Tải bản đầy đủ

Tìm hiểu về di tích chùa Bút Tháp, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu : “Tìm hiểu về di tích chùa Bút


Tháp, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh” là đúng sự thật và do chính tôi thực
hiện. Nếu có gì sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về các nội dung trong
đề tài đã nghiên cứu.

22


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô TS. Bùi Thị Ánh Vân - giảng
viên bộ môn “Phương pháp nghiên cứu khoa học” của khoa Văn hóa - Thông tin
và xã hội đã trang bị cho tôi những kiến thức, kĩ năng cơ bản để tôi hoàn thành
đề tài nghiên cứu này.
Tôi cũng xin cảm ơn Ban quản lý chùa Bút Tháp đã tạo điều kiện cho tôi
có thêm hiểu biết về lịch sử, kiến trúc cũng như các giá trị tâm linh của di tích
chùa Bút Tháp.
Tôi hi vọng tài liệu này sẽ là cẩm nang hữu ích cung cấp cho bạn đọc
những kiến thức lịch sử - văn hoá cơ bản và cụ thể về di tích chùa Bút Tháp.
Mặc dù trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã cố gắng tổng hợp đầy đủ

bề dầy và bề sâu lịch sử - văn hoá và các giá trị của di tích chùa Bút Tháp nhưng
tôi khó tránh khỏi những sai sót khi tìm hiểu, đánh giá cũng như trình bày về đề
tài nghiên cứu này. Tôi rất mong bạn đọc thông cảm và mong giành được sự
quan tâm đóng góp ý kiến của cô giáo và các bạn để bài nghiên cứu để tôi tiếp
tục bổ sung, hoàn thiện đề tài hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

33


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
1
2

Từ viết tắt
Nxb
TBT

Nội dung viết tắt
Nhà xuất bản
Tổng bí thư

44


MỤC LỤC

55


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam có một hệ thống các di tích – văn hóa khá đồ sộ và phong phú,
có mặt ở khắp mọi miền của đất nước. Nó bao trùm lên toàn bộ đời sống vật
chất và tinh thần của toàn xã hội theo suốt chiều dài lịch sử.
Nằm ở vùng Đông Bắc Bộ - nơi có mật độ các di tích lịch sử - văn hóa
vào loại cao nhất trong cả nước. Bắc Ninh – một địa danh với rất nhiều các khu
di tích lịch sử được xếp hạng quốc gia như : Chùa Bút Tháp, Đền thờ Kinh
Dương Vương, chùa Dâu, thành Luy Lâu, xã Thanh khương, chùa Xuân Quan,


xã Trí Quả, đình Đông Cốc, đền thờ Sỹ Nhiếp,…. Đây không chỉ là nơi để cho
mọi người về đây hành hương lễ thánh nơi các đệ tử tìm về chốn linh thiêng mà
còn là nơi để du khách tham quan vãng cảnh đền tìm hiểu di tích, lịch sử, chiêm
ngưỡng kiến trúc độc đáo và thưởng thức vẻ đẹp sơn thuỷ hữu tình của thiên
nhiên hoà quyện nơi đây. Chùa Bút Tháp mang trong mình rất nhiều giá trị về
lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật cũng như tâm linh đại diện cho những nét đẹp
văn hóa đặc trưng riêng của vùng đất Bắc Ninh.
Vì vậy, nghiên cứu về di tích chùa Bút Tháp nhằm góp phần giữ gìn bản
sắc văn hoá truyền thống tốt đẹp của vùng này đang bị biến đổi mạnh mẽ trong
đời sống xã hội hiện đại. Đồng thời qua đó khai thác triệt để và phát huy các giá
trị của khu di tích lịch sử này nhằm phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân
trong vùng và hoạt động du lịch của địa phương trong sự nghiệp phát triển kinh
tế hiện nay. Chính vì lý do đó, tôi đã chọn đề tài:“Tìm hiểu về di tích chùa Bút
Tháp, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài để thi kết thúc học phần
môn phương pháp nghiên cứu khoa học.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong đề tài nghiên cứu này, bài nghiên cứu chỉ xin nêu một số tác phẩm
tiêu biểu nghiên cứu về chùa Bút Tháp. Vì là ngôi chùa cổ và có rất nhiều cá
nhân tìm hiểu và khai thác giá trị đặc sắc của di tích này.
L. Bezacier là người đi tiên phong trong nghiên cứu cùa Bút Tháp với
66


“Những tiểu luận về nghệ thuật An Nam” (1944), “Nghệ thuật Việt Nam”
(1955), “Những bức phù điêu chùa Ninh Phúc ở Bút Tháp” (1965). Thanh
Hương và Phương Anh trong cuốn “Hà Bắc ngàn năm văn hiến” (1973), đã khảo
sát sơ bộ về lịch sử chùa Bút Tháp.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu trình bày về di tích chùa Bút Tháp, diễn trình lịch sử, cành
quan, kiến trúc, hệ thống tượng thờ của khu di tích, từ đó đưa ra những giá trị
của di tích chùa Bút Tháp.
Trên cơ sở những giá trị của khu di tích, tôi đưa ra những giải pháp nhằm
bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích chùa Bút Tháp.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành thực hiện nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, trên cơ sở phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu phổ biến trong nghiên cứu khoa học, cụ thể như:
Phương pháp khảo sát thực tế: được vận dụng để tìm hiểu, nguồn gốc,
kiến trúc và giá trị của lễ hội đền Trần.
Phương pháp phân tích, tổng hợp: trên cơ sở những thông tin thu thập
được chúng tôi đã tiến hành phân tích thực trạng về lễ hội đền Trần tại phường
Lộc Vượng tỉnh Nam Định. Từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá về lễ hội một
cách khách quan và đầy đủ hơn.
Phương pháp logic: để thấy cái chung và cái riêng của đối tượng nghiên cứu.
5. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng khu di tích chùa Bút Tháp,
huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
- Thời gian: từ năm 2017 đến năm 2018.

