích
của Nhà nước, lợi ích của chủ đầu tư”.
1.2.2. Nguyên tắc của việc bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Việc quản lý đất đai nói chung luôn phải tuân thủ những nguyên tắc nhất
định, đối với vấn đề nhạy cảm, dễ phát sinh khiếu kiện như bồi thường, hỗ trợ khi
Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp thì các quy định của pháp luật càng phải bảo đảm
tuân thủ các nguyên tắc cơ bản. Nếu như các quy định các nguyên tắc bồi thường,
hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nói chung, đất nông nghiệp nói riêng nằm rải rác tại
các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003 (Điều 14 Nghị định số
69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 và Điều 18 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày
3/12/2004) thì Luật Đất đai năm 2013 đã Luật hóa các nguyên tắc này đồng thời
tách nguyên tắc bồi thường về đất và nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản,
ngừng sản xuất kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thành 02 điều riêng biệt (Điều

14


74 và Điều 88 Luật Đất đai năm 2013) và có một điều luật riêng quy định về
nguyên tắc hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất (Điều 83 Luật Đất đai năm 2013). Trong
đó, quy định cụ thể các nguyên tắc bồi thường về đất và các nguyên tắc bồi thường
thiệt hại về tài sản gắn liền với đất, nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để
các bộ, nghành, địa phương và người thu hồi đất căn cứ vào đó thống nhất thực
hiện. Theo đó, về cơ bản, nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp thể hiện trên các khía cạnh sau:
Thứ nhất, người bị thu hồi đất có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật
thì được bồi thường, hỗ trợ. Việc bồi thường được đặt ra khi Nhà nước thu hồi đất
sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và
vào mục tiêu phát triển kinh tế. Tuy nhiên, để được bồi thường, hỗ trợ, người bị thu
hồi đất còn phải thỏa mãn những điều kiện do pháp luật quy định: Khoản 1 Điều 74
Luật Đất đai xác định khẳng định nguyên tắc : “Người sử dụng đất khi Nhà nước
thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này
thì được bồi thường”. Ngoài ra, với các trường hợp không được bồi thường về đất
luật cũng xác định vấn đề bồi thường về chi phí đầu tư vào đất còn lại (Khoản 1
Điều 76 Luật Đất đai năm 2013). Việc bồi thường về tài sản sản xuất, kinh doanh
khi Nhà nước thu hồi đất cũng chỉ được đặt ra khi “chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn
liền với đất bị thiệt hại về tài sản được bồi thường” và “Khi Nhà nước thu hồi đất
mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại
thì được bồi thường thiệt hại” Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được xem
như là sự bồi hoàn những thiệt hại trực tiếp mà người sử dụng đất phải gánh chịu do
việc thu hồi đất gây ra. Bên cạnh việc bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất,
người sử dụng đất có đất bị thu hồi còn được xem xét hỗ trợ: “Người sử dụng đất
khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật này
còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ” (Điểm a, Khoản 1 Điều 83 Luật Đất đai năm
2013). Đối với trường hợp người trực tiếp sản xuất bị thu hồi đất nông nghiệp mà
không có đất nông nghiệp khác để bồi thường cho việc tiếp tục sản xuất, thì ngoài

