Tải bản đầy đủ

Hoàn thiện pháp luật về thanh tra chuyên ngành đất đai ở việt nam hiện nay

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ THANH TRA CHUYÊN NGÀNH ĐẤT ĐAI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

TẠ QUANG HẢI

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

VỀ THANH TRA CHUYÊN NGÀNH ĐẤT ĐAI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

TẠ QUANG HẢI

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107

Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN THỊ THÚY

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả số liệu nêu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, chính xác của
các cơ quan chức năng đã công bố. Những kết luận khoa học của luận văn là mới
và chưa có tác giả công bố trong bất cứ công trình khoa học nào.
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị khoa Luật xem xét để tôi có thể được
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.

XÁC NHẬN CỦA NGƯỜI HƯỚNG

NGƯỜI CAM ĐOAN

DẪN KHOA HỌC

TS. Trần Thị Thuý

Tạ Quang Hải


LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được thực hiện tại Viện đại học Mở Hà Nội. Để hoàn thành
được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của các thầy
cô giáo trong trường.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Trần Thị Thúy đã
hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu của mình.


Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, người đã đem
lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong thời gian học vừa qua.
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa Đào tạo sau
đại học, Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những
người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề
tài nghiên cứu của mình.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Tạ Quang Hải


MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
LỜI MỞ ĐẦU

1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THANH
TRA CHUYÊN NGÀNH ĐẤT ĐAI

6

1.1. Lí luận về thanh tra chuyên ngành đất đai

6

1.1.1. Khái niệm thanh tra chuyên ngành đất đai

6

1.1.2. Đặc điểm thanh tra chuyên ngành đất đai

10

1.1.3. Ý nghĩa, vai trò thanh tra chuyên ngành đất đai

17

1.2. Lí luận về pháp luật thanh tra chuyên ngành đất đai

18

1.2.1. Khái niệm và đặc điểm pháp luật về thanh tra chuyên ngành đất đai

18

1.2.2. Nội dung pháp luật về thanh tra chuyên ngành đất đai

18

1.2.3. Vai trò pháp luật thanh tra chuyên ngành đất đai

23

1.3. Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật thanh tra chuyên
ngành đất đai

24

1.3.1. Tiêu chí về mặt nội dung

24

1.3.2. Tiêu chí về mặt hình thức

26

1.3.3. Tiêu chí về tổ chức thực hiện

27

Kết luận chương 1

28

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT VỀ THANH TRA CHUYÊN NGÀNH ĐẤT ĐAI

29

2.1. Thực trạng pháp luật về thanh tra chuyên ngành đất đai

29

2.1.1. Quy định pháp luật về thanh tra chuyên ngành đất đai

29


2.1.2. Ưu điểm, nhược điểm pháp luật về thanh tra chuyên ngành
đất đai
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về thanh tra chuyên ngành đất đai

55
65

2.2.1. Công tác quản lý Nhà nước về hoạt động thanh tra chuyên
ngành đất đai

65

2.2.2. Kết quả thực hiện thanh tra chuyên ngành đất đai trong thời
gian qua
2.2.3. Một số vụ việc thanh tra chuyên ngành đất đai
Kết luận chương 2

72
76
89

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ THANH TRA CHUYÊN NGÀNH ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY

91

3.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về thanh tra chuyên ngành đất đai

91

3.2. Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về thanh tra chuyên ngành đất đai

93

3.2.1. Các giải pháp hoàn thiện về nội dung và hình thức của pháp
luật về thanh tra chuyên ngành đất đai

93

3.2.2. Các giải pháp tổ chức thực hiện pháp luật về thanh tra chuyên
ngành đất đai

95

3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác thanh tra chuyên
ngành đất đai

96

Kết luận chương 3

97

KẾT LUẬN

99

TÀI LIỆU THAM KHẢO

101

PHỤ LỤC

107


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BTNMT

:

Bộ Tài nguyên và Môi trường

CP

:

Chính phủ

KN, TC

:

Khiếu nại, tố cáo



:

Nghị định

PCTN

:

Phòng, chống tham nhũng

QLNN

:

Quản lý nhà nước

TT

:

Thông tư

UBND

:

Ủy ban nhân dân


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng,
pháp luật về thanh tra, nhiều quy định của pháp luật đã được hoàn thiện và ban
hành, trong đó có văn bản quy định về thanh tra chuyên ngành đất đai. Kể từ khi
Luật Đất đai năm 2013 ra đời, các quy định về thanh tra chuyên ngành đất đai để xử
lí vi phạm trong quản lý, sử dụng đất đai về đất đai đã được các địa phương duy trì,
chỉ đạo thực hiện hàng năm. Kết quả thanh tra đều đã ban hành đầy đủ kết luận theo
đúng quy định của pháp luật. Việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra tình hình thực hiện
kết luận, kiến nghị sau thanh tra đã được các địa phương quan tâm, chỉ đạo thực
hiện. Vì vậy, thanh tra chuyên ngành về đất đai đã góp phần hạn chế các vi phạm
pháp luật, nâng cao hiệu quả quản lí Nhà nước về đất đai.
Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện pháp luật về thanh tra chuyên ngành đất đai vẫn
còn tồn tại, hạn chế, như: Một là, số lượng cuộc thanh tra về đất đai hàng năm ở các
cấp còn hạn chế so với yêu cầu. Đối tượng thanh tra của các cấp, các địa phương
mới chủ yếu thực hiện đối với người sử dụng đất; việc thanh tra chấp hành pháp luật
đất đai đối với cơ quan quản lý nhà nước về đất đai ở các cấp chưa được thực hiện
hoặc thực hiện không đáng kể. Việc xử phạt vi phạm pháp luật đất đai còn hạn chế,
chưa tương xứng với số lượng đối tượng thanh tra, phát hiện vi phạm pháp luật đất
đai; Hai là, việc công khai kết quả thanh tra, kiểm tra theo quy định của pháp luật
thanh tra ở nhiều địa phương thực hiện còn hình thức, nội dung công khai chưa đầy
đủ, thiếu thống nhất. Việc công khai các tổ chức sử dụng đất đang vi phạm pháp
luật đất đai trên cổng thông tin điện tử của UBND và Sở Tài nguyên và Môi trường
ở nhiều tỉnh chưa thực hiện theo quy định; Ba là, việc theo dõi tình hình quản lý, sử
dụng đất đai ở các địa phương chưa được coi trọng thực hiện; chưa thành hệ thống
thống nhất giữa các cấp (chưa có tiêu chí thống nhất, chưa thành chế độ định kỳ,
chưa có cán bộ chuyên trách theo dõi, tổng hợp thường xuyên), chưa đầy đủ các nội
dung nhiệm vụ quản lý đất đai của từng cấp, từng cơ quan, đơn vị theo quy định của
Luật Đất đai năm 2013. Việc đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất đai ở các địa
phương đã có thưc hiện, nhưng chưa thành nền nếp thường xuyên hàng năm; nội dung
1