77


7. Cấu trúc của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được
chia làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về di tích và khái quát về huyện Thuận
Thành, tỉnh Bắc Ninh
Chương 2: Thực trạng di tích chùa Bút Tháp huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc
Ninh
Chương 3: Một số nhận xét và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo
tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội đền Trần.

88


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DI TÍCH VÀ KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN
THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH
1.1 Lý luận chung về di tích
1.1.1. Một số khái niệm
- Theo Hán Việt tự điển.
+ Di: Sót lại, rơi lại, để lại.
+ Tích: Tàn tích, dấu vết.
+ Di tích: Tàn tích, dấu vết còn lại của quá khứ.
- Theo Đại từ điển Tiếng Việt: Di tích lịch sử văn hóa là tổng thể những
công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị
văn hóa được lưu lại.
- Theo luật di sản văn hóa của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
được quốc hội khóa X thông qua trong kỳ họp thứ 9 ngày 29-09-2001: Di tích
lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật bảo vật
quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử văn hóa khoa học.
- Di tích lịch sử, văn hoá phải có một trong các tiêu chí:
+ Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiến lịch sử tiêu biểu trong quá
trình dựng nước và giữ nước.
+ Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh
hùng dân tộc, danh nhân của đất nước.
+ Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các
thời kỳ cách mạng, kháng chiến.
+ Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ.
+ Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá
trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử.
1.1.2. Đường lối, chính sách của nhà nước về di tích
Theo luật di sản quy định:

99


- Luật di sản quy định về các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản
văn hoá; xác định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đối với di sản văn hoá
ở nước Cộng hoá Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Nhà nước thống nhất quản lý di sản văn hoá thuộc sở hữu toán dân; công
nhân và bảo vệ các hình thức sở hữu tập thể, sở hữu chung của cộng đồng, sở
hữu tư nhân và các hình thức sở hữu khác về di sản văn hoá theo quy định của
pháp luật.
- Nhà nước có chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm
nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đóng
góp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.
- Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu di sản văn
hóa. Chủ sở hữu di sản văn hóa có trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị di sản
văn hóa.
- Nhà nước đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ,
nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong việc bảo vệ và phát huy giá
trị di sản văn hóa.
- Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân
(sau đây gọi là tổ chức) và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị di
sản văn hóa.
- Các cơ quan văn hóa, thông tin đại chúng có trách nhiệm tuyên truyền,
phổ biến rộng rãi ở trong nước và nước ngoài các giá trị di sản văn hóa của cộng
đồng các dân tộc Việt Nam, góp phần nâng cao ý thức bảo vệ và phát huy giá trị
di sản văn hóa trong nhân dân.
Di sản văn hóa Việt Nam được sử dụng nhằm mục đích:
- Phát huy giá trị di sản văn hóa vì lợi ích của toàn xã hội;
- Phát huy truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam;

10
10


- Góp phần sáng tạo những giá trị văn hóa mới, làm giàu kho tàng di sản
văn hóa Việt Nam và mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế.
Nghiêm cấm các hành vi sau đây:
- Chiếm đoạt, làm sai lệch di sản văn hóa;
- Hủy hoại hoặc gây nguy cơ hủy hoại di sản văn hóa;
- Đào bới trái phép địa điểm khảo cổ; xây dựng trái phép; lấn chiếm đất
đai thuộc di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh;
- Mua bán, trao đổi và vận chuyển trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc
gia thuộc di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; đưa trái phép di vật, cổ
vật, bảo vật quốc gia ra nước ngoài.
- Lợi dụng việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa để thực hiện
những hành vi trái pháp luật.
1.2. Khái quát về huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
1.2.1. Đặc điểm về vị trí địa lý và lịch sử hình thành huyện Thuận
Thành, tỉnh Bắc Ninh
Thuận Thành là một huyện ở phía nam tỉnh Bắc Ninh, tiếp giáp với Hà
Nội, Hải Dương và Hưng Yên. Huyện lỵ là thị trấn Hồ. Thuận Thành - Luy
Lâu là một trong những vùng đất cổ của người Việt, từng là trung tâm văn hóa
kinh tế tôn giáo trong suốt nghìn năm Bắc thuộc (sau này vị trí đó nhường cho
Thăng Long khi các triều đại phong kiến độc lập của Việt Nam hình thành).
Thuận Thành nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội 25 km về phía tây nam,
cách trung tâm thành phố Bắc Ninh khoảng hơn 10 km, phía bắc giáp với
huyện Tiên Du và huyện Quế Võ được ngăn cách bởi sông Đuống, phía đông
giáp huyện Gia Bình và huyện Lương Tài, phía nam giáp huyện Cẩm
Giàng tỉnh Hải Dương và huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên, phía Tây giáp
huyện Gia Lâm của Hà Nội.

11
11


Diện tích tự nhiên là 116 km², dân số là 136.000 người (năm 2004). Thuận
Thành là đơn vị hành chính cấp huyện rộng thứ hai và đông dân thứ hai ở Bắc
Ninh.
Huyện Thuận Thành là một vùng đất cổ, là một trong những cái nôi của
dân tộc Việt có cách đây khoảng 3.500 năm. Năm 187-226, chùa Dâu được xây
dựng. Năm 580, thiền sư Ấn Độ Tì-ni-đa-lưu-chi đến tu ở chùa Dâu và truyền
bá Thiền tông, khai sáng phái Thiền Tì-ni-đa-lưu-chi. Thời Bắc thuộc: quận trị
của quận Giao Chỉ đặt tại thành Luy Lâu, nay thuộc Thuận Thành. Năm 966: Lý
Khuê giữ Siêu Loại (nay ở Thuận Thành) làm một trong 12 sứ quân. Đời
vua Trần Thánh Tông: chùa Bút Tháp được xây dựng.
Đầu thế kỷ 19, thời nhà Nguyễn, huyện Thuận Thành ngày nay là những
phần đất thuộc các tổng Đình Tổ, Liễu Lâm, Thượng Mão, Lạc Thổ, Mỹ Tự,...
của huyện Siêu Loại và tổng Cổ Biện của huyện Gia Lâm thuộc phủ Thuận An,
xứ Kinh Bắc (sau là tỉnh Bắc Ninh). Một số xã ngày nay tương đương với các xã
thời nhà Nguyễn, như sau: Đại Đồng (Đại Đồng Thành), Đình Tổ tổng Đình Tổ;
Đại Tự (Thanh Khương), Công Hà (Hà Mãn), Mãn Xá (Hà Mãn) tổng Mỹ Tự;
Mão Điền(quê hương đất học) tổng Thượng Mão; Liễu Lâm, Liễu Khê (Song
Liễu) tổng Liễu Lâm; Doãn Xá (Xuân Lâm) tổng Cổ Biện; Lạc Thổ (thị trấn Hồ,
Song Hồ).
1.2.2. Đặc điểm về kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện Thuận Thành,
tỉnh Bắc Ninh
Huyện Thuận Thành là một tỉnh có bề dầy văn hóa và nhiều giá trị truyền
thống đặc sắc. Tranh Đông Hồ là di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia. Nhưng
ngày càng mai một, ngày nay làng Đông Hồ nổi tiếng về làm hàng mã. Làng
Đồng Ngư có môn múa rối nước từ thế kỷ 11 là một trong 14 phường rối nước
dân gian của cả nước hiện còn hoạt động với nhiều hình thức, tiết mục đặc sắc,
phong phú. Nghệ thuật hát trống quân ở Bùi Xá, xã Ninh Xá đã gần như bị mai

