Tải bản đầy đủ

Thi hành các bản án, quyết định kinh doanh, thương mại từ thực tiễn tại cơ quan thi hành án dân sự huyện tân yên, tỉnh bắc giang

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGUYỄN MINH HOÀNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

LUẬT KINH TẾ

THI HÀNH CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH KINH DOANH,
THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN TẠI CƠ QUAN
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HUYỆN TÂN YÊN,
TỈNH BẮC GIANG

NGUYỄN MINH HOÀNG

2016 - 2018

HÀ NỘI - 2018



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
THI HÀNH CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH KINH DOANH,
THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN TẠI CƠ QUAN
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HUYỆN TÂN YÊN,
TỈNH BẮC GIANG
NGUYỄN MINH HOÀNG

CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS BÙI THỊ HUYỀN

HÀ NỘI – 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn “Thi hành các bản án, quyết định kinh doanh,
thương mại từ thực tiễn tại cơ quan Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh
Bắc Giang” là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện dưới
sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Bùi Thị Huyền.
Các số liệu trích dẫn trong luận văn dựa trên số liệu bảo đảm độ tin cậy,
chính xác và trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được
công bố dưới bất kỳ hình thức nào.
Hà Nội, ngày ....... tháng ....... năm 2018
Học viên

Nguyễn Minh Hoàng


LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật kinh tế với đề tài “Thi hành các bản án,
quyết định kinh doanh, thương mại từ thực tiễn tại cơ quan Thi hành án dân sự
huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang” là kết quả quá trình cố gắng của bản thân và được
sự giúp đỡ truyền đạt kiến thức, hướng dẫn khoa học của các thầy, cô giáo, sự động


viên khích lệ của bạn bè, đồng nghiệp và người thân. Qua trang viết này tác giả xin
gửi lời cảm ơn tới những người đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu
khoa học vừa qua.
Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với PGS.TS Bùi Thị Huyền,
người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn cũng như cung cấp tài liệu thông tin khoa học
để tôi hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Trường Đại học Mở Hà Nội đã tạo
điều kiện cho tôi hoàn thành tốt quá trình học tập, hỗ trợ và tạo điều kiện để tôi
hoàn thành công việc nghiên cứu khoa học của mình.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, cơ quan công tác
đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn.
Hà Hội, tháng 10 năm 2018
Học viên thực hiện

Nguyễn Minh Hoàng


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU .................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH CÁC BẢN ÁN,
QUYẾT ĐỊNH KINH DOANH, THƯƠNG MẠI .................................................7
1.1.Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thi hành án dân sự các bản án, quyết
định kinh doanh, thương mại. ...............................................................................7
1.1.1. Khái niệm thi hành án dân sự. ....................................................................... 7
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của thi hành án kinh doanh, thương mại .................. 9
1.1.3. Ý nghĩa của thi hành án kinh doanh thương mại ....................................... 15
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thi hành án kinh doanh thương mại ... 16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ..................................................................................... 20
CHƯƠNG 2: THI HÀNH ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI THEO QUY
ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH............................................................. 21
2.1. Yêu cầu thi hành án và ra quyết định thi hành án các bản án, quyết định
kinh doanh, thương mại. ...................................................................................... 21
2.1.1. Thủ tục yêu cầu thi hành án......................................................................... 21
2.1.2. Thủ tục ra quyết định thi hành án kinh doanh, thương mại ...................... 22
2.2. Các quyết định khác phát sinh trong quá trình thi hành án kinh doanh,
thương mại............................................................................................................ 23
2.2.1. Thủ tục xác minh điều kiện thi hành án và xác định việc chưa có điều
kiện thi hành án dân sự........................................................................................... 23
2.2.2. Thủ tục ra quyết định hoãn thi hành án dân sự ......................................... 25
2.2.3. Thủ tục ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án dân sự.............................. 26
2.2.4. Thủ tục ra quyết định đình chỉ thi hành án dân sự .................................... 27
2.2.5. Thủ tục ra quyết định chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án dân sự .... 27