đánh giá chưa đầy đủ và chưa sâu; chất lượng đánh giá còn hạn chế, chưa sát thực tế,
còn mang tính chủ quan, định tính mà thiếu các thông tin, số liệu chứng minh.
Với những hạn chế, tồn tại nêu trên ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động quản
lí Nhà nước và sử dụng đất đai. Trước thực tế đó, việc nghiên cứu các quy định về
thanh tra chuyên ngành đất đai để đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp
luật về vấn đề này là cần thiết. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Hoàn thiện
pháp luật về thanh tra chuyên ngành đất đai ở Việt Nam hiện nay" có ý nghĩa lý
luận, thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
2.1. Một số công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến đề tài
Pháp luật về thanh tra nói chung và pháp luật trong lĩnh vực thanh là đề tài thu
hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học pháp lý. Nhất trong giai đoạn hiện nay, số
lượng các bài viết, công trình nghiên cứu về thanh tra nói chung và thanh tra về đất đai
nói riêng được tăng lên rõ rệt, trong đó phải kể đến những công trình tiêu biểu sau:
- Phạm Văn Khanh (Chủ nhiệm đề tài) (2004), Thanh tra, kiểm tra trách nhiệm
của cơ quan hành chính nhà nước trong giải quyết khiếu nại, tố cáo và chống tham
nhũng - thực trạng và kiến nghị, Đề tài khoa học cấp Bộ, Thanh tra Chính phủ, Hà Nội.
- Nguyễn Văn Kim (2004), Vai trò của các cơ quan thanh tra Nhà nước trong
giải quyết khiếu nại hành chính ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật, Học viện Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Huy Hoàng (2004), Đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra bộ, thanh
tra chuyên ngành, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp
luật, Hà Nội.
- Nguyễn Thị Minh Hà (2010), Việc thực hiện thẩm quyền giải quyết của thủ
trưởng cơ quan nhà nước và trách nhiệm của các cơ quan thanh tra nhà nước trong
giải quyết khiếu nại hành chính, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật
Hà Nội.
- Vũ Văn Chiến (2011), "Bản chất của hoạt động thanh tra kinh tế - xã hội và
định liệu về xu hướng của nó trong tương lai", Tạp chí Thanh tra số tháng 8.
2


- Nguyễn Huy Hoàng (2014), "Phân biệt rõ các khái niệm thanh tra, kiểm tra để
xác định vị trí, vaii trò của thanh tra và tính độc lập của thanh tra", Tạp chí thanh tra, số
ra tháng 8, Hà Nội.
- Nguyễn Huy Hoàng (2015), Đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan
thanh tra ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ Luật học, Học Viện khoa học Xã hội
Việt Nam.
- Võ Nguyên Chương (2015), Thi hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo
về đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sỹ Luật Kinh tế, Khoa
Luật, Đại học quốc gia Hà Nội.
2.2. Đánh giá các công trình đó đã nghiên cứu và hướng nghiên cứu của đề tài
Hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến thanh tra tra và một
số công trình nghiên cứu thanh tra trong lĩnh vực đất đai. Nhìn chung, nội dung nghiên
cứu trong các công trình nói trên mới dừng lại ở mức độ chung nhất về công tác thanh
tra, như: làm rõ các vấn đề lí luận về thanh tra; đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt
động thanh tra; kiến nghị về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của cơ quan thanh tra. Kể
từ khi Luật Đất đai năm 2013 ban hành và đặc biệt khi có Quyết định Số: 2213/QĐTTg của Thủ tướng Chính phủ ngày ngày 08 tháng 12 năm 2015 về Ban hành Chiến
lược phát triển ngành Thanh tra đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, chưa có công
trình nghiên cứu chuyên sâu nào về thanh tra chuyên ngành đất đai để thực hiện chủ
chương về thanh tra chuyên ngành mà Chiến lược đã đưa ra: Xây dựng cơ quan thanh
tra nhà nước có thực quyền, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả dựa trên nguyên tắc
khách quan, công bằng và từng bước được đổi mới phù hợp với yêu cầu xây dựng nhà
nước pháp quyền, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong
điều kiện hội nhập hiện nay... Các cơ quan thanh tra ngành, lĩnh vực tập trung kiểm tra
việc chấp hành pháp luật và xử lý vi phạm của các tổ chức, cá nhân trên các lĩnh vực
quản lý nhà nước, đặc biệt là các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đời sống hàng ngày
và lợi ích của người dân. Vì vậy, tiếp tục kế thừa các kết quả của các công trình nghiên
cứu liên quan, luận văn tập trung nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực trạng
pháp luật về thanh tra chuyên ngành đất đai ở nước ta hiện nay để từ đó đưa ra các giải
pháp hoàn thiện pháp luật thanh tra chuyên ngành đất đai theo hướng tập trung kiểm tra
việc chấp hành pháp luật và xử lý vi phạm trong quản lí và sử dụng đất đai. Qua đó,
3