12
12


một nhưng gần đây đã được phát triển trở lại. Nghệ thuật hát Ca Trù xã Thanh
Khương đang được phát huy và bảo tồn.
Trong tương lai, Thuận Thành sẽ trở thành một đô thị lớn của vùng Nam
sông Đuống với chuẩn đô thị loại 4 là thị xã vệ tinh của thành phố Bắc Ninh và
thủ đô Hà Nội với cơ cấu Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp, các khu công
nghiệp, cụm công nghiệp được đồng bộ về giao thông và các dịch vụ đi kèm
nhằm thúc đẩy đầu tư.
Tiểu kết
Ở chương 1, tôi đã trình bày khái quát những vấn đề chung về di tích và
huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, những đặc điểm về lịch sử hình thành, vị trí
địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, đồng
thời là các khái niệm về di tích lịch sử, văn hóa và những đường lối, chính sách
của nhà nước về di tích. Đây chính là cơ sở để tôi nghiên cứu thực trạng của di
tích ở chương 2.

13
13


Chương 2
THỰC TRẠNG CỦA DI TÍCH CHÙA BÚT THÁP, HUYỆN THUẬN
THÀNH, TÌNH BẮC NINH
2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của di tích chùa Bút Tháp,
huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Chùa Bút Tháp (Ninh Phúc tự) nằm ở bên đê hữu ngạn sông Đuống, thôn
Bút Tháp, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ngoài ra, nhân dân
trong vùng còn gọi là chùa Nhạn Tháp. Trong chùa có tượng Bồ tát Quan Thế
Âm thiên thủ thiên nhãn bằng gỗ lớn nhất Việt Nam. Đây cũng là một di tích
quốc gia đặc biệt của Việt Nam được xếp hạng đợt 4.
Theo “Bắc Ninh phong thổ tạp kí” chùa có từ đời vua Trần Thánh Tông
(1258 – 1278), sách có ghi chuyện tổ thứ 3 thiền phái Trúc Lâm là Huyền Quang
tôn giả (đỗ Trạng nguyên năm 1297 thăm chùa Ninh Phúc mà dựng tòa “Cửu
phẩm liên hoa”). Nhưng sách được chép vào thời Nguyễn nên cứ liệu trên chỉ là
giả thuyết để nhận định lịch sử về ngôi chùa mà thôi. Lại theo L.Bezacier trong
tác phẩm “Nghệ thuật Việt Nam” thì chùa có niên đại từ thế kỉ XIV, nhận định
này cũng tương tự như “Bắc Ninh phong thổ tạp kí”.
Như vậy chùa Ninh Phúc đã có lịch sử từ thời Trần và một khoảng thời
gian dài không có sử sách nào ghi chép về diễn biến của ngôi chùa cho đến sau
này khi chùa được vua chúa nhà Lê Trịnh tư sửa vào đầu thế kỉ XVII. Năm
1633, Thiền sự Chuyết Chuyết và đệ tử Minh Hành phiêu dạt sang phương Nam
và đến kinh đô Đại Việt. Tại kinh đô, thầy trò Thiền sư đã được vua Lê chúa
Trịnh và hoàng thân quốc thích Lê triều mộ đạo sùng tín. Sau đó Chuyết Chuyết
về trụ trì của chùa Phật tích trên núi Tiên Du. Theo văn bia và biến ngạch (hoành
phi) trong chùa ghi lại thì vua Thần Tông và chúa Trịnh Tráng đã cho tư sửa lại
chùa và dựng biển ngạch “Sắc kiến Ninh Phúc thiền tự” cùng “Ngự chế Đại
hùng bảo điện” vào năm Dương Hòa thứ 8 (1642). Điều đó cho thấy chùa có thể
được dựng vào năm 1642 và thời gian Chuyết Chuyết trụ trì chùa Phật Tích thì
chùa Ninh Phúc được vua Lê chúa Trình và thập phương tín thí cho tu sửa.
14
14