2.2.6. Thủ tục ủy thác thi hành án dân sự ............................................................. 28
2.3. Các biện pháp bảo đảm thi hành án và cưỡng chế trong quá trình thi hành
các bản án, quyết định kinh doanh, thương mại. ............................................... 29
2.3.1. Xác minh tài sản, điều kiện thi hành án vụ việc kinh doanh, thương mại
làm căn cứ áp dụng các biện pháp bảo đảm và cưỡng chế. ................................. 29
2.3.2. Thực trạng áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án và cưỡng chế thi
hành các bản án, quyết định kinh doanh, thương mại. ......................................... 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ..................................................................................... 40
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THI HÀNH CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH KINH
DOANH, THƯƠNG MẠI CỦA HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG VÀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ ................................................................... 41
3.1. Thực tiễn thi hành các bản án, quyết định kinh doanh, thương mại ở
huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang .......................................................................... 41
3.1.1. Kết quả thi hành án dân sự của huyện Tân Yên từ năm 2014 đến 2018 .. 54
3.1.2. Những khó khăn vướng mắc trong thực tiễn thi hành các bản án, quyết định
kinh doanh, thương mại ở huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang và nguyên nhân............. 57
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp
luật về thi hành các bản án, quyết định kinh doanh, thương mại...................... 65
3.2.1. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thi hành các bản án, quyết
định kinh doanh, thương mại. .......................................................................... 65
3.2.1. Một số kiến nghị nhằm bảo đảm pháp luật về thi hành các bản án, quyết
định kinh doanh, thương mại ở huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. ..................... 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ..................................................................................... 74
KẾT LUẬN........................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
THADS

Thi hành án dân sự

KDTM

Kinh doanh, thương mại

THAKDTM

Thi hành án kinh doanh, thương mại

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

UBND

Ủy ban nhân dân

PBGDPL

Phổ biến giáo dục pháp luật

CQTHADS

Cơ quan Thi hành án dân sự

BA,QĐ

Bản án, quyết định

BLTTDS

Bộ luật tố tụng dân sự

TAND

Tòa án nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Công tác thi hành án dân sự được Đảng, Nhà nước và nhân dân quan tâm sâu
sắc vì Bản án, quyết định của Tòa án nhân danh Nhà nước khi được chấp hành
nghiêm chỉnh có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật,
trong đó công tác thi hành án có một ý nghĩa và vai trò quan trọng trong hoạt động
tư pháp nói chung và quá trình giải quyết vụ án nói riêng, góp phần trong việc giữ
vững kỷ cương phép nước, củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa,
đảm bảo cho quyền lực tư pháp thực sự có giá trị khi được thực thi trên thực tế, bảo
đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, góp phần giữ vững
ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước.
Chính vì vậy, Điều 106 Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ: " Bản án, quyết
định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân
tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.".
Hoạt động thi hành án dân sự ban đầu từ chỗ chỉ có nhân viên thi hành, sau đó
hình thành chức danh Chấp hành viên trong Tòa án. Cho đến tháng 6/1993 được
tách ra từ Tòa án thành hệ thống cơ quan thi hành án độc lập. Hệ thống cơ quan thi
hành án dân sự được hình thành trong cả nước, công tác thi hành án dân sự đã được
triển khai và hoạt động ngày càng hiệu quả.
Tuy nhiên, hiện nay công tác thi hành án dân sự vẫn đang đứng trước những
khó khăn, thử thách to lớn với nhiều vấn đề tồn tại, bất cập đang đặt ra cần được
giải quyết. Tồn tại lớn nhất trong công tác thi hành án dân sự những năm qua là tình
trạng án "tồn đọng" kéo dài, với số lượng lớn đặc biệt là các vụ án liên quan đến
kinh doanh, thương mại, tín dụng ngân hàng ngày càng tăng. Tình trạng khiếu nại,
tố cáo về thi hành án dân sự còn nhiều, nhiều vụ việc khó khăn, phức tạp, kéo dài,
song chưa có biện pháp hữu hiệu để giải quyết.
Cùng với những thành quả trong công tác thi hành án dân sự của cả
nước, công tác thi hành án dân sự ở huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang trong những
năm gần đây đã chuyển biến tích cực. Trong tổng số vụ việc phải thi hành án của