góp phần nâng cao hiệu lực thanh tra chuyên ngành đất đai đất; nâng cao hiệu quả quản
lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai, góp một phần nhỏ trong xây dựng cơ sở lí luận thực
hiện Chiến lược phát triển ngành thanh tra.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của luận văn: trên cơ sở phân tích, làm rõ những vấn đề lý
luận và thực tiễn, pháp luật về thanh tra chuyên ngành đất đai, luận văn đưa ra các giải
pháp hoàn thiện pháp luật về thanh tra chuyên ngành đất đai ở Việt Nam hiện nay.
- Nhiệm vụ của luận văn: Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn có những
nhiệm vụ sau đây:
+ Nghiên cứu, làm rõ khái niệm, đặc điểm và nội dung của pháp luật thanh tra
chuyên ngành đất đai;
+ Xây dựng tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật thanh tra chuyên
ngành đất đai.
+ Đánh giá khái quát sự hình thành và phát triển của thanh tra chuyên ngành
đất đai, thực trạng pháp luật về thanh tra chuyên ngành đất đai, thực tiễn tổ chức
thực hiện pháp luật về thanh tra chuyên ngành đất đai, làm rõ những vướng mắc, bất
cập trong pháp luật về thanh tra chuyên ngành đất đai và tổ chức thực hiện pháp luật
thanh tra chuyên ngành đất đai.
+ Luận giải yêu cầu khách quan, quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật
thanh tra chuyên ngành đất đai ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Thanh tra chuyên ngành đất đai không chỉ là hoạt động có tính chất chuyên môn,
nghiệp vụ đơn thuần, mà còn mang ý nghĩa quan trọng trong quản lý nhà nước đất đai và
phát triển đô thị hiện nay. Vì vậy, đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm:
+ Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về thanh tra chuyên ngành, làm sáng tỏ
khái niệm, bản chất, đặc trưng của thanh tra chuyên ngành đất đai;
+ Làm rõ khái niệm, đặc điểm pháp luật về thanh tra chuyên ngành đất đai
những yêu cầu đặt ra đối với hoàn thiện pháp luật thanh tra thanh tra chuyên ngành
đất đai;
4


+ Kiến nghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật về thanh tra chuyên ngành
đất đai, nâng cao hiệu quả của hoạt động thanh tra chuyên ngành đất đai.
- Việc nghiên cứu luận văn căn cứ vào thực tiễn tổ chức và hoạt động thanh tra
chuyên ngành đất đai, đặc biệt là từ sau ban hành Luật Thanh tra năm 2010, Luật
Đất đai năm 2013 đến nay. Vì vậy, luận văn không có tham vọng để nghiên cứu các
quy định pháp luật nội dung liên quan đến thanh tra chuyên ngành đất đai được quy
định trong Luật đất đai và các luật khác có liên quan.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp duy vật biện
chứng của triết học Mác - Lênin với những phương pháp nghiên cứu như: lịch sử cụ thể, phân tích - tổng hợp; kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác như:
thống kê, so sánh, tổng kết thực tiễn.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu
Các kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận về
thanh tra nói chung và thanh tra chuyên ngành đất đai nói riêng.
Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà hoạch định chính sách, xây
dựng pháp luật và những ai quan tâm đến nội dung nghiên cứu của đề tài luận văn.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn gồm
có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận về pháp luật thanh tra chuyên ngành đất đai.
Chương 2: Thực trạng và thực tiễn thực hiện pháp luật về thanh tra chuyên
ngành đất đai.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thanh tra chuyên
ngành đất đai ở Việt Nam hiện nay.

5


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT
THANH TRA CHUYÊN NGÀNH ĐẤT ĐAI
1.1. Lí luận về thanh tra chuyên ngành đất đai
1.1.1. Khái niệm thanh tra chuyên ngành đất đai
Quá trình lao động xã hội đòi hỏi sự quản lý nhà nước như một hiện tượng tất
yếu. Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước
(hoạt động của cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp). Theo
nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là khái niệm chỉ hoạt động của hệ thống cơ quan hành
pháp - cơ quan hành chính nhà nước. Hoạt động quản lý hành chính nhà nước về
tổng quan là một chu trình bao gồm các nội dung là đề ra các chủ trương, cơ chế
chính sách, pháp luật, quyết định quản lý để tạo ra công cụ pháp lý cho hoạt động
và khuôn khổ cho hành vi của các đối tượng chịu sự quản lý [59]. Để xem xét, đánh
giá kết quả những tác động này trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước cần có
hoạt động thanh tra, kiểm tra để từ đó phát hiện và xử lý kịp thời những sai phạm
của đối tượng bị quản lý đảm bảo mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức chấp hành nghiêm
chỉnh chủ trương, chính sách của Đảng; nhiệm vụ, kế hoạch và pháp luật của Nhà
nước. Hoạt động thanh tra, kiểm tra còn giúp phát hiện những sai sót, bất hợp lý của
những kế hoạch, chính sách, pháp luật đang được triển khai để từ đó kiến nghị với
các chủ thể quản lý hành chính nhà nước các biện pháp, cơ chế, chính sách quản lý
phù hợp. Bên cạnh đó, hoạt động thanh tra, kiểm tra cũng giúp phát hiện những đối
tượng quản lý có thành tích tiêu biểu, thông qua đó biểu dương nhằm khích lệ tinh
thần làm việc của những đối tượng quản lý này... Vì vậy, quản lý nhà nước về đất
đai chính là là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thiết lập
các cơ chế, các chính sách và các công cụ quản lý, các biện pháp quản lý và việc
vận hành cơ chế đó nhằm quản lý và sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm và đạt hiệu
quả kinh tế cao. Các cơ quan quản lý thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với
6


đất đai và chức năng đó được thể hiện bằng những nhiệm vụ cụ thể về quản lý đất
đai trong từng giai đoạn.
Thanh tra là một trong những chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là
một khâu trong quá trình quản lý nhằm giúp cơ quan quản lý phát hiện những thiếu
sót, khuyết điểm trong quá trình chỉ đạo, điều hành, triển khai thực hiện chính sách,
pháp luật của Nhà nước [50, tr.138]. Từ đó, giúp cơ quan quản lý nhà nước đưa ra
những biện pháp chấn chỉnh công tác quản lý, kịp thời xử lý các sai phạm, phòng
chống tham nhũng, tiêu cực. Theo quy định pháp luật hiện hành thanh tra quản lý,
sử dụng đất đai là một nội dung của quản lý nhà nước về đất đai. Để đảm bảo đất
đai được sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm, đạt hiệu quả kinh tế cao, nội dung
thanh tra quản lý, sử dụng đất đai phải thể hiện cụ thể được mục đích của việc thanh
tra, tức là phải phù hợp với đối tượng thanh tra, phạm vi thanh tra.
Bên cạnh đó, xã hội luôn luôn vận động và phát triển không ngừng, kết quả
của sự phát triển đó là sự chuyên môn hóa các hoạt động của con người. Những đơn
vị, tổ chức sản xuất - kinh doanh có cùng cơ cấu kinh tế - kỹ thuật hay các tổ chức,
đơn vị hoạt động với mục đích giống nhau (như cũng sản xuất ra một loại sản phẩm,
cùng thực hiện một loại dịch vụ, hay cùng thực hiện một hoạt động sự nghiệp nào
đó…) xuất hiện. Hay nói cách khác đây là chính là sự xuất hiện các loại ngành
trong đời sống xã hội. Có sự phân chia các lĩnh vực hoạt động của xã hội thành các
ngành dẫn đến việc thực hiện hoạt động quản lý nhà nước theo ngành. Khi thực hiện
hoạt động quản lý ngành đòi hỏi các chủ thể quản lý phải thực hiện rất nhiều công
việc chuyên môn khác nhau như: lập quy hoạch và kế hoạch phát triển ngành, quản
lý thực hiện các khoản thu, chi, giám sát, kiểm tra việc thực hiện pháp luật… Trong
điều kiện khối lượng công việc quản lý ngày càng nhiều và mang tính phức tạp thì
đòi hỏi của việc chuyên môn hóa các công việc nêu trên luôn được đặt ra. Chính
điều này đã là nảy sinh ra nhu cầu quản lý theo chức năng hay còn gọi là quản lý
theo ngành, lĩnh vực. Để quản lý theo ngành, lĩnh vực và theo chức năng, đòi hỏi
phải có một tổ chức đứng ra thực hiện công việc này. Các bộ, cơ quan ngang bộ
được thành lập để thực hiện việc thống nhất quản lý một ngành, lĩnh vực chuyên
môn hoặc một vài ngành, lĩnh vực chuyên môn liên quan trong phạm vị toàn quốc.
Cùng với việc xuất hiện hoạt động quản lý theo ngành, lĩnh vực tất yếu sẽ dẫn đến
7


xuất hiện thanh tra theo hoạt động quản lý này. Điều này là hoàn toàn phù hợp với
nguyên tắc ở đâu có hoạt động quản lý hành chính nhà nước ở đó có hoạt động
thanh tra nhà nước.
Mặt khác, phải nhận thấy rằng việc chuyển đổi cơ chế quản lý từ tập trung
quan liêu sang cơ chế thị trường đã kéo theo một loạt những thay đổi. Đối tượng
chịu sự thanh tra, kiểm tra đa dạng hơn, phức tạp hơn với sự gia tăng về số lượng
các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế cũng như quá trình xã hội hoá nhiều
lĩnh vực trong đó Nhà nước không can thiệp trực tiếp, chỉ quản lý thông qua các
mệnh lệnh hành chính mà cần có các biện pháp quản lý khác, mềm dẻo, linh hoạt để
phù hợp với điều kiện hiện nay. Trong cơ chế quản lý mới này, nội dung, phương
thức, mục đích thanh tra đối với các doanh nghiệp không thể mang tính mệnh lệnh
giống như thanh tra các cơ quan, đơn vị, cá nhân trong bộ máy nhà nước mà cần
phải có sự thay đổi. Hoạt động quản lý hành chính nhà nước có phạm vi rộng lớn,
bao trùm tất cả các mặt hoạt động của đời sống xã hội và được thiết kế theo nhiều
ngành, cấp. Hoạt động ở mỗi ngành có mỗi đặc thù riêng do đặc điểm, tính chất của
từng ngành, lĩnh vực quy định. Vì thế, việc thanh tra, kiểm tra các đơn vị, cá nhân
trong việc chấp hành pháp luật về từng ngành, lĩnh vực phải được tiến hành chuyên
sâu, do các cơ quan quản lý hành chính nhà nước theo ngành, lĩnh vực thực hiện
dựa trên cơ sở các quy định phạm pháp luật do Nhà nước ban hành. Đây là những lý
do của việc xuất hiện hoạt động thanh tra chuyên ngành trong quản lý hành chính
nhà nước nói chung và thanh tra chuyên ngành đất đai nói riêng; càng nhiều ngành
thì tổ chức thanh tra càng rộng và dạng hoạt động càng chuyên sâu. Như vậy, thanh
tra chuyên ngành đất đai được hiểu như thế nào?
Hiện nay, khi nghiên cứu khái niệm về thanh tra nói chung được tiếp cận dưới
nhiều góc độ khác nhau, nếu như theo tiếng La tinh (inspectorate) có nghĩa là "nhìn
vào bên trong", chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số
đối tượng nhất định [51, tr.9]. Theo từ điển tiếng Việt, "Thanh tra là kiểm soát, xem
xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp" [55]. Theo từ điển pháp
luật Anh - Việt, thanh tra "là sự kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra".
Theo Từ điển Luật học, thanh tra "là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và
đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định". Với
8


những nghĩa trên đây, thanh tra bao hàm trong đó nghĩa: Một là, kiểm soát nhằm xem
xét và phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định; Hai là, là sự xem xét, kiểm
soát, kiểm tra thường xuyên, định kỳ nhằm rút ra những nhận xét, kết luận cần kiến để
kiến nghị với các cơ quan nhà nước khắc phục những nhược điểm, phát huy ưu điểm,
góp phần nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước. Hoạt động thanh tra do cơ quan nhà
nước thực hiện [17, tr.11].
Dưới góc độ luật thực định, các từ ngữ trên đây được hiểu như sau: Một là,
Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do
pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện
chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra
nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành; Hai là, Thanh
tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với
cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật,
nhiệm vụ, quyền hạn được giao; Ba là, Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh
tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ
chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên
môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó. Bên cạnh đó, luật hiện
hành còn đưu ta khái niệm cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra
chuyên ngành là cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh
vực, bao gồm tổng cục, cục thuộc bộ, chi cục thuộc sở được giao thực hiện chức
năng thanh tra chuyên ngành (Điều 3 Luật Thanh tra 2010). Như vậy, hai loại hình
thanh tra này khác nhau cả về tổ chức và hoạt động. Nếu như thanh tra hành chính chỉ
là loại thanh tra nội bộ, thanh tra trách nhiệm (trách nhiệm kỷ luật) của cán bộ, công
chức trong bộ máy quản lí nhà nước của Bộ, để thấy hoạt động thanh tra chuyên ngành
mới là chủ yếu có đối tượng thanh tra rất rộng. Do vậy, việc quan niệm như luật thanh
tra hiện nay là phù hợp với điều kiện thực tiễn nên thanh tra chuyên ngành đất đai là
một loại thanh tra nhà nước được thành lập theo ngành, lĩnh vực.
Đồng thời với vị trí là luật chuyên ngành, Luật Đất đai năm 2013 cũng đã quy
định khái niệm này, tại Điều 201 của luật quy định về thanh tra chuyên ngành đất
đai, trong đó: "Thanh tra chuyên ngành đất đai là hoạt động thanh tra của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành
9


pháp luật về đất đai, quy định về chuyên môn, kỹ thuật, quản lý thuộc lĩnh vực đất
đai". Như vậy, khái niệm này được xây dựng hoàn toàn phù hợp với khái niệm
thanh tra chuyên ngành được quy định tại Luật Thanh tra năm 2010.
Bên cạnh đó khi nói về thuật ngữ thanh tra quản lý và sử dụng đất đai cũng
được một số tài liệu đề cập, điển hình như Quyển IV tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ
thanh tra viên của Trường Cán bộ Thanh tra, Thanh tra Chính phủ, đã nêu cụ thể là:
có thể hiểu Thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật trong quản lý và sử
dụng đất đai (sau đây gọi tắt là thanh tra quản lý và sử dụng đất đai) là đánh giá
việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai của các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền và việc sử dụng đất của tổ chức, cá nhân [50, tr.139].
Từ những phân tích trên có thể hiểu: Thanh tra chuyên ngành đất đai là việc
xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự thủ tục được pháp luật quy định của cơ quan
quản lý nhà nước đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật
về đất đai, quy định về chuyên môn, kỹ thuật, quản lý thuộc lĩnh vực đất đai.
Hoạt động thanh tra quản lý và sử dụng đất đai nói chung và thanh tra chuyên
ngành đất đai nói riêng là một trong những biện pháp cơ bản để thực hiện chế độ sở
hữu toàn dân về đất đai và quyền quản lý thống nhất của Nhà nước đối với đất đai.
Hoạt động thanh tra sẽ góp phần tìm ra nguyên nhân, giải pháp giải quyết các khiếu
nại, tố cáo, tranh chấp đất đai. Về thực chất, thanh tra quản lý và sử dụng đất đai nói
chung và thanh tra chuyên ngành đất đai nói riêng là xem xét một cách khách quan
việc chấp hành các quy định của pháp luật đất đai, đảm bảo cho các quy định đó
được thực hiện và thực hiện đúng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công
tác thanh tra quản lý nhà nước về đất đai.
1.1.2. Đặc điểm thanh tra chuyên ngành đất đai
Thanh tra chuyên ngành cũng mang đầy đủ đặc điểm của hoạt động thanh tra
quản lý nhà nước về đất đai. Bên cạnh đó hoạt động thanh tra chuyên ngành còn
mang những đặc điểm thể hiện tính chất đặc trưng của nó như sau:
1.1.2.1. Về chủ thể tiến hành thanh tra
Hoạt động thanh tra nói chung phải do cơ quan chuyên trách đảm nhận đó
chính là cơ quan thanh tra nhà nước. Tuy nhiên, thanh tra là một chu trình trong
10


quản lí nhà nước chính vì vậy trong trường hợp cần thiết người đứng đầu các cơ
quan quản lý nhà nước có quyền ban hành quyết định thành lập Đoàn thanh tra để
tiến hành thanh tra.
Hệ thống thanh tra hành chính từ trung ương đến địa phương chịu trách nhiệm chỉ
đạo, tổ chức thực hiện thanh tra đất đai theo thẩm quyền: ở trung ương, Thanh tra
Chính phủ là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về
công tác thanh tra; chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện thanh tra đất đai thuộc
thẩm quyền của Chính phủ. UBND cấp tỉnh, cấp huyện chịu trách nhiệm tổ chức thực
hiện thanh tra đất đai tại địa phương. Thanh tra quản lý và sử dụng đất đai có chức
năng chính là xem xét sự vận hành của bộ máy quản lý nhà nước về đất đai, đồng thời
đảm bảo sự tuân thủ triệt để của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc quản lý, sử dụng
đất đai đối với các quy định pháp luật đất đai. Thanh tra quản lý và sử dụng đất đai là
thanh tra chuyên ngành về đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm chỉ
đạo, tổ chức thực hiện thanh tra trong cả nước. Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương
chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện thanh tra đất đai tại địa phương. Các cơ quan này có
nhiệm vụ chủ yếu là thanh tra việc chấp hành pháp luật của các cơ quan nhà nước và
người sử dụng đất đồng thời có các biện pháp nhằm ngăn chặn, xử lý theo thẩm quyền
hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý đối với những hành vi vi
phạm pháp Luật Đất đai. Tuy nhiên, việc thanh tra quản lý sử dụng đất đai không chỉ
duy nhất do Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện mà
theo quy định của Luật Thanh tra thì cơ quan Thanh tra Chính phủ, thanh tra cấp tỉnh,
thanh tra cấp huyện cũng có quyền thanh tra về quản lý và sử dụng đất đai theo thẩm
quyền của Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp tuy nhiên các cơ quan này chỉ thực
hiện hoạt động thanh tra hành chính đối với các dối tượng trực thuộc cơ quan quản lí
hành chính nhà nước mà thôi. Vì vậy, chủ thể tiến hành thanh tra chuyên ngành phải do
cơ quan nhà nước quản lí về ngành, lĩnh vực thực hiện. Luật Đất đai 2013 cũng quy
định rõ trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện thanh tra đất đai trong cả nước thuộc Bộ
Tài nguyên và Môi trường; trách nhiệm tổ chức, thực hiện thanh tra đất đai ở địa
phương là cơ quan quản lý đất đai.
Như vậy, ngoài hệ thống thanh tra nhà nước theo cấp hành chính từ Chính
phủ đến cấp tỉnh, cấp huyện để thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của
11


pháp luật nói chung và pháp luật về đất đai nói riêng còn có hệ thống thanh tra
chuyên ngành về đất đai là Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi
trường làm nhiệm vụ thanh tra về lĩnh vực tài nguyên môi trường, trong đó có thanh
tra về đất đai. Do đó, chủ thể có thẩm quyền tiến hành thanh tra chuyên ngành về
đất đai là những chủ thể có thẩm quyền ra quyết định thanh tra và trực tiếp thực
hiện thanh tra, bao gồm:
- Bộ Trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; Chánh Thanh tra Bộ Tài nguyên
và Môi trường;
- Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường; Chánh Thanh tra Sở Tài nguyên và
Môi trường;
- Đoàn thanh tra do những người có chức danh nêu trên thành lập để thực hiện
nhiệm vụ thanh tra trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai.
1.1.2.2. Về đối tượng thanh tra
Đối tượng của thanh tra chuyên ngành là bất kỳ cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá
nhân nào thực hiện các công việc liên quan và trong phạm vi của cơ quan quản lý
ngành, lĩnh vực đó. Vì vậy, những đối tượng của thanh tra chuyên ngành thông
thường không phụ thuộc về mặt tổ chức đối với chủ thể thực hiện thanh tra chuyên
ngành tuy nhiên vì họ thực hiện những hoạt động liên quan đến ngành, lĩnh vực mà
các cơ quan này quản lý nên theo quy định của pháp luật họ vẫn là đối tượng thanh
tra của các cơ quan thanh tra chuyên ngành. Bởi hoạt động thanh tra chuyên ngành
được thực hiện không dựa trên cơ sở của mối liên hệ phụ thuộc về tổ chức mà xuất
phát từ thẩm quyền quản lý theo ngành, lĩnh vực theo quy định của pháp luật. Vì
vậy, đối tượng của thanh tra chuyên ngành chủ yếu là các đơn vị kinh tế, tổ chức và
cá nhân trong xã hội. Ví dụ: Khi thực hiện hoạt động thanh tra chuyên ngành đất
đai, Bộ Tài nguyên và môi trường sẽ được thực hiện đối với tất cả các đơn vị, tổ
chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực này mà không kể những đối tượng này có
phụ thuộc về mặt tổ chức với Bộ hay không.
Vì vậy, đối tượng của thanh tra hành chính phải là những cơ quan, tổ chức,
cá nhân có mối liên hệ phụ thuộc về mặt tổ chức với cơ quan thực hiện hoạt động
thanh tra. Sự khác biệt này suy cho cùng xuất phát từ tính chất của hai hoạt động
12


thanh tra này. Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý
hành chính nhà nước theo cấp hành chính đối với việc thực hiện chính sách, pháp
luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp.
Trong khi thanh tra chuyên ngành lại là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý
hành chính nhà nước theo ngành, lĩnh vực đối với các cơ quan, tố chức, cá nhân
trong việc chấp hành pháp luật, những quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy
tắc quản lý của ngành, lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý. Như vậy, có thể thấy
phạm vi đối tượng của thanh tra chuyên ngành là rộng hơn so với đối tượng của
thanh tra hành chính.
Tóm lại, đối tượng thanh tra chuyên ngành nói chung là cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan đến quản lý nhà nước trong ngành, lĩnh vực. Đối tượng thanh tra
chuyên ngành về đất đai chính là: Người quản lý về đất đai; Người sử dụng đất.
- Người quản lý về đất đai:
Người quản lý về đất đai bao gồm: Các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện
quyền đại diện chủ sử hữu nhà nước về đất đai (ở Trung ương là Chính phủ; ở địa
phương là UBND các cấp). Các cơ quan quản lý đất đai được tổ chức để giúp cơ
quan hành chính cùng cấp quản lý nhà nước về đất đai.
Cơ quan quản lý nhà nước về đất đai ở Trung ương là Bộ Tài nguyên và Môi
trường; Cơ quan quản lý đất đai ở cấp tỉnh là Sở Tài nguyên và Môi trường; Cơ
quan quản lý đất đai ở cấp huyện là Phòng Tài nguyên và Môi trường; ở cấp xã có
Cán bộ Địa chính xã.
- Người sử dụng đất:
Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử
dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất, bao gồm:
+ Tổ chức trong nước gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội - nghề
nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công lập và tổ
chức khác theo quy định của pháp luật về dân sự (sau đây gọi chung là tổ chức);
+ Hộ gia đình, cá nhân trong nước (sau đây gọi chung là hộ gia đình, cá nhân);
13


+ Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa
bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự có
cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ;
+ Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường,
niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn
giáo và cơ sở khác của tôn giáo;
+ Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại
giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại
giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên
hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên
chính phủ;
+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về quốc tịch;
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp 100% vốn đầu
tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư
nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp luật về đầu tư.
1.1.2.3. Về nội dung
Nội dung thanh tra nói chung là việc xem xét, đánh giá, xử lý việc thực hiện
chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan đến quản lý nhà nước. Để đảm bảo đất đai được sử dụng một cách hợp pháp,
hợp lí, tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích
chính đáng của người sử dụng đất xung quanh, nội dung thanh tra thanh tra chuyên
ngành về đất đai phải thể hiện cụ thể được nội dung của việc thanh tra, nghĩa là phải
phù hợp với đối tượng và phạm vi thanh tra. Cụ thể như sau:
Một là, đối với các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai trong việc chấp hành
pháp luật về đất đai.
Đất đai là tài nguyên quý giá của đất đai, nhưng nếu không quản lí hiệu quả thì
tài nguyên này sẽ bị lãng phí và không mang lại giá trị sử dụng tốt nhất. Đất đai
thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thóng nhất quản lí, nên cơ quan quản lí thực
hiện chức năng quản lí nhà nước đối với đất đai. Chức năng đó được thực hiện bằng
những nhiệm vụ quản lí đất đai trong từng giai đoạn cụ thể. Công tác thanh tra đất
14


đai giúp cho việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ đó thuận lợi và đúng đắn
hơn. Nếu như thanh tra hành chính, cơ quan thanh tra được tiến hành thanh tra đối
với tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của thủ trưởng cơ quan quản lý
nhà nước cùng cấp trong việc chấp hành chính sách, pháp luật, nhiệm vụ được giao.
Thanh tra đối với người quản lý nhà nước về đất đai là việc thanh tra việc
chấp hành pháp luật của người quản lý thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của người quản lý theo quy định của pháp luật. Vì vậy, đối với nội dung thanh
tra chuyên ngành chấp hành pháp luật về đất đai rất phong phú và quản lí nhà nước
về đất đai đến đâu thì thanh tra sẽ có thẩm quyền tiến hành đến đó (từ ban hành
chính sách, pháp luật đến việc tổ chức thực hiện).
Hai là, đối với người sử dụng đất và tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến
việc quản lý và sử dụng đất trong việc chấp hành quy định về chuyên môn, kỹ thuật,
quản lý thuộc lĩnh vực đất đai.
Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra nhà nước mang tính chuyên sâu
về nghiệp vụ của ngành, lĩnh vực chuyên môn. Do đó, thanh tra đối với người sử
dụng đất là việc thanh tra việc chấp hành pháp luật của người sử dụng đất thông qua
việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp
luật. Vì vậy, nội dung thanh tra chuyên ngành đất đai đối với người sử dụng đất
thường tập trung vào các nội dung sau:
- Thanh tra chấp hành quy định về sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới
thửa đất, đúng quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không,
bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất và tuân theo các quy định khác của
pháp luật có liên quan.
- Thanh tra chấp hành quy định về thực hiện kê khai đăng ký đất đai; làm đầy
đủ thủ tục khi chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho
quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của
pháp luật.
- Thanh tra chấp hành quy định về thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai.
- Thanh tra chấp hành quy định về thực hiện các biện pháp bảo vệ đất.
- Thanh tra chấp hành quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến
lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất có liên quan…
15


1.1.2.3. Hình thức thanh tra chuyên ngành đất đai
Thanh tra là một chu trình quản lí nhà nước, là một phương thức đánh giá hiệu
quản lí nhà nước nên nó có vai trò hoàn thiện cơ chế quản lí nhà nước. Thanh tra
chuyên ngành về đất đai cùng được thực hiện thường xuyên hoạc định kỳ để tác
động đến đối tượng quản lí qua đó đạt được mục tiêu và hiêu quả quản lí nhà nước.
Vì vậy, hình thức để tiến hành thanh tra chuyên ngành về đất đai nhìn chung được
thực hiện dưới hai hình thức cơ bản sau đây:
Thứ nhất, thanh tra theo kế hoạch là hoạt động thanh tra diễn ra theo kế
hoạch đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trước khi tiến hành thanh tra trên
thực tế. Kế hoạch thanh tra là văn bản xác định nhiệm vụ chủ yếu về thanh tra của
cơ quan thực hiện chức năng thanh tra trong 01 năm do Thủ trưởng cơ quan thực
hiện chức năng thanh tra xây dựng để thực hiện Định hướng chương trình thanh tra
và yêu cầu quản lý của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp. Vì vậy, kế
hoạch thanh tra phải được thông báo công khai theo quy định pháp luật. Đồng thời
kế hoạch nêu rõ nội dung thanh tra, chủ thể thanh tra, thời gian thanh tra. Ý nghĩa
của kế hoạch thanh tra, tạo quyền chủ động của các cơ quan thanh tra nhà nước
trong việc xây dựng kế hoạch và tổ chức tiến hành thanh tra. Các cơ quan thanh tra
phải căn cứ vào Định hướng chương trình thanh tra của Thanh tra Chính phủ, nhiệm
vụ chính trị, yêu cầu công tác quản lý của địa phương, bộ ngành trong từng thời kỳ,
từ đó xây dựng kế hoạch thanh tra của cấp mình, trình Thủ trưởng cơ quan quản lý
nhà nước cùng cấp phê duyệt làm căn cứ cho việc tiến hành. Vì vậy, thanh tra
chuyên ngành về đất đai được thực hiện theo kế hoạch chính là hoạt động thanh tra
có trọng tâm, trọng điểm nhằm tránh trong 1 năm có nhiều đối tượng thực hiện hoạt
động thanh tra đối với 1 đối tượng thanh tra. Vì vậy, căn cứ ra quyết định thanh tra
chuyên ngành về đất đai chính là kế hoạch thanh tra được phê duyệt hàng năm.
Thứ hai, thanh tra chuyên ngành về đất đai được thực hiện dưới hình thức
thanh tra đột xuất.
Bên cạnh đó, thanh tra chuyên ngành về đất đai cũng được thực hiện dưới hình
thức thanh tra đột xuất. Thanh tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ
chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng hoặc do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà
16


nước có thẩm quyền giao. Việc thực hiện thanh tra chuyên ngành về đất đai loại
hình này nhằm bổ khuyết cho hình thức thanh tra theo kế hoạch. Vì vậy, ý nghĩa của
nó là đòi hỏi tất yếu của thực tiễn, vì vậy các cơ quan thanh tra nhà nước không chỉ
chủ động tổ chức tốt các cuộc thanh tra chuyên ngành về đất đai theo kế hoạch mà
còn kịp thời triển khai nhanh các cuộc thanh tra chuyên ngành về đất đai theo yêu
cầu đột xuất. Có như vậy thì mới nhanh chóng phát hiện để ngăn chặn và xử lý kịp
thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật. Do vậy, căn cứ ra quyết định
thanh tra chính là: Theo yêu cầu của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước; Khi
phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật; Yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố
cáo, phòng, chống tham nhũng.
1.1.3. Ý nghĩa, vai trò thanh tra chuyên ngành đất đai
Ý nghĩa, vai trò thanh tra chuyên ngành đất đai trong quản lí hành chính nhà
nước được đề cập trong mối quan hệ thanh tra, thanh tra chuyên ngành đối với hoạt
động quản lí nhà nước về đất đai. Mục tiêu của nền hành chính nhà nước ta trong
giai đoạn hiện nay, trước hết là điều hành vĩ mô nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa. Cùng với yêu cầu đặt ra, vai trò thanh tra nhằm xem xét hoạt động
của cơ chế mới, chính sách mới và quá trình vận động của nó vào thực tiễn. Trên cơ
sở đó xem xét trách nhiệm điều hành nhằm xác định rõ yêu cầu của các bộ phận khi
thực hiện nhiệm vụ được giao. Đây cũng chính là yêu cầu cũng như là ý nghĩa, vai
trò của thanh tra chuyên ngành đất đai trong giai đoạn hiện nay. Thanh tra chuyên
ngành nói chung và thanh tra chuyên ngành đất đai nói riêng là công cụ không thể
thiếu phục vụ yêu cầu quản lí nhà nước trong lĩnh vực đất đai làm nhiệm vụ thanh
tra, kiểm tra chuyên sâu theo từng lĩnh vực đất đai. Vì vậy, thanh tra chuyên ngành
đất đai là một công cụ không thể thiếu trong quản lí nhà nước về đất đai. Vì vậy,
thanh tra chuyên ngành đất đai có ý nghĩa, vai trò quan trọng sau đây:
Thứ nhất, góp phần đảm bảo thi hành nghiêm chỉnh các quy định pháp luật và
chính sách của nhà nước trong hoạt động quản lí và sử dụng đất đai góp phần giữ
phòng, chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai, gìn trật tự, kỷ cương, đẩy lùi
tham nhũng, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền.
Thứ hai, thanh tra chuyên ngành về đất đai giúp nâng cao ý thức pháp luật của
cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lí và sử dụng đất đai.
17


Thứ ba, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực
đất đai.
1.2. Lí luận về pháp luật thanh tra chuyên ngành đất đai
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm pháp luật về thanh tra chuyên ngành đất đai
Khái niệm pháp luật về thanh tra chuyên ngành đất đai: Quy phạm pháp luật
về thanh tra chuyên ngành đất đai cũng như các quy phạm pháp luật khác đều có
tính bắt buộc chung, là khuôn mẫu để mọi chủ thể tuân thủ và là tiêu chí để đánh giá
hành vi của con người, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và được áp
dụng nhiều lần trong cuộc sống đến khi bị thay đổi hoặc huỷ bỏ. Điểm khác là quy
phạm pháp luật về thanh tra chuyên ngành về đất đai chỉ điều chỉnh các quan hệ xã
hội phát sinh trong quá trình tổ chức và hoạt động thanh tra chuyên ngành về đất
đai. Quy phạm pháp luật về thanh tra chuyên ngành về đất đai hiện nay được thể
hiện ở các văn bản luật (Luật Đất đai, Luật Thanh tra, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh
bất động sản, Luật Quy hoạch đô thị...), văn bản dưới luật (nghị định, thông tư,
quyết định.
Từ đó có thể hiểu: Pháp luật về thanh tra chuyên ngành đất đai là tổng thể
các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực
thanh tra chuyên ngành đất đai quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền trong quản lý, tổ chức thanh tra chuyên ngành đất
đai; nhiệm vụ, quyền hạn của công chức Thanh tra, trình tự, thủ tục trong quá trình
thanh tra chuyên ngành đất đai nhằm bảo đảm cho đất đai được sử dụng một cách
hợp lý, đúng qui hoạch, kế hoạch nâng cao hiệu quả về sử dung đất; Xem xét việc
chấp hành pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất đai của UBND các cấp và của
người sử dụng đất; phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời những hành vi vi phạm
pháp luật về đất đai; phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để
kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục cho phù hợp và
tình hình phát triển kinh tế xã hội.
Đặc trưng của pháp luật thanh tra chuyên ngành về đất đai
Một là, pháp luật về thanh tra chuyên ngành đất đai là tổng thể các quy phạm
pháp luật phản ánh đặc thù của thanh tra chuyên ngành đất đai, vừa có những quy
phạm mang tính hành chính, vừa có những quy phạm mang tính thủ tục.
18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×