15


việc được bồi thường, còn được Nhà nước hỗ trợ để ổn định cuộc sống, được hỗ trợ
đào tạo chuyển đổi nghề, bố trí việc làm mới. Điều này là hành động cần thiết bởi
vì, đất nông nghiệp không chỉ là tư liệu sản xuất đặc biệt mà còn là điều kiện bảo
đảm việc làm cho người nông dân. Khi đất nông nghiệp của họ đã bị thu hồi do nhu
cầu của Nhà nước thì Nhà nước phải bồi thường, hỗ trợ không chỉ về mặt vất chất
mà còn trong việc đào tạo chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm mới. Đây không chỉ
là nghĩa vụ pháp lý mà còn là trách nhiệm xã hội, chính trị, thể hiện rõ tính nhân
đạo của Nhà nước.
Thứ hai, việc bồi thường bảo đảm đầy đủ các thiệt hại. Khi Nhà nước thu
hồi đất nông nghiệp, người dân không chỉ thiệt hại về đất mà còn có những thiệt hại
về tài sản trên đất, các hoa lợi, lợi tức thu được do việc sử dụng đất. Để bảo đảm bồi
thường đầy đủ các thiệt hại, phạm vi bồi thường không chỉ dừng lại ở đất bị thu hồi
mà còn có bồi thường cả những thiệt hại về tài sản, sản xuất kinh doanh. Luật Đất
đai năm 2013 quy định cụ thể nguyên tắc bồi thường về đất và về tài sản nhằm bảo
vệ lợi ích chính đáng của người có đất bị thu hồi. “Việc bồi thường được thực hiện
bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất
để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi
do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất”
(Khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013) Nguyên tắc này tạo sự linh hoạt khi cho
phép cơ quan thẩm quyền cũng như người bị thu hồi đất nông nghiệp lựa chọn được
phương án bồi thường phù hợp. Đối với trường hợp bồi thường bằng đất có cùng
mục đích sử dụng đối với người sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất
được xem là quy định tích cực, nhằm tạo điều kiện cho người bị thu hồi đất nông
nghiệp tiếp tục được kinh doanh, sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, việc bồi thường
về đất cùng mục đích sử dụng cũng tránh những tiêu cực, lợi dụng, tranh chấp
không đang có trong bồi thường đất nông nghiệp. Trong thực tiễn sử dụng đất nông
nghiệp, việc vi phạm mục đích sử dụng đất khá phổ biến, đó là việc chuyển từ đất
nông nghiệp sang mục đích phi nông nghiệp. Trong những trường hợp này, khi bị
thu hồi đất, người sử dụng đất có thể tìm cách, gây khó khăn, nhân cơ hội để đòi bồi

16


thường với giá đất phi nông nghiệp. Vì vậy, pháp luật cũng quy định rõ, người sử
dụng đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật nhưng tự ý sử dụng làm đất phi
nông nghiệp thì chỉ được bồi thường theo đất nông nghiệp. Bồi thường đất cùng
mục đích sử dụng là bảo đảm sự công bằng giữa tất cả người sử dụng đất có đất bị
thu hồi. Tuy nhiên, việc bồi thường bằng đất nông nghiệp trong thực tế chỉ được
triển khai khi quỹ đất nông nghiệp của địa phương còn. Đồi với bồi thường về tài
sản, Điều 88 Luật Đất đai năm 2013 quy định nguyên tắc: “1. Khi Nhà nước thu hồi
đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thiệt hại về tài sản thì được
bồi thường. 2. Khi Nhà nước thu hồi đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải
ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại” Nếu chỉ
bồi thường về giá trị sử dụng của đất mà bỏ qua những thiệt hại về tài sản gắn liền
với đất và đặc biệt là bỏ qua những thiệt hại khi ngừng sản xuất, kinh doanh sẽ là
một thiếu sót trong chính sách pháp luật về bồi thường. Việc bồi thường về tài sản
gắn liền với đất được xem xét khi chủ sở hữu tài sản đó hợp pháp; việc bồi thường
thiệt hại trong sản xuất kinh doanh được đặt ra khi người có đất bị thu hồi phải
ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại. Nói cách khác, khi có thiệt hại xảy ra
thì người sử dụng đất có đất bị thu hồi sẽ được xem xét bồi thưởng, bảo đảm việc
bồi thường đầy đủ các thiệt hại.
Thứ ba, việc bồi thường phải theo giá thị trường Điều này là cơ sở để bảo
đảm lợi ích cho người có đất bị thu hồi, để họ thấy việc bồi thường là thỏa đáng và
tự nguyện trả lại đất được giao. Đối với trường hợp bồi thường về đất, Luật Đất đai
năm 2013 quy định: “được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu
hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất”
(Khoản 2 Điều 74). Nghị định số 47/2014/NĐ-CP cũng quy định: “Chi phí đầu tư
vào đất còn lại được tính phải phù hợp với giá thị trường tại thời điểm có quyết định
thu hồi đất”. Về lý thuyết, việc bồi thường phải dựa trên thiệt hại thực tế, tuy nhiên
đối với đất nông nghiệp, tuy giá đất bồi thường tính thấp hơn so với đất phi nông
nghiệp và đặc biệt thấp hơn nhiều so với giá đất thị trường, sự biến động giá đất

17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×