1


đơn vị thì các vụ việc về kinh doanh, thương mại chiếm tỷ lệ khoảng 0,2% về việc
nhưng lại chiếm số lượng tiền phải thi hành cao khoảng 40%. Đây là vấn đề khó
khăn phức tạp đặt ra trong công tác thi hành án dân sự ở huyện Tân Yên, tỉnh Bắc
Giang hiện nay. Thực trạng này, một phần xuất phát từ nguyên nhân: ý thức tuân
thủ pháp luật của một số bộ phận người dân nói chung và một số doanh nghiệp còn
hạn chế. Mặt khác, do chưa có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các cơ quan bảo
vệ pháp luật, cũng như cơ quan hữu quan trong quá trình thi hành án; cơ sở pháp lý
về tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự chưa được hoàn thiện, hệ thống các văn
bản pháp lý về thi hành án dân sự còn chưa phù hợp với thực tiễn, làm giảm hiệu
quả công tác thi hành án nói chung và thi hành án dân sự về kinh doanh, thương mại
nói riêng.
Thời gian qua, hoạt động thi hành án dân sự tại cơ quan thi hành án dân sự
huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang liên quan đến kinh doanh, thương mại có tác động
trực tiếp đến việc thu hồi nợ xấu, giảm nợ xấu, đảm bảo cho hoạt động của hệ thống
tổ chức tín dụng, ngân hàng đã được các cấp các ngành quan tâm. Tuy nhiên, kết
quả thi hành án đạt được còn thấp, số việc, số tiền phải thi hành án còn lớn, tiến độ
thi hành án kéo dài, ảnh hưởng đến chỉ tiêu nhiệm vụ được giao, do nhiều nguyên
nhân cần phải có giải pháp thiết thực, hiệu quả.
Chính vì vậy, việc chọn đề tài nghiên cứu của luận văn về “Thi hành các bản
án, quyết định kinh doanh, thương mại từ thực tiễn tại cơ quan Thi hành án dân
sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang” làm luận văn thạc sĩ luật kinh tế là cấp thiết
và có ý nghĩa thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trong lĩnh vực pháp luật hiện đã và đang có những công trình nghiên cứu về
đề tài về thi hành án dân sự để làm rõ cơ sở pháp lý trong thực tiễn áp dụng. Trước
những đòi hỏi thực tiễn của công tác thi hành án dân sự trong từng giai đoạn phát
triển, nhiều tác giả đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề thi hành
án dân sự, cụ thể là:
- Đề tài cấp Nhà nước “Luận cứ khoa học của việc đổi mới tổ chức và hoạt
động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới” mã số đề tài: 2000-58-198 do

2


TS. Nguyễn Đình Lộc - Bộ trưởng Bộ Tư pháp làm Chủ nhiệm;
- Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: "Mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành
án", mã số 96-98- 027/ĐT do Cục Thi hành án dân sự (nay là Tổng Cục Thi hành án
dân sự) - Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện; Đề tài: "Thi hành án dân sự, thực trạng và
hướng hoàn thiện của Dự án VIE/98/001" do Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện dự án.
- Luận án tiến sỹ Luật học “ Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt
Nam hiện nay” năm 2008 của ông Nguyễn Thanh Thủy - Phó tổng cục trưởng Tổng
cục THADS.
- Luận án tiến sĩ Luật học "Hiệu quả áp dụng pháp luật trong thi hành án dân
sự Việt Nam" của tác giả Đặng Đình Quyền - Vụ nghiệp vụ - Tổng Cục THADS
(năm 2012);
- Luận án Tiến sỹ luật học "Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thi
hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay"(năm 2008) của TS. Nguyễn Quang Thái -Vụ
nghiệp vụ - Tổng Cục THADS ;
- Luận văn thạc sỹ năm 2005 của tác giả Nguyễn Đức Nghĩa, với đề tài “Cơ sở lý
luận và thực tiễn khắc phục án tồn đọng trong thi hành án dân sự ở Việt nam hiện nay”;
- Luận văn thạc sĩ luật học "Đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở
Việt Nam" của tác giả Nguyễn Quang Thái năm 2003;
- Luận văn thạc sĩ luật học "Đổi mới thủ tục thi hành án dân sự ở Việt Nam"
của tác giả Lê Anh Tuấn - Vụ nghiệp vụ - Tổng Cục THADS năm 2004;
- Luận văn thạc sỹ luật học “ Áp dụng pháp luật trong thi hành án ở tỉnh Nam
Định” của tác giả Bùi Văn Sứng năm 2015; Tài liệu tập huấn nghiệp vụ thi hành án
dân sự năm 2016 của Tổng cục Thi hành án dân sự.
Bên cạnh đó, còn có Sổ tay Chấp hành viên của Nhà xuất bản tư pháp năm
2012; các tài liệu tập huấn nghiệp vụ thi hành án, một số bài viết đăng trên các tạp
chí chuyên ngành như: "Mục tiêu sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm
2008" của tác giả Vương Minh, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số chuyên đề về thi
hành án dân sự năm 2014; “Tài liệu kèm theo yêu cầu thi hành án dân sự theo quy
định của pháp luật và thực tiễn áp dụng” của tác giả Mai Thị Thùy Dung , Tạp chí
Dân chủ và pháp luật số định kỳ tháng 9 năm 2016; Tạp chí Dân chủ và pháp luật

3


năm 2015, “Hoàn thiện quy định pháp luật về xác minh điều kiện thi hành án dân
sự”, Hoàng Thị Thu Trang - Cục trưởng Cục THADS tỉnh Nghệ An, tham luận Hội
thảo tiếp tục hoàn thiện pháp luật về THADS của Ủy ban Tư pháp Quốc Hội tháng
3/2016, tại thành phố Vinh, Nghệ An; “Thực tiễn áