Tải bản đầy đủ

Cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định về hợp đồng tín dụng ngân hàng từ thực tiễn tại các cơ quan thi hành án dân sự tỉnh bắc giang

NGUYỄN THỊ NGỌC THỦY BÌNH

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

LUẬT KINH TẾ

CƯỠNG CHẾ THI HÀNH CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH
VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TỪ THỰC
TIẾN TẠI CÁC CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TỈNH BẮC GIANG

NGUYỄN THỊ NGỌC THỦY BÌNH

2016 - 2018

HÀ NỘI - 2018



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CƯỠNG CHẾ THI HÀNH CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH VỀ
HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TỪ THỰC TIẾN TẠI
CÁC CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỈNH BẮC GIANG

NGUYỄN THỊ NGỌC THỦY BÌNH
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS. BÙI THỊ HUYỀN

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Cưỡng chế thi hành các bản án, quyết
định về hợp đồng tín dụng ngân hàng từ thực tiễn tại các cơ quan thi hành án dân
sự tỉnh Bắc Giang” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự
hướng dẫn khoa học của PGS, TS. Bùi Thị Huyền.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn có
nguồn gốc trích dẫn đầy đủ, đảm bảo độ tin cậy, chính xác, trung thực. Những kết
luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào.
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn

Học viên

PGS.TS. Bùi Thị Huyền

Nguyễn Thị Ngọc Thủy Bình


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, bằng sự biết ơn và kính trọng, tác giả xin gửi lời
cảm ơn chân thành đến toàn thể các thầy, cô giáo chuyên ngành Luật kinh tế, khoa


sau đại học, Viện Đại học Mở Hà Nội đã nhiệt tình hướng dẫn, giảng dạy và tạo
mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn
thiện đề tài.
Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Bùi Thị Huyền, người
trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã luôn tận tình chỉ bảo, định hướng, giúp đỡ về kiến
thức, tài liệu và phương pháp để tôi nghiên cứu và hoàn thành đề tài nghiên cứu
khoa học này.
Xin cảm ơn Lãnh đạo Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang, các đồng chí,
đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã luôn quan tâm, động viên, khuyến khích, đóng
góp những ý kiến quý báu và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập,
nghiên cứu và hoàn thành đề tài.
Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng trong suốt quá trình thực hiện đề tài,
song do kiến thức và thời gian còn hạn chế, đề tài không tránh khỏi những thiếu sót.
Tác giả rất mong tiếp tục nhận được ý kiến đóng góp và sự chỉ dẫn của các thầy, cô,
bạn bè, đồng nghiệp... để đề tài được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn

Học viên

PGS.TS. Bùi Thị Huyền

Nguyễn Thị Ngọc Thủy Bình


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU................................................................................................................. 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH CÁC
BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG .............. 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định về
hợp đồng tín dụng ngân hàng.................................... 8
1.2 Các nguyên tắc cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định về hợp đồng tín dụng
ngân hàng. .............................................. 19
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định
về hợp đồng tín dụng ngân hàng. ................................ 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1. ................................... 28
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH CÁC
BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ............ 29
2.1 Thực trạng pháp luật về biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý
tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án........................ 30
2.2. Thực trạng pháp luật về biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án ........ 34
2.3 Thực trạng pháp luật về biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành
án, kế cả tài sản đang do người thứ 3 giữ. .......................... 36
2.4 Thực trạng pháp luật về biện pháp khai thác tài sản của người phải thi hành án.44
2.5 Thực trạng pháp luật về biện pháp buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài
sản, giấy tờ. ............................................................................................................ 46
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2. ................................... 50
Chương 3: THỰC TIỄN CƯỠNG CHẾ THI HÀNH CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH
VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TẠI CÁC CƠ QUAN THI HÀNH ÁN
DÂN SỰ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ .......... 51
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và cơ cấu tổ chức bộ máy cơ quan Thi hành
án dân sự tỉnh Bắc Giang ..................................... 51
3.2 Thực tiễn cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định về hợp đồng tín dụng ngân
hàng tại các cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. ........ 54
3.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án,
quyết định về Hợp đồng tín dụng ngân hàng. ........................ 81
3.4 Một số giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành các
bản án, quyết định về Hợp đồng tín dụng ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. 86
KẾT LUẬN........................................................................................................... 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC



DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
THADS

Thi hành án dân sự

TDNH

Tín dụng ngân hàng

BLDS

Bộ luật dân sự năm 2015

LTHADS

Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung
năm 2014

CHV

Chấp hành viên

QSDĐ

Quyền sử dụng đất

TAND

Tòa án nhân dân

VKSND

Viện kiểm sát nhân dân

UBND

Ủy ban nhân dân

Nghị định 62/2015/NĐ-CP

Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015
của Chính phủ.