Chuyết Chuyết chuyển sang trụ trì chùa Ninh Phúc được 2 năm thì mất (năm
1644), đệ tử của ông là thiền sự Minh Hành kế tục làm thủ toàn chùa Bút Tháp.
Vào thời gian này, Hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (Diện Viên) đã rời bỏ
cung thất, về đây tư hành. Thấy chùa bị hư nát nhiều, bà cùng con gái là công
chúa Lê Thị Ngọc Duyên (Diệu Tuệ), xin phép chùa Trịnh Tráng, rồi bỏ tiền của
ra công đức để trùng hưng lại ngôi chùa thêm khang trang và vững biền tới ngày
nay với việc cho dựng hành lang đá, cầu đá và tháp Báo Nghiêm cũng như soạn
dựng các văn bia năm 1647. Chính Lệnh chỉ của chúa Trình Tráng cũng cho
“miễn sưu sai tạp dịch” trong dịp “bản xã có ngôi cổ tích danh làm là chùa Ninh
Phúc nay được dựng sửa lại” (Phụng Lệnh chỉ - 1646).
Sang đầu thế kỉ XVIII, chùa Ninh Phúc lại được tu sửa với qui mô lớn.
Bia “ Ninh Phúc thiền tự bi kí” dựng năm Vĩnh Thịnh 10 (1714) chép rằng
“trong xã vốn có danh lâm cổ tích là chùa Ninh Phúc, tuy được mở dựng bởi bậc
thánh đời trước, những qua nhiều năm đã hư hoại” và được các quan viên như
Luân Quận công họ Lê, Nhu Thuận quận chúa họ Trịnh, Thế Thái Hầy là Lê
Hội, Dĩnh Quận Công Lê Đĩnh, Ninh Lộc Hầu Lê Vịnh,... cho tu sửa thêm
khang trang hơn mà “chẳng tiếc ngàn vàng sắm mua toàn gỗ tốt, lạu được dân
làng góp sức mời thợ cất dựng sửa sang, điện thời nguy nga, chùa chiện rộng rãi,
trang điểm một bầu thế giới Lưu Ly” (Khánh Lưu bi kí – 1714). So với trước kia
thì sau khi chùa được dựng lại thêm “dãy nhà riêng ở phía sau Phật đường”,
chùa đã quy mô to lớn hơn trước rất nhiều.
Sau đó hơn 20 năm thì chùa lại được trung tu một lần nữa, lần này có lẽ là
lần định hình nên kiến trúc và diện mạo của chùa cho đến ngày nay, bao gồm
toàn diện các toàn nhà đều được trùng tu lại cho thêm mới. Bia tháp Tôn Đức
dựng năm 1739 cho biết “trụ trì của Ninh Phúc là Sa Môn Tính Hải hưng công
tu sửa trang hoàng, tu dựng tượng vàng ngày lành tháng 4 năm Kỷ Mùi niên
hiệu Vĩnh Hựu thứ 59 (1739) triều Lê”. Cũng trong lần tu sửa này tòa Cửu phẩm
liên hoa được tạo dựng.

15
15


Đầu thời Nguyễn, sau một thời gian đất nước dần trở về sự ổn định và
nhân dân yên ổn làm ăn thì nhu cầu tâm linh của họ được chú trọng. cùng với
thời gian diện mạo của chùa xưa nay đã tiêu điều, chuông cũ tiếng vang không
còn được như xưa, dân tình và các quan viên hương lão đã họp bàn đúc lại
chuông, bài minh trên chuông chùa cho biết chùa xưa rất lớn “vào các năm
Dương Hòa, Phúc Thái tu sửa chùa chiền được 120 gian”. Bài minh chủ ghi việc
đúc lại quả chuông mà thôi [1;Tr.12].
Sang thế kỉ XX, Tổng đốc Ninh Thái là Hoàng Trọng Phu đi qua vùng
Thuận Thành thấy chùa hoang vắng tàn lụi nên bàn bạc cùng quan lại thu thập
tiền của mà trùng tu “từ ngày 1 tháng 10 năm Quý Mão khởi công tu sửa chùa,
tới ngày 15 tháng 3 năm Giáp Thìn (1905) thì hoàn thành”. Từ đó tới nay đã hơn
100 năm, chùa lại mấy lần được sửa sang, như các năm 1937, 1940, 1957 và gần
đây là đợt có quy mô lớn vào các năm 1990 – 1993.
2.2. Không gian cảnh quan của chùa Bút Tháp, huyện Thuận Thành,
tỉnh Bắc Ninh
Kiến trúc chùa được bố trí cân xứng, chặt chẽ ở khu vực trung tâm, nhưng
lại rất tự nhiên với cảnh quan.
Tháp Bảo Nghiêm, tọa lạc ngay giữa khu vườn yên tĩnh trần ngập bóng
cây với hương bưởi thơm ngát trên đỉnh có hình nậm rượu, 5 tầng, 8 mặt, cao
13m, thờ hòa thượng Chuyết Chuyết, vị sư tổ của chùa. Ngày nay, Bảo Nghiêm
vẫn uy nghi in bóng trên nền trời xanh ngắt đầy uy nghiêm. Đến với chùa là đến
với một điểm du lịch mang tinh nhân văn cao. Trong chùa, có nhiều cổ vật quý
giá, nhiều tháp to, nhỏ rất đẹp mà ở những tháp ấy là nơi đặt xá lị của các thiền
sư xưa. Tham quan cảnh chàu như một bức tranh tuyệt mỹ vẽ lên trong khung
cảnh ruộng đồng bao la. Những mái ngói bồng bềnh, nhấp nhô giữa mầu xanh
của cây lá: Bút Tháp đẹp như một bức tranh bởi phong cảnh làng quê, đồng
ruộng và lối kiến trúc tinh xảo đượm màu cảnh giới. Mái ngói chùa cong rêu
phong cổ kính nhấp nhô giữa màu xanh cây lá. Đến Bút Tháp giữa trưa, du
khách sẽ cảm nhận được một không gian mát mẻ và thanh tĩnh đến lạ kỳ.
16
16