BCĐ THADS

Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự

TTNCN

Thuế Thu nhập cá nhân


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong quan hệ pháp luật dân sự, khi một bên cho rằng quyền và lợi ích hợp
pháp của họ bị xâm phạm thì Nhà nước sẽ là người đứng ra để phân định sự đúng
sai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tổ chức, cá nhân bị xâm hại thông qua quá
trình tố tụng. Nếu như ví toàn bộ quá trình điều tra, thu thập chứng cứ, xét xử, thi
hành án là một quy trình khép kín thì thi hành án dân sự chính là công đoạn cuối
cùng và trực tiếp quyết định tính hiệu quả của bản án trong việc bảo vệ quyền lợi
của chủ thể trên thực tế. Chỉ thông qua công tác thi hành án dân sự, bản án, quyết
định mới thực sự đi vào đời sống, trực tiếp tác động, làm thay đổi quyền về tài sản,
quyền về nhân thân của người phải thi hành án, góp phần đảm bảo tính công bằng,
nghiêm minh của pháp luật, trật tự, kỷ cương của Nhà nước.
Ngày nay, trong xu thế hội nhập và phát triển của nền kinh tế thị trường, các
quan hệ về kinh doanh thương mại, tín dụng ngân hàng phát triển mạnh mẽ
nhưng tiềm ẩn sau nó là những nguy cơ rủi ro của các chủ thể kinh doanh, dẫn
đến phát sinh ngày càng nhiều các tranh chấp về hợp đồng tín dụng ngân hàng
phải giải quyết thông qua quá trình tố tụng mà công đoạn cuối cùng là tổ chức
thi hành án. Cũng giống như thi hành các bản án, quyết định thông thường, quá
trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định trong các vụ án về hợp đồng tín
dụng ngân hàng bên cạnh việc sử dụng các biện pháp mềm dẻo như tuyên truyền,
thuyết phục, động viên người phải thi hành án tự nguyện thi hành nghĩa vụ, thì
đa số các trường hợp cơ quan thi hành án dân sự phải áp dụng các biện pháp
cưỡng chế để tổ chức việc thi hành án. Pháp luật hiện hành đã quy định chi tiết,
cụ thể, chặt chẽ về trình tự, thủ tục, các bước tiến hành, đặc biệt là các quy định
về cưỡng chế thi hành án dân sự, tuy nhiên do tính chất phức tạp, đặc thù của các
vụ án về hợp đồng tín dụng ngân hàng nên việc áp dụng đúng các quy định của
pháp luật trong thực tế vẫn còn nhiều khó khăn, các sai phạm xảy ra trong quá

1


trình tổ chức cưỡng chế còn nhiều, hiệu quả việc tổ chức cưỡng chế thi hành án
đối với loại việc này chưa cao…
Thực tế qua công tác kiểm tra, hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ trên địa bàn
tỉnh Bắc Giang những năm gần đây cho thấy, khi tổ chức thi hành các vụ án liên
quan đến hợp đồng tín dụng ngân hàng, còn phát sinh nhiều sai phạm, đặc biệt là
trong giai đoạn cưỡng chế thi hành án dẫn đến nhiều vụ việc tài sản đã bán đấu
giá thành nhưng không tổ chức giao được tài sản cho người trúng đấu giá do phát
hiện có sự sai lệch giữa tài sản theo hợp đồng thế chấp với thực tế kê biên, nguy
cơ dẫn đến phải hủy kết quả bán đấu giá tài sản, phát sinh trách nhiệm bồi
thường nhà nước; có vụ việc đã tổ chức cưỡng chế kê biên sau đó phát hiện sai
sót phải thu hồi quyết định; nhiều vụ việc khó khăn, phức tạp, tồn đọng nhiều
năm chưa có hướng giải quyết… Nguyên nhân của những sai phạm trên chủ yếu
là do Chấp hành viên chưa nhận thức được sự khác biệt, tính đặc thù của cưỡng chế
thi hành án dân sự trong các vụ án về tín dụng ngân hàng so với cưỡng chế thi hành
án dân sự thông thường dẫn đến sai lầm hoặc bỏ sót các khâu trong quá trình áp
dụng luật.
Xuất phát từ thực tế trên đòi hỏi cần phải nghiên cứu một cách có hệ thống,
khoa học các quy định của pháp luật về cưỡng chế thi hành án trong các vụ án về
hợp đồng tín dụng ngân hàng, từ đó chỉ ra được những điểm mang tính chất đặc thù
cần chú trọng khi tổ chức cưỡng chế đối với loại việc này là cần thiết và cấp bách.
Đây là lý do thúc đẩy em quyết định lựa chọn đề tài “Cưỡng chế thi hành các bản
án, quyết định về hợp đồng tín dụng ngân hàng từ thực tiễn tại các cơ quan thi
hành án dân sự tỉnh Bắc Giang” làm đề tài nghiên cứu luận văn của mình. Qua
việc nghiên cứu sẽ giúp các Chấp hành viên có cái nhìn khái quát, tổng thể về lý
luận, tránh được những sai phạm có thể phát sinh trong quá trình tổ chức cưỡng chế
thi hành các bản án, quyết định về hợp đồng tín dụng ngân hàng, hạn chế thấp nhất
nguy cơ phát sinh trách nhiệm bồi thường nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả
công tác thi hành án dân sự nói chung và hiệu quả công tác tổ chức cưỡng chế thi
hành án trong các vụ án liên quan đến tín dụng ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bắc
Giang trong giai đoạn hiện nay.
2


2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Ở Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu có nội dung liên quan đến những
vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn, có thể kể đến các công trình nghiên
cứu tiêu biểu sau đây:
- Đề tài: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cưỡng chế thi hành án dân

sự ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Luật học tại Trường Đại học Luật Hà Nội của tác
giả Lê Anh Tuấn, năm 2017.
- Đề tài: “Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự theo pháp luật Việt

Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ Luật học tại Học
viện Khoa học Xã hội và Nhân văn của tác giả Nguyễn Xuân Tùng, năm 2017;
- Đề tài: “Xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo pháp luật thi

hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang”, Luận văn Thạc sĩ Luật học tại Học
viện Khoa học Xã hội của tác giả Hoàng Thị Thu Trang, năm 2017;
- Đề tài: “Xử lý tài sản có đăng ký giao dịch bảo đảm để thu hồi nợ cho các

tổ chức tín dụng theo pháp luật thi hành án dân sự” của tác giả Phạm Nguyễn Đức
Tài năm 2014;
- “Sổ tay Nghiệp vụ THADS”, PGS.TS Nguyễn Văn Luyện và TS. Nguyễn

Thanh Thủy (chủ biên), Tổng cục THADS, Bộ Tư pháp, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2012.
Và một số các bài viết có nội dung liên quan đến vấn đề xử lý tài sản thế
chấp đăng trên các tạp chí luật học chuyên ngành.
Nhìn chung, các công trình khoa học trên đây đã nghiên cứu và làm sáng tỏ
một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cưỡng chế thi hành án dân sự nói chung và xử
lý tài sản thế chấp nói riêng. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về cưỡng
chế thi hành các bản án, quyết định về hợp đồng tín dụng ngân hàng xuất phát từ
thực tiễn thực hiện tại các cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Vì vậy, sau
khi nghiên cứu, tiếp thu, kế thừa các quan điểm khoa học của các công trình khoa
học trên, tác giả xác định việc nghiên cứu chuyên sâu về áp dụng các biện pháp
cưỡng chế thi hành án dân sự nhằm thi hành các bản án, quyết định về hợp đồng tín
3


dụng ngân hàng xuất phát từ thực tiễn thực hiện tại các cơ quan thi hành án dân sự
tỉnh Bắc Giang là cần thiết.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Luận văn hướng tới mục đích nghiên cứu một cách hệ thống, khoa học về
cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định về hợp đồng tín dụng ngân hàng, từ đó
chỉ ra được những điểm mang tính chất đặc thù cần chú trọng khi tổ chức cưỡng chế
đối với loại việc này. Nêu thực trạng cưỡng chế tổ chức thi hành các bản án, quyết
định về hợp đồng tín dụng ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong những năm
gần đây và phân tích một số khó khăn, vướng mắc, một số sai sót thường gặp trong
quá trình cưỡng chế, kê biên, xử lý tài sản trong các bản án, quyết định về hợp đồng
TDNH trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và nguyên nhân. Từ đó, đưa ra một số giải pháp
và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết
định về Hợp đồng tín dụng ngân hàng nói chung, và giải pháp nhằm bảo đảm thực
hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định về Hợp đồng tín dụng
ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên đề tài luận văn cần thực hiện các
nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận về cưỡng chế thi hành án, các nguyên
tắc cưỡng chế thi hành án và các biện pháp cưỡng chế thi hành án nói chung theo quy
định của pháp luật hiện hành. Từ đó chỉ ra được những đặc điểm đặc trưng trong cưỡng
chế thi hành các bản án, quyết định về hợp đồng tín dụng ngân hàng.
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về cưỡng chế thi hành các
bản án, quyết định về hợp đồng tín dụng ngân hàng.
Thứ ba, phân tích các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác
cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định về hợp đồng tín dụng ngân hàng.
Thứ tư, đưa ra các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm
4


thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định về hợp đồng tín
dụng ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định về hợp đồng TDNH là một phần
của cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản trong thi hành án kinh doanh thương mại, dó đó
nó vừa mang đầy đủ đặc trưng của cưỡng chế thi hành các bản án kinh doanh,
thương mại, vừa có những đặc điểm đặc trưng riêng. Những vấn đề lý luận về
cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định về hợp đồng tín dụng ngân hàng, gồm:
Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, các nguyên tắc cưỡng chế thi hành các bản án,
quyết định về hợp đồng tín dụng ngân hàng… đây là một lĩnh vực nghiên cứu
rộng, có thể tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu,
luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các quy định về cưỡng chế thi hành các bản
án, quyết định về hợp đồng tín dụng ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và
thực tiễn thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang nơi tác giả đang
công tác. Trong đó, tác giả không nghiên cứu về tất cả các biện pháp cưỡng chế
THA mà tập trung phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật thực định về
cưỡng chế thi hành án đối với nghĩa vụ trả tiền trong thi hành các bản án, quyết
định về hợp đồng TDNH, và biện pháp cưỡng chế buộc chuyển giao vật, chuyển
giao quyền tài sản, giấy tờ trong trường hợp cưỡng chế giao tài sản bán đấu giá cho
người trúng đấu giá tài sản.
Luận văn có sự tiếp thu và kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu đã
được công bố trong thời gian qua.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của Triết học duy vật biện
chứng và Triết học duy vật lịch sử, dựa trên cơ sở phương pháp luận đúng đắn, khoa
học của chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật,
các quan điểm chỉ đạo của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền. Luận văn sử dụng
linh hoạt, kết hợp giữa các phương pháp cứu khoa học chuyên ngành cụ thể như:
phương pháp phân tích, chứng minh, so sánh, diễn giải, thống kê, tổng hợp…Các
phương pháp nghiên cứu được sử dụng đồng thời, có sự kết hợp, không áp dụng một
5


cách cứng nhắc, tách biệt theo trình tự hết phương pháp này mới đến phương pháp
khác. Tuy nhiên, phương pháp logic và hệ thống được sử dụng xuyên xuốt, đảm bảo
tính nhất quán, liên thông giữa các nội dung, các chương của đề tài, còn ở mỗi chương
phương pháp nghiên cứu chủ yếu, đặc trưng được sử dụng như sau:
Chương 1 và Chương 2: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, diễn giải,
chứng minh, so sánh để làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về cưỡng chế thi hành án
nói chung, và đặc điểm đặc trưng cần lưu ý của cưỡng chế thi hành các bản án,
quyết định về hợp đồng tín dụng ngân hàng nói riêng.
Chương 3: Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp để
đánh giá thực trạng thực hiện việc cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định về hợp
đồng tín dụng ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong 05 năm từ 2014 đến
2018, từ đó chỉ ra những sai sót thường gặp của các Chấp hành viên trong quá trình
tổ chức cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định về hợp đồng tín dụng ngân hàng.
Từ kết quả phân tích, tổng hợp, kết hợp lý luận và thực tiễn để đảm bảo tính thuyết
phục khi đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực
hiện pháp luật về thi hành các bản án, quyết định về hợp đồng tín dụng ngân hàng trên
địa bàn tỉnh Bắc Giang.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách khoa học, có hệ thống về các
vấn đề lý luận về cưỡng chế thi hành án, các quy định của pháp luật hiện hành về
cưỡng chế thi hành án, từ đó chỉ ra đặc điểm đặc trưng cần lưu ý của cưỡng chế thi
hành án trong các vụ án về hợp đồng tín dụng ngân hàng so với việc cưỡng chế
trong các vụ án thông thường; góp phần làm phong phú và bổ sung thêm cho hoạt
động nghiên cứu khoa học về pháp luật trong lĩnh vực THADS.
Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần làm rõ thực trạng thực hiện việc
cưỡng chế thi hành án dân sự trong các vụ án về hợp đồng tín dụng ngân hàng trên
địa bàn tỉnh Bắc Giang, từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện các quy
định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả công tác tổ chức cưỡng chế thi hành án dân
sự trong các vụ án về hợp đồng tín dụng ngân hàng; Đồng thời giúp các Chấp hành
viên có cái nhìn tổng quát, hệ thống đối với các quy định về tổ chức cưỡng chế thi
6


hành các bản án, quyết định về hợp đồng tín dụng ngân hàng, từ đó hạn chế đến
mức thấp nhất sai sót có thể phát sinh.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận
văn được trình bày với kết cấu gồm 03 chương như sau:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết
định về hợp đồng tín dụng ngân hàng.
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về cưỡng chế thi hành các bản án, quyết
định về hợp đồng tín dụng ngân hàng.
- Chương 3: Thực tiễn cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định về hợp
đồng tín dụng ngân hàng tại các cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Bắc
Giang và một số kiến nghị.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƯỠNG CHẾ
THI HÀNH CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH VỀ
HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của cưỡng chế thi hành các bản án,
quyết định về hợp đồng tín dụng ngân hàng.
1.1.1 Khái niệm cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định về hợp đồng
tín dụng ngân hàng
Hiện nay, chưa có khái niệm chính thức về bản án, quyết định của Tòa án,
tuy nhiên theo nghĩa chung nhất có thể hiểu bản án, quyết định là các văn bản
pháp lý mang tính quyền lực nhà nước, do Tòa án có thẩm quyền ban hành, nhằm
xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các cá nhân, tổ chức hoặc xác
định những biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với người vi phạm pháp luật. Theo
nghĩa đó có thể hiểu bản án, quyết định về hợp đồng TDNH là văn bản pháp lý
mang tính quyền lực nhà nước, do Tòa án có thẩm quyền ban hành, nhằm xác định
các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện
những giao ước đã ký kết trong các hợp đồng TDNH.
Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế trong nước và khu vực có nhiều
diễn biến phức tạp, tốc độ phục hồi kinh tế chậm, thị trường bất động sản không ổn
định, lúc sôi động, lúc lại trầm lắng…kéo theo đó là các khoản nợ xấu của các tổ
chức TDNH ngày càng tăng. Các khoản vay trung, dài hạn đến kỳ thu hồi nợ nhưng
tổ chức, cá nhân vay vốn làm ăn thua lỗ, mất khả năng thanh toán, dẫn đến phải giải
quyết bằng con đường tố tụng diễn ra ngày càng phổ biến. Đây là nguyên nhân làm
gia tăng áp lực cho các cơ quan THADS trong việc tổ chức thi hành các bản án,
quyết định về hợp đồng TDNH. Điều 106, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Bản án,
quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức,
cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp

8


hành”. Điều 4, Luật THADS được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật THADS) quy
định về bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định: “Bản án, quyết định quy định
tại Điều 2 của Luật này phải được cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình
chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải chịu trách nhiệm trước pháp
luật về việc thi hành án”. Trong thực tế, để các bản án, quyết định được tổ chức
thi hành, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, cơ quan THADS
bên cạnh việc sửa dụng những biện pháp mềm dẻo như tuyên truyền, thuyết phục,
vận động, hòa giải, thỏa thuận… trong nhiều trường hợp phải áp dụng biện pháp
cưỡng chế thi hành án.
Theo nghĩa chung nhất, cưỡng chế là dùng quyền lực nhà nước buộc tổ chức,
cá nhân nhất định phải tuân theo, đó là một phương thức sử dụng và bảo đảm cho
quyền lực nhà nước được thực hiện bởi biện pháp nhất định và do chủ thể có
thẩm quyền tiến hành [5, Tr28]. Để thực hiện chức năng quản lý, Nhà nước sử
dụng nhiều nhiều loại hình cưỡng chế như: cưỡng chế hành chính, cưỡng chế
hình sự, cưỡng chế THADS…mỗi loại hình lại có quy định về trình tự, thủ tục
khác nhau.
Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp do cơ quan thi hành án dân sự
áp dụng để buộc người phải thi hành án chấp hành nghĩa vụ nêu trong bản án,
quyết định được thi hành, theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ được quy định trong
Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành. Khoản 2 Điều 9 Luật THADS
quy định: “Người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện
thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật này”. Như vậy, để áp
dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án thì điều kiện đầu tiên là người phải thi hành
án có điều kiện thi hành án. Khoản 6, Điều 3 Luật THADS quy định: “Có điều
kiện thi hành án là trường hợp người phải thi hành án có tài sản, thu nhập để thi
hành nghĩa vụ về tài sản; tự mình hoặc thông qua người khác thực hiện nghĩa vụ
thi hành án”. Điều kiện thứ 2 là người phải thi hành án không tự nguyện thi hành.
Ngoài ra, còn có các điều kiện khác như người phải thi hành án đã nhận được
9


quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án, đã hết
thời hạn tự nguyện thi hành án được quy định tại Điều 45 Luật THADS trừ trường
hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc
trốn tránh việc thi hành án [3]…
Quá trình tổ chức thi hành án đối với loại việc thi hành án liên quan đến các
tổ chức TDNH, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế diễn ra phổ biến do nhiều
nguyên nhân trong đó phải kể đến tính chất phức tạp trong quá trình xử lý tài sản
bảo đảm, đặc biệt là trong trường hợp người phải thi hành án là các tổ chức, doanh
nghiệp, tài sản thế chấp có tính chất đặc thù như máy móc, trang thiết bị sử dụng
trong sản xuất công nghiệp…
Nói tóm lại, cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định về hợp đồng tín dụng
ngân hàng là biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, sử dụng quyền lực nhà nước,
do Chấp hành viên cơ quan THADS áp dụng, để buộc người phải thi hành án chấp
hành các nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định về hợp đồng tín dụng ngân
hàng. Việc tổ chức cưỡng chế thi hành án trong các vụ án liên quan đến tín dụng
ngân hàng là một trường hợp của cưỡng chế thi hành án dân sự do đó phải tuân thủ
theo những quy định chung về nguyên tắc, điều kiện, trình tự, thủ tục áp dụng… các
biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự.
1.1.2 Đặc điểm cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định về hợp đồng tín
dụng ngân hàng
Như đã nói ở phần trước, cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định về hợp
đồng TDNH vừa mang đầy đủ đặc điểm của cưỡng chế THADS, vừa có những đặc
điểm riêng, đặc thù.
1.1.2.1 Đặc điểm chung của cưỡng chế THADS
Thứ nhất, về tính chất và chủ thể áp dụng, cưỡng chế thi hành án dân sự thể
hiện quyền năng đặc biệt của Nhà nước và được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh
của Nhà nước. Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự phải do cơ quan có thẩm
quyền thực hiện. Ở nước ta, thẩm quyền tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự thuộc
về cơ quan Thi hành án dân sự. Cưỡng chế thi hành án dân sự được thực hiện theo
quy định của pháp luật. Mọi hành vi gây cản trở, chống đối việc cưỡng chế thi hành
10


án dân sự đều có thể bị phạt tiền hoặc bị đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự và
phải chịu trách nhiệm hình sự [7, tr7].
Thứ hai, về điều kiện áp dụng: có 02 điều kiện (1) chỉ được áp dụng biện
pháp cưỡng chế sau khi hết thời hạn tự nguyện thi hành án trừ trường hợp cần ngăn
chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh nghĩa vụ
thi hành án. Ngoài ra, Chấp hành viên không được tổ chức cưỡng chế thi hành án có
huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước và sau tết Nguyên đán; các ngày
truyền thống đối với các đối tượng chính sách là người phải thi hành án; các trường
hợp đặc biệt khác ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã
hội, phong tục, tập quán tại địa phương [7, tr.7]; (2) người phải thi hành án có điều
kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành (Điều 46 Luật THADS).
Thứ ba, mục đích của việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
là ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản; đảm bảo quyền và lợi
ích chính đáng của Nhà nước, tổ chức và công dân, giữ vững ổn định chính trị và
trật tự an toàn xã hội [7, tr7].
Thứ tư, về hình thức thực hiện, cưỡng chế THADS được áp dụng thông qua
thực hiện quyết định có hiệu lực bắt buộc thi hành – Quyết định cưỡng chế thi hành
án. Quyết định cưỡng chế THADS không chỉ có giá trị bắt buộc đối với người phải
thi hành án, mà tất cả những tổ chức, cá nhân có liên quan phải tôn trọng và thực
hiện. Chủ thể có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế THADS phải thực hiện đúng
thẩm quyền, trình tự, thủ tục, nội dung và phù hợp với thực tế; hành vi ra quyết định
cưỡng chế THADS không đúng pháp luật cũng bị xử lý nghiêm khắc, trong đó có
hình thức xử lý bằng trách nhiệm hình sự với tội danh không thi hành án hoặc ra
quyết định trái pháp luật [6, tr.34, 35].
Thứ năm, các biện pháp cưỡng chế THADS được quy định tại Điều 71 Luật
THADS gồm có 06 biện pháp: (1) Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền,
giấy tờ có giá của người phải thi hành án; (2) Trừ vào thu nhập của người phải thi
hành án; (3) Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do
người thứ ba giữ; (4) Khai thác tài sản của người phải thi hành án; (5) Buộc chuyển
giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ; (6) Buộc người phải thi hành án thực
11


hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định. Việc áp dụng biện pháp cưỡng
chế thi hành án dân sự phải căn cứ căn cứ vào nội dung bản án, quyết định; quyết
định thi hành án; tính chất, mức độ, nghĩa vụ thi hành án; điều kiện của người phải
thi hành án; yêu cầu bằng văn bản của đương sự và tình hình thực tế của địa phương
để lựa chọn việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án [7, tr.7].
1.1.2.2. Đặc điểm của cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định về hợp
đồng tín dụng ngân hàng.
Ngoài những đặc điểm chung của cưỡng chế THADS, việc cưỡng chế thi
hành các bản án, quyết định về hợp đồng TDNH còn có những đặc điểm đặc trưng
cần lưu ý:
- Thứ nhất, về chủ thể, bên được thi hành án thông thường là tổ chức tín
dụng, ngân hàng, bên còn lại có thể là cá nhân, tổ chức hay doanh nghiệp. Đối với
mỗi chủ thể, pháp luật có những quy định riêng về điều kiện áp dụng biện pháp
cưỡng chế thi hành án, cụ thể:
+ Trường hợp người phải thi hành án là cá nhân, tổ chức, hộ gia đình thì khi
hết thời hạn tự nguyện thi hành án, người phải thi hành án có điều kiện mà không tự
nguyện thi hành thì bị áp dụng biện pháp cưỡng chế để xử lý các tài sản cầm cố, thế
chấp, tài sản khác nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định có hiệu
lực thi hành.
+ Tuy nhiên trong trường hợp người phải thi hành án là doanh nghiệp, thì
pháp luật quy định rõ: “Cơ quan thi hành án dân sự chỉ kê biên tài sản khác của
doanh nghiệp phải thi hành án, nếu sau khi đã khấu trừ tài khoản, xử lý vàng, bạc,
đá quý, kim khí quý khác, giấy tờ có giá của doanh nghiệp đang do doanh nghiệp
quản lý hoặc đang do người thứ ba giữ mà vẫn không đủ để thi hành án, trừ trường
hợp bản án, quyết định có quyết định khác hoặc đương sự có thỏa thuận khác”
(khoản 5, Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ).
Ngoài ra, trong quá trình tổ chức việc thi hành án đối với người phải thi hành
án là doanh nghiệp, Chấp hành viên cần xác định rõ loại hình doanh nghiệp để có cơ
sở pháp lý xem xét tư cách người đại diện của doanh nghiệp để thực hiện các quyền,
nghĩa vụ trong thi hành án dân sự. Ví dụ: đối với chủ thể là doanh nghiệp tư nhân
12


thì chủ doanh nghiệp là người địa diện tham gia giải quyết việc thi hành án, có
quyền quyết định về các nội dung thi hành án của doanh nghiệp trong quá trình giải
quyết vụ việc; tuy nhiên đối với người phải thi hành án là Công ty cổ phần thì cần
phải xem xét Điều lệ công ty xem phạm vi quyền hạn của giám đốc, hay tổng giám
đốc, Điều lệ công ty có quy định cho họ là người đại diện quyết định các vấn đề liên
quan đến xử lý tài sản doanh nghiệp hay không, tránh tình trạng cơ quan THADS
căn cứ trên những yêu cầu, hoặc quyết định của người không có thẩm quyền quyết
định để giải quyết vụ việc là trái quy định [8, tr.9].
- Thứ hai, tài sản phải kê biên, xử lý để thi hành án thông thường được xác
định rõ trong bản án, quyết định, là những tài sản có đăng ký giao dịch bảo đảm và
thường có tính đặc thù: bên cạnh bất động sản, những tài sản là động sản thế chấp
của các doanh nghiệp thông thường là máy móc, thiết bị, dây truyền sản xuất,
nguyên nhiên vật liệu, hàng hóa, tài sản hình thành trong tương lai... những tài sản
này thường có giá trị rất lớn, yêu cầu về yếu tố kỹ thuật, công nghệ cao...do vậy đòi
hỏi Chấp hành viên trong quá trình tổ chức việc thi hành án, xử lý tài sản cần nắm
chắc các quy định của pháp luật có liên quan để tránh xảy ra sai phạm làm phát sinh
khiếu nại, khiếu kiện dẫn đến trách nhiệm bồi thường... Trong một số trường hợp
đặc biệt, do giao dịch bảo đảm không hợp pháp, bị Tòa án tuyên vô hiệu, trong quá
trình xử lý tài sản để thu hồi nợ, cơ quan THADS, chấp hành viên có quyền kê biên,
xử lý tài sản khác của người phải thi hành án để thu hồi nợ cho các tổ chức TDNH,
buộc người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ theo án tuyền.
- Thứ ba, quá trình xác minh, thiết lập hồ sơ để tổ chức cưỡng chế thi hành
án đối với các tổ chức, doanh nghiệp, bên cạnh việc xác minh tài sản, doanh thu,
hoạt động kinh doanh… của doanh nghiệp, Chấp hành viên cần phải tiến hành việc
xác minh đồng bộ với nhiều cơ quan, tổ chức như: cơ quan quản lý kinh doanh, cơ
quan thuế, bảo hiểm, cơ quan quản lý đất đai… để thu thập các thông tin của doanh
nghiệp về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, việc chấp hành nghĩa vụ đối với
nhà nước, các lần đăng ký thay đổi người đại diện doanh nghiệp để xác định chính
xác tư cách người đại diện doanh nghiệp trong quá trình làm việc, đặc biệt là trong
giai đoạn áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án.
13


- Thứ tư, quyền lợi của các tổ chức tín dụng ngân hàng luôn được bảo đảm
thông qua quy định về ưu tiên thanh toán cho bên nhận thế chấp, cầm cố.
Theo luật tổ chức tín dụng thì một trong những hoạt động của tổ chức tín
dụng, ngân hàng là cho vay. Theo đó, cho vay là hình thức cấp tín dụng, bên cho
vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục
đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn
trả cả gốc và lãi. Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của khách hàng thì giữa các tổ chức
tín dụng, ngân hàng và khách hàng đều xác lập giao dịch bảo đảm tiền vay. Khi phát
sinh tranh chấp, Tòa án phải xem xét đến việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ
cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng [12, tr.259]. Luật THADS và các văn bản
hướng dẫn thi hành quy định quyền ưu tiên thanh toán cho bên nhận cầm cố, thế
chấp khi xử lý các tài sản để thi hành án. Khoản 3 Điều 47 Luật THADS năm 2008
được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định: “Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế
chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp là bên được thi hành án hoặc trường hợp bán
tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ
thể thì số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp, bị kê biên được ưu tiên
thanh toán cho bên nhận cầm cố, thế chấp hoặc bên có nghĩa vụ được bảo đảm sau
khi trừ án phí của bản án, quyết định đó, chi phí cưỡng chế và khoản tiền quy định
tại khoản 5 Điều 115 của Luật này.
Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp
không phải là người được thi hành án thì người nhận cầm cố, thế chấp được ưu tiên
thanh toán trước khi thanh toán các khoản theo quy định tại Điều này”.
Điều 90 Luật THADS được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định: “1. Trường
hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng
không đủ để thi hành án, Chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý tài sản của người
phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ
được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án; 2. Khi kê biên tài sản đang cầm
cố, thế chấp, Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người nhận cầm cố, nhận
thế chấp; khi xử lý tài sản kê biên, người nhận cầm cố, nhận thế chấp được ưu tiên
thanh toán theo quy định tại khoản 3 Điều 47 của Luật này”.
14


Ngày 21/6/2017, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa 14 đã thông qua Nghị quyết
số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu1 của các tổ chức tín dụng, Nghị quyết có
hiệu lực thi hành từ ngày 15/8/2017 và được thực hiện trong thời hạn 05 năm kể từ
ngày có hiệu lực. Tại Điều 12 Nghị quyết số 42/2017/QH14 quy định: “Số tiền thu
được từ xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, sau khi trừ chi phí bảo quản, thu
giữ và chi phí xử lý tài sản bảo đảm được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ nợ được
bảo đảm cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán,
xử lý nợ xấu trước khi thực hiện nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ khác không có bảo đảm
của bên bảo đảm. Trường hợp một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều
nghĩa vụ thì thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm thực hiện
theo quy định của pháp luật”. Theo đó, khi thực hiện việc xử lý tài sản bảo đảm cho
các khoản nợ xấu, cơ quan THADS chỉ được khấu trừ chi phí bảo quản, thu giữ và
chi phí xử lý tài sản bảo đảm từ khoản tiền bán tài sản thu được, số tiền còn lại được
ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ trả nợ được bảo đảm cho ngân hàng, tổ chức tín
dụng trước khi thực hiện nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ khác không có bảo đảm của bên
bảo đảm.
Ngoài ra, quyền ưu tiên của ngân hàng, tổ chức tín dụng cũng được ghi nhận
tại Điều 11 Nghị quyết 42/2017/QH14 về kê biên tài sản bảo đảm của bên phải thi
hành án: “Các tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của bên phải thi hành án đang
bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài,
tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu không bị kê biên để thực hiện nghĩa vụ khác theo quy
định tại Điều 90 của Luật Thi hành án dân sự, trừ trường hợp thi hành bản án,
quyết định về cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và trường hợp
có sự đồng ý bằng văn bản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài,
tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu”. Như vậy, trong thời gian Nghị quyết có hiệu lực thi
hành thì cơ quan THADS chỉ được áp dụng Điều 90 Luật THADS về kê biên, xử lý
tài sản đang cầm cố, thế chấp trong trường hợp thi hành bản án, quyết định về cấp

1

Nợ xấu bao gồm: a/ Khoản nợ được hình thành và xác định là nợ xấu trước ngày 15/8/2017; b/ Khoản nợ
được hình thành trước ngày 15/8/2017 và được xác định là nợ xấu trong thời gian Nghị quyết có hiệu lực thi
hành (Điều 4 – Nghị quyết số 42/2017/QH14)

15


dưỡng, bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và trường hợp có sự đồng ý
bằng văn bản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua
bán, xử lý nợ xấu. Ngoài các trường hợp trên thì Chấp hành viên, cơ quan THADS
không được kê biên theo Điều 90 Luật THADS.
* Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm sau: Cưỡng chế thi hành
các bản án, quyết định về hợp đồng tín dụng ngân hàng là biện pháp cưỡng chế
thi hành án dân sự, sử dụng quyền lực nhà nước, do Chấp hành viên cơ quan
THADS áp dụng, để buộc các chủ thể phải chấp hành các nghĩa vụ được ấn định
trong bản án, quyết định về hợp đồng tín dụng ngân hàng; nhằm mục đích ngăn
chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản; đối tượng của cưỡng chế
thi hành các bản án, quyết định về hợp đồng tín dụng ngân hàng thông thường là
các tài sản có đăng ký giao dịch bảo đảm và được xác định rõ trong bản án, quyết
định của Tòa án.
1.1.3 Ý nghĩa của việc cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định về hợp
đồng tín dụng ngân hàng
Thứ nhất, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ pháp chế XHCN.
Pháp luật là “tổng hợp các quy tắc xử sự thể hiện ý chí của Nhà nước có tính bắt
buộc chung do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và được Nhà nước đảm bảo thực
hiện bằng sức mạnh cưỡng chế” [6, tr.35]. Điều 106, Hiếp pháp (HP) năm 2013 qui
định: “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ
quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm
chỉnh chấp hành”. Đây là nguyên tắc cơ bản được ghi nhận xuyên suốt từ Hiến
pháp 1980 và là nguyên tắc cho mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, bảo đảm
tính thượng tôn của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật, tôn trọng và nghiêm chỉnh
chấp hành theo phán quyết của Tòa án thông qua các bản án, quyết định có hiệu lực
pháp luật vừa là quyền và nghĩa vụ của mọi tổ chức và cá nhân. Chấp hành các bản
án, quyết định của tòa án không chỉ bảo đảm hiệu lực pháp luật của bản án, quyết
định trên thực tế mà còn bảo đảm tính thượng tôn của pháp luật, duy trì trật tự xã
hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, tạo được lòng tin của nhân dân đối với
Đảng, nhà nước, công lý và cả chế độ, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
16


hội, nâng cao ý thức, trách nhiệm chấp hành pháp luật của nhân dân trong mọi mặt
của đời sống xã hội. Ngược lại, nếu bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực
pháp luật nhưng không được nghiêm chỉnh thi hành, thì hiệu lực pháp luật của bản
án, quyết định cũng như hiệu lực quản lý của nhà nước, tính nghiêm minh của pháp
luật bị xem thường, lòng tin của nhân dân đối với với Đảng, nhà nước, chế độ bị
giảm sút.
Tuy nhiên, trong thực tế, không phải bản án, quyết định nào của Tòa án cũng
được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng và tự nguyện chấp hành, do đó trong
trường hợp cần thiết, nhà nước cần sử dụng quyền lực của mình để trấn áp, thông
qua việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế để buộc các chủ thể có nghĩa vụ phải
thực hiện nghĩa vụ của mình. Trong quan hệ dân sự, cưỡng chế THADS là biện
pháp hữu hiệu bảo đảm các bản án, quyết định của tòa án đều được thi hành nghiêm
chỉnh trên thực tế, đảm bảo hiệu lực quản lý của nhà nước, tính nghiêm minh của
pháp luật, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và
mọi công dân, bảo đảm cho sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, tạo môi trường
đầu tư kinh doanh lành mạnh, duy trì trật tự xã hội, giữ vững kỷ cương, phép nước,
tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân,
góp phần nâng cao ý thức pháp luật của các chủ thể, tạo môi trường kinh doanh lành
mạnh, thu hút đầu tư. Phán quyết của Tòa án thông qua các bản án, quyết định mới
chỉ dừng lại ở việc bảo vệ quyền lợi của cá nhân, tổ chức trên cơ sở quy định của
pháp luật về mặt lý thuyết, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể có thực sự được
bảo vệ trên thực tế hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: kết quả tổ chức thi
hành các bản án, quyết định nhanh hay chậm; giá trị tài sản thế chấp, bảo lãnh sau
khi xử lý thu về được bao nhiêu phần trăm so với nghĩa vụ phải thi hành… Xét về
bản chất, xuất phát điểm của các tranh chấp xuất phát từ việc một bên trong quan hệ
hợp đồng cố tình vi phạm những cam kết, không thực hiện việc nghĩa vụ theo hợp
đồng, do đó khi tranh chấp được giải quyết tại Tòa án, Tòa án nhân danh Nhà nước
phán quyết về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể để bên cạnh việc đảm bảo sự công

17


bằng, trật tự xã hội thì bản án, quyết định chính là văn bản kết thúc sự tranh chấp
của các bên đương sự trong quan hệ hợp đồng. Trong thực tế, sau khi có bản án,
quyết định của Tòa án, cũng có một số ít trường hợp tự nhận thức được trách nhiệm
của mình trong việc thực hiện nghĩa vụ và tự nguyện thi hành án, số vụ việc này chủ
yếu tập trung ở đối tượng người phải thi hành án là hộ gia đình, cá nhân phải thi
hành nghĩa vụ trả nợ đối với các Ngân hàng, TCTD; số còn lại đa phần là các doanh
nghiệp phải thi hành án không tự nguyện thi hành dẫn đến việc cơ quan THADS
phải tổ chức cưỡng chế để thi hành án. Nguyên nhân của việc không tự nguyện thi
hành của đa số các doanh nghiệp chủ yếu là do: đến giai đoạn thi hành án, đa số các
doanh nghiệp đã ngừng hoạt động, không có khả năng tự phục hồi, tìm kiếm nguồn
tài chính để thi hành án, do đó việc xử lý tài sản thế chấp là giải pháp tốt nhất để kết
thúc nghĩa vụ trong mối quan hệ hợp đồng với tổ chức TDNH.
Thứ ba, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong tổ chức thi hành các bản
án, quyết định về hợp đồng TDNH là giải pháp hữu hiệu, đảm bảo quá trình xử lý
tài sản thế chấp, bảo lãnh được chặt chẽ, hiệu quả và triệt để nhất, nâng cao khả
năng thu hồi tiền cho các ngân hàng, tổ chức tín dụng. Hiện nay tuy pháp luật đã có
quy định cho phép Ngân hàng, TCTD được quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi
nợ, nhưng không quy định cho Ngân hàng có chức năng cưỡng chế để xử lý tài sản,
nên trong nhiều trường hợp, ban đầu người phải thi hành án tự nguyện giao tài sản
để các ngân hàng xử lý, bán tài sản để thu hồi nợ, tuy nhiên đến giai đoạn giao tài
sản cho người mua thì đương sự thay đổi thái độ, chống đối không tự dịch chuyển
tài sản để giao cho người mua khiến Ngân hàng, TCTD không thể giao tài sản cho
người mua theo đúng hợp đồng bán đấu giá tài sản được, nhiều vụ việc các bên đã
phải tự thỏa thuận để hủy hợp đồng bán đấu giá tài sản để yêu cầu cơ quan THADS
tổ chức thi hành vụ việc theo trình tự, thủ tục THADS. Bên cạnh đó, trong một số
trường hợp, do sai sót ngay từ khâu lập hồ sơ thẩm định giá tài sản để cho vay ban
đầu của các Ngân hàng, tổ chức tín dụng mà không ít doanh nghiệp đã lợi dụng đem
cùng một tài sản để thế chấp cho các ngân hàng khác nhau, hoặc tách rời một số bộ
phận của dây truyền máy công nghệ để thế chấp. Do đó, trong trường hợp này, khi
18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×