Ngoài tháp Bảo Nghiêm, chùa còn có tháp Tôn Đức 5 tầng, cao 10m là
nơi thờ thiền sư Minh Hành, vị tổ thứ hai của chùa. Điều đặc biệt là trên đỉnh
tháp vẫn có cây cỏ phát triển.
Nối giữa Thượng điện (Thế giới Phật Pháp lòng thành được nhận) và Tích
thiên Am (Nơi cầu mong để được siêu thoát) là chiếc Cầu đá cong (Vượt qua
cầu đã cao xa giữ sạch bụi trần) bắc ngang qua hồ nước tinh khiết. Đây là một
tích của nhà Phật – nơi đi qua cửa Phật rủ sạch bụi trần. Bên dưới cầu là hoa sen,
hoa sung thơm ngát, chen giữa màu xanh cây lá là những nhịp cầu đá chạm trổ
tinh xảo, thần tình và hài hòa những sư tử, nghê, hoa lá. Đứng trên cầu ta có thể
ngắm những nét đẹp riêng của cảnh chùa. Cầu dài 4m gồm 3 nhịp uốn cong
vồng, mặt cầu lát đá xanh trơ nhẵn, hai bên có 12 bức lan can đã được chạm
khắc rất công phu, tinh xảo và bố trí rất hợp lí. Ngồi ở vị trí này, ta có thể nhìn
ngắm được những nét đẹp rất riêng của chùa chùa. Rất nhiều bạn trẻ đến với
chùa đã chọn chiếc cầu đá làm nơi lưu lại những hình ảnh kỉ niệm.
Trong chùa có nhiều loại cây: hoa đại, hoa sen, mẫu đơn..., đặc biệt là hoa
cau – những dài dài hun hút, thân cau cao, mốc thếch trải một màu xanh mát
giữa những hàng lan can đá xanh trạm khắc rất hữu tình. Những nghê, rồng,
loan, phượng xen lẫn cỏ cây, hoa lá sinh động phiêu dạt thổi hồn vào đá. Người
Việt tâm linh ngắm cảnh chùa lòng thấy tĩnh lại. Nghĩ đến một điều gì đó xa
xăm, phải căng là tâm linh...
“Mênh mông biển lúa xanh rờn
Tháp cao sừng sững trăng rờn bóng cau
Một vùng phong cảnh trước sau
Bức tranh thiên cổ đượm màu nước non”.
2.3. Kết cấu kiến trúc của chùa Bút Tháp, huyện Thuận Thành, tinh
Bắc Ninh
2.3.1. Kiến trúc chính
*Tam quan

17
17


Tam quan của chùa Bút Tháp là một nếp nhà nhỏ, có kết cấu kiến trúc mà
ta ít gặp ở các kiến trúc khác. Tam quan có kết cấu ba hàng chân cột, có bấy
gian, vì chồng rường cánh. Với kết cấu còn lại đến ngày nay, chúng ta có thể tạm
xếp Tam quan vào niên đại cuối thế kỷ XIX. Nhìn chung toàn bộ tam quan này
đều có niên đại muộn và đã trở thành một toà nhà mất đi tính chất ba cửa để
tượng cho ba lối nhìn của đạo phật. Dấu vết cổ truyền của Tam Quan chùa Bút
Tháp chỉ còn được thể hiện ở hai khối đá đặt trước hai bên và gian giữa. Các
khối đá này có hai cấp: phần cao chủ yếu giành để trang trí và phần thấp có lỗ
mộng dùng làm cối cửa.
Hiện nay hai khối đá này được đặt vào trong tránh sự đập phá vô ý thức.
Ở phần trang trí ta thấy có một hồ sen, viền quanh bằng khung tạo bởi các gióng
trúc. Nhìn chung toàn bộ kiến trúc tam quan chúng ta có thể nhận thấy rằng kết
cấu tam quan ít nhiều chịu ảnh hưởng của nghệ thuật kiến trúc Trung Hoa. Bộ vì
ở gian giữa và các bẩy ngang không phải là kết cấu truyền thống của các bộ vì
Việt Nam.
*Gác chuông
Qua Tam Quan khách sẽ thấy gác chuông có kiến trúc theo kiểu hai tầng
mái. Tầng dưới xưa có ba pho tượng đất Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, thể
hiện quyền lực của đấng tối cao. Tầng trên được lát bằng gỗ lim đen bóng, ở
giữa sừng sững một quả chuông đồ sộ, được đúc thừ thời Gia Long thứ
14(1815), xưa còn có tượng chúa Trịnh Tráng và hai quan hầu. cả Tam Quan và
Gác Chuông đều bỏ ngỏ, xung quanh như thể hiện tấm lòng đức phật luôn mở
rộng đón nhận mọi kiếp người. Trong những lần tu sửa vào đầu thế kỷ này, gác
chuông được xây tường bao quanh, bốn phía ở gian giữa đều để trống. Hai bên
bổ sung bốn cửa tò vò. Hai mặt trước trổ cửa sổ hoa kết hình chữ “thọ” vuông.
Cùng với tường, tất cả các vị trí có đầu bẩy, đầu kẻ đều được bổ trụ vuông
[A1;Tr.35].
*Nhà Tiền Đường

18
18


Ra khỏi gác chuông, khách sẽ thấy một dãy 5 gian, là tiền đường. Nhà
tiền đường mát mẻ, yên ắng, thơm mát mùi trầm khiến cho chúng ta có cảm giác
rờn rợn khi vào đây, cũng có thể do tượng phật quá uy nghiêm, dữ dội nổi bật là
hai pho tương hộ pháp cưỡi sư tử có tên là Ấn Độ la-đắc và Ma-pha-la, có nhiệm
vụ khuyến thiện, trừ ác, hai trạng thái, hai tích cách của con người. Nhà tiến
đường có mặt nền cao 60m bó bằng hai lớp đá tảng hình chữ nhật. Các viên đá
này dài ngắn khác nhau, từ 60 đến 150cm, độ dày trung bình 30cm. Có hai bậc
cấp trước sân lên nền nhà, phía trước tiền đường bao bằng cửa “bức bàn”, hai
bên và bốn gian ở đầu đầu được bưng bằng “ván đố”, phía sau có ba gian giữa
để trống. Đây là một toà nhà năm gian và hai chái có kết cấu mái theo kiểu “tàu
đao lá mái” giống như kết cấu mái tầng trên của gác chuông, chỉ khác ở đây
không phải là mái “chồng diềm”. Mái được lợp ngói vảy hến, bờ nóc để trơn,
đầu kìm được đắp đơn giản như hai chiếc kìm cong lên.
*Tòa Thượng Điện
Khi đã chấp nhận những giáo lý và thỏa mãn những ước mơ, xin mời du
khách bước lên Thượng Điện, ở đây khách sẽ được tiếp xúc với thế giới phật từ
bi, bác ái. Nền tòa Thượng Điện cao 1,1m so với mặt vườn của chùa và có thể
nói đây là nơi cao nhất trong toàn bộ chùa Bút Tháp. Tòa Thượng Điện dài 19m,
rộng 10,6m, gồm 5 gian với 24 cột lớn, mỗi gian xấp xỉ 3m. ba gian trước của
tòa Thượng Điện không bưng cửa, hai gian giáp hai hồi đóng ván đố, chỉ có
phần giữa đóng cửa lửng với những chấn song con tiện. Nền của tòa Thượng
Điện được bó bởi 4 lớp đá hình chữ nhật, được đẽo phẳng rất cnn thận, có độ
dày mỏng khác nhau. Bao quanh tòa Thượng Điện là hành lang tương đối rộng
với một hàng lan can đá chạm khắc rất tinh xảo chạy quanh.
*Tòa Tích Thiện Am:
Tòa nhà này có kết cấu ba tầng mái, mỗi tầng có bốn mái. Ba tầng mái
này khiến cho ta nghĩ tới ba cấp chứng quả cun người tu hành theo Tịnh Độ
Tông, đó là Thượng phẩm vãng sinh, Trung phẩm vãng sinh, hạ phẩm vãng sinh.
Các tầng này có kích thước nhỏ dần từ dưới lên trên, tầng trên cùng không lát
19
19


ván sàn và nó mang ý nghĩa biểu trưng nhiều hơn nghĩa thực dụng Nếp nhà này
cao vượt hẳn so với các ngôi nhà khác của khuôn viên chùa. Tầng dưới cùng có
5 gian, mặt bằng hình chữ nhật với kích thước 16,1m x 8,4m. Về tổng thể kết
cấu của tòa nhà này theo kiểu chồng diêm với hàng cột giữa cao, chạy suốt từ
tàng một lên tầng ba, các vì kèo được làm theo kiểu chồng rường, khiến cho
kiến trúc vừa chắc, khỏe, thoáng đáng thêm vào đó là những đầu đao của ba
tầng mái cong vút lên khiến cho tòa thêm thanh thoát, bay bổng. Bước vào Tích
Thiện Am khách sẽ được chiêm ngưỡng tòa Cối kinh đẹp nhất Việt Nam. Tòa
cối kinh bát giác cao 7,8m, xếp 9 tầng theo kiểu tòa sen, thể hiện 9 kiếp tu hành
của đức Thích ca mầu ni. du khách vừa tự mình quay cối xay, quay cửu phnm
liên hoa theo chiều đông - tây – nam - bắc. Đó là một nghi thức phật pháp có
nguồn gốc Tây Tạng. Bằng những bộ phận kiến trúc còn lại, chúng ta biết được
rằng tòa nhà này được dựng vào thế kỷ thứ XVII, nhưng đã được tu sửa nhiều
lần vào các thế kỷ sau, kiến trúc của thế kỷ XIX được thể hiện ở những vì, kèo,
giá chiêng đơn giản ở tầng một.
*Hậu Đường
Đằng sau Phủ Thờ cách một dãy hành lang đẹp là Hậu Đường, nơi có điện
thờ Tam tòa Thánh mẫu, tứ phủ và chân dung các vị sư tổ thế kỷ XVII. Đăc biệt
có tượng Minh Hành thiền sư với vầng trán cao thông minh, uyên bác. Nhà hậu
đường hiện còn lại 9 gian: ba gian bên phải là chỗ ở của những người trông coi
chùa, những gian còn lại là nơi thờ đức Thánh mẫu. Kiến trúc ngôi chùa theo
kiểu vì kèo kẻ chuyền. Đó là kiến trúc được làm lại. Nhìn chung giá trị nghệ
thuật còn lại của Hậu Đường là không đáng kể.
*Nhà Tổ Đệ Nhất
Nhà Tổ Đệ Nhất nằm ở phía Đông, phía sau hành lang bên trái của chùa,
dường như biệt lập với các kiến trúc chính của chùa. Phía sau nhà Tổ Đệ Nhất là
tháp báo Nghiêm sừng sững, uy nghi và phía trước có một cái giếng nhỏ trang trí
hình cánh sen. Nhà Tổ Đệ Nhất là một căn nhà hình chữ nhật 13m, rộng 6,8m,
có 5 gian. Ở đây có tượng Chuyết Công cao 0,95m.
20
20


2.3.2. Các kiến trúc khác
*Kiến trúc tháp
Chùa Bút Tháp hiện còn có 13 ngôi tháp nằm rải rác ở hai bên và phía sau
chù. Trong đó có 5 ngọn tháp đá và 7 tháp gạch và có tháp gỗ 9 tầng có thể một
trục với tên gọi là tháp Cửu phẩm liên hoa. Về quy mô nghệ thuật trang trí, các
tháp gạch ở đây ít có giá trị hơn:
- Tháp Báo Nghiêm: Tháp dựng phía sau nhà Tổ Đệ Nhất. Đây là ngọn
tháp cao nhất của chùa Bút Tháp, cửa tháp được làm quay về hướng nam. Tháp
do sư Minh Hành tạo dựng để thờ thầy của mình là sư Chuyết Công. Tháp được
xây dựng vào năm Đinh Hợi niên hiệu Phúc Thái thứ 5 tức là năm 1647 dưới
thời vua Lê Chân Tông. Báo Nghiêm ở đây có nghĩa là báo đền sự nghiêm dạy,
răn bảo của thầy. Toàn bộ tháp cao 13,5m nằm trên một nền bát giác, mỗi cạnh
dài 2,26m. Toàn bộ tháp có 5 tầng và một búp mái [A2;Tr.35].
- Tháp Tôn Đức: Phía sau hậu đường có ba ngọn tháp đứng song hàng.
Ngọn tháp đứng ở giữa cao to, bề thế nhất là tháp Tôn Đức. Tháp được xây dựng
theo yêu yêu cầu của chính hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc vào tháng 11 năm
canh tý, niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 3(1660) và đệ tử của thiền sư Minh Hành là tì
khâu ni Diệu Tuệ đã cho xây bia đá vào tháng 11 năm Giáp Dần niên hiệu Đức
Nguyên thứ nhất(1674) để tôn cao công đức của sư phụ. Trong những năm vừa
qua do tháp Tôn Đức bị hư hại nhiều, nhà nước đã tiến hành tu bổ lại và phát
hiện ra hai cuốn kinh thư cổ bằng đồng được khắc năm 1660 được đặt trên ngọn
tháp. Một quyển có tên là “Đại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh” và một
quyển không có tên. Hai quyển này hiện đang được đặt ở Bảo tàng tỉnh Bắc
Ninh để tiếp tục tu sửa tháp. Hiện giờ đang chờ sở Thương mại và du lịch tỉnh
Bắc Ninh giải quyết để đưa về đặt chỗ cũ để hoàn thiện tháp Tôn Đức [A3.tr.36].
- Tháp Cửu phẩm liên hoa. Tháp được làm bằng gỗ, đặt chính giữa tòa
Tích Thiện Am, tháp Cửu phẩm liên hoa cao 7,80m, toàn bộ cấu trúc đều được
liên kết quanh trụ chính. Đây là một là một cổ vật đặc sắc làm nên sự độc đáo

21
21


của chùa Bút Tháp. Các mảng trang trí trên các mặt tháp rất phong phú và gắn
với tư tưởng của pháp môn Tịnh Độ.
*Kiến trúc cầu đá:
Ở chùa Bút Tháp có một cây cầu nhỏ nhưng rất đáng chú ý về cả mặt kiến
trúc cũng như ý nghĩa biểu trưng của nó. Cầu này nối với sau tòa Thượng Điện
với tòa Tích Thiện Am, bắc qua một hồ nước nhỏ, hồ này có lòng hẹp, chạy dài
suốt gần chiều dài của tòa Thượng Điện. Cầu có ba nhịp, dài 4,30m, rộng 1,95m,
uốn cao kiểu cầu vồng, chỗ cao nhất so với mặt nước là 1,16m, hai bên cầu có
lan can ghép những tấm đá chạm khắc cả hai mặt các hoạt cảnh. mỗi bên có ba
tấm được cố định bằng ba cột trụ vuông, trên đầu mỗi cột trụ có một búp sen
tròn đặt trên một lá sen úp. Hai bên cầu vồng là hai tiểu hồ sen còn được gọi lai
hồ Bích Ba, luôn trong mát, mùa hè sen nở rộ tô điểm cho cảnh chùa thêm mộng
ảo, lung linh. thân cầu cong quá mức bình thường khiến cho ta nghĩ nó mang ý
nghĩa tượng trưng nhiều hơn là ý nghĩa thực dụng, vì mặt cầu lát đá trơn nhẵn
khến cho việc đi lại khó khăn. Đây là cây cầu của linh hồn, của sự giác ngộ. Cầu
đá cao và một hồ sen phía dưới được một nhà tu hành cho rằng nó lầ chiều cao
của sự giác ngộ và chiều sâu của sự giải thoát. Bước lên cầu khách hành hương
suy ngẫm về lẽ đời, thấy rực rỡ vầng hào quang của tư tưởng Thích ca giàu lòng
nhân ái [A4.Tr.36].
*Kiến trúc giếng đá:
Giếng đá còn được gọi là giếng tiêng bằng đá lát theo hình cánh sen, thể
hiện tâm thế luôn trong mát, dịu hiền, không bao giờ vơi cạn của cửa thiền.
Giếng có hình tròn, đường kính miệng là 1m, giếng và sân giếng được làm bằng
đá liền khối, sân giếng là khối đá hình vuông có kích thước 1,44 x 1,44m. Trang
trí trên thành ngoài và giếng khá đẹp. Viền quanh giếng là một vành hoa dây
mền mại hình chữ S quyện lấy nhau. Phía dưới vành hoa dây, ở mặt ngoài thành
giếng là ba hàng cánh sen chạm nổi với hai hàng cánh to ở dưới và một hàng
cánh nhỏ ở trên cùng. Viền quanh thành giếng, ở phần sân giếng là hàng cánh

22
22


sen cách điệu xếp nghiêng. Căn cứ vào phong cách trang trí này người ta cho
rằng giếng được làm vào thế kỷ XVII [A5;Tr.37].
2.4. Nghệ thuật điêu khắc tượng thờ ở chùa Bút Tháp, huyện Thuận
Thành, tỉnh Bắc Ninh
2.4.1. Hệ thống tượng Phật giáo
*Bộ tượng Tam thế
Tam thế là ba pho tượng thời dại quá khứ, hiện tại, tương lai. Tượng tma
thế ở đây được làm khá giống nhau, đặt ở ban thờ chính của gian giữa toàn
Thượng Điện [A6;Tr.37].
Pho tượng ở giữa: đang ở trong tư thế thiền định, với hai tay chồng ngửa
lên nhau, đặt trên lòng đùi, tíc trên đầu kết hình quắn ốc, mặt bầu, mi cong, mũi
thẳng. Mắt tượng nhìn xuống, miệng ngậm, tay chân dài và lớn, có đeo hao tai
hình bông sen nở, cổ có một ngấn. Tượng mặc áo cà sa trùm qua vai và tay tạo
thành nhiều lớp chảy xuống lòng đùi, tượng ngồi trên đài sen, gồm có bốn lớp
cánh sen ngửa và một lớp cánh sen úp.
Pho tượng bên trái: có hình thức và kích thước giống pho tượng ở giữa.
Tay đặt ở tư thế thuyết pháp, tay phải đặt lên đùi phải, tay trái giơ ngửa ra phía
trước, ngón cái gập vào ngón út và ngón đeo nhẫn, ngón trỏ và ngón giữa đưa
lên cao gần sát mũi, ống tay áo buông từ cánh tay trái xuống chảy trên lòng đùi
phải. Bệ tượng về cơ bản giống pho tượng ở giữa.
Pho tượng ở bên phải: cũng giống như kể trên, chỉ có một vài chi tiết khác
ở phần trang trí ở thế tay kết ấn và trang trí trên bệ.
*Tượng Quan Âm nghìn tay nghìn mắt
- Tượng:
Tượng cao 3.7m, ngang 2.1m, dày 1.15m. trên đầu tượng phật là đức A di
đà. A di đà đã dùng phép thuật chắp đầu lại cho phật bà khi Phật bà lo nghĩ quá
nhiều cho chúng sinh đến nỗi bị nổ tung thành nhiều mảnh nhỏ. Vì thế tạo thành
11 mặt phật, 42 cánh tay để trần mềm mại như muốn ôm cả giới thế bao la, cứu
giúp triệu người cực khổ. Sau lưng Phật bà là vầng hào quan, trên đó được gắn
23
23


952 cánh tay nhỏ tạo thành vòng mở rộng từ 6 đến 14 lớp, ở giữa mỗi lòng có
một con mắt mi dài, đen láy. Với ngàn con mặt và ngàn cánh tay, Phật bà đã nhìn
thấu vũ trụ, nhìn thấu những cõi xa xăm diệt tà, cứu đời, giúp đạo. Phật đà đang
ngồi hành đạo, tư thế ung dung, Phật mặc áo cà sa rũ xuống phủ lên muôn loài,
thuần phục Tràng ba long vương dữ tợn đội tòa sen đưa Phật bà ra biển. Dưới bệ
có dòng chữ “Tuế thứ Bình Thân niên, thu nguyệt, cốc nhân doanh tạo”. Có
nghĩa là năm 1656 tiên sinh họ Trương đã sáng tạo và làm nên pho tượng tuyệt
vời này [A7;Tr.38].
-

Đài sen:

Đài sen được làm tư ba lớp cánh sen chính và một lớp cánh sen phụ, lớp
cánh phụ này được đặt ở trên cùng có hình các mũi nhọn đặt xen kẽ lớp cánh
chính. Trong lòng mỗi cánh chính có hai gờ nổi, nổi từ gốc sen chạy lên phía
trên rồi cuộn vào giữa để nâng nửa bông cúc mãn khai. Từ bông cúc đó có hai
vân xoắn và ba đao mác.
Tòa sen được một con rồng đội. Rồng ở đây có mặt lồi kép, sừng mai, tai
hình lá, tóc chải, miệng há mở, có răng nhọn và những chiếc răng nhỏ. Trong
miệng rồng có một viên ngọc (hạt minh châu). Từ mắt tỏa xuống phái dưới một
đao lứu nhỏ và chạy quặt ra phía sau, viền quanh mép, và mang tai đều có vây
hình răng cưa.
-

Bệ tượng:

Phần bệ tượng được tạo theo kiểu bệ sumeru bố trí thành nhiều cấp với
hình chữ nhật chém góc. Cấp trên cùng chia thành nhiều lớp, với lớp thứ nhất có
hàng cánh sen giống như hàng cánh sen ở đài sen. Lớp này bao quanh mặt biển.
Lớp thứ hai là phần chính, được trang trí bằng hệ thống bát bửu Phật giáo, bao
gồm những vòng tròn kép, quạt kèm lá quấn ở mặt trước, hình đôi sừng vắt chéo
nhau. Cấp thứ hai được thụt hẳn vào phía trong, mặt trước có chạm trồng và cá
hóa long đang tranh nhau một quả cầu trên mặt biển khiến cho sóng nổi cuộn
lên. Phía bên phải có một con lân đang vườn viên ngọc lửa. Con lân này được
chạm khắc theo kiểu đâu sư tử, thân có vny rồng, chân có móng vuốt, đuôi có
24
24


hai cụm văn xoắn lại. Nền của cảnh này là những cây cỏ mọc trên những tảng đá
gập ghềnh. Nửa phíâ bên trái cũng có hình thức tương tự. Ở các phần chém góc
chạm những bông cúc mãn khai nhìn thẳng. Cấp thứ ba là một đài sen úp với
những cánh sen chạm nổi và hình thức trang trí trên cánh sen cũng tương tự như
các cánh sen đã miêu tả trên. Ở cấp thứ tư phần trang trí được thể hiện bằng các
bông cúc mãn khai theo nhiều kiểu khác nhau ở cả ba mặt. Cấp thứ năm và cũng
là phần đế của bệ có mặt bằng được mở rộng hơn so với các cấp trên có mặt
trước chạm hình “sư tử hý cầu” (giống như ở các lan can bao quanh tòa Thượng
Điện).
-

Vành tay phụ phía sau:

Vành tay này được làm thành vòng tròn lớn đặt rời ra phía sau tượng.
Vành này có vành giữa để trơn. Trên đỉnh của vành tay có chạm một con chim
có hai đầu người, cánh lớn, xòe ra ôm lấy hai bên, đuôi chổng ngược lên phía
trên. Vành tay đường trang trí bằng hai đường diềm, đường viền ngoài là văn
xoắn, đường viền trong là các hàng cúc dây chia ra làm nhiều khúc, trên mỗi cúc
chạm một bông cúc mãn khai nhìn nghiêng chen giữa những chiếc lá tỏa ra hai
phía. Các cánh tay nhỏ được xếp thành nhiều lớp (từ 6 lớp ở dưới đến 14 lớp ở
trên).
*Tượng Văn Thù Bồ tát:
Tượng được đặt bên trái tòa Thượng Điện, mặt không hướng ra phía cửa
mà quay về phía bàn thờ đặt ở gian giữa. Đây là pho tượng thường gặp ở những
ngôi chùa phía Bắc từ thế kỷ XVIII trở về sau này. Ở đây theo một số nhà
nghiên cứu, tượng Văn Thù Bồ tát được xem là sớm nhất ở nước ta. Tượng cưỡi
con sư tử xanh, khuôn mặt gần giống với khuôn mặt của tượng Quan Âm, với
khuôn mặt hiền lành mang nhiều tính chất chân dung, phù hợp với lòng từ bi của
một vị bồ tát, tai tượng lớn, hoa tai là bông sen nở. Ở phần sau đầu có một dải
khăn ôm lấy gáy và hai dải khác chảy xuống ngang lưng. Cổ tượng cao hai ngấn,
áo tượng có nhiều lớp, ống tay chảy dài qua chân. Hai tay tượng đặt ở tư thế kết
ấn với ngón tay cái tì lên ngón tay giữa cong gập, ngón trỏ và ngón út để thẳng
25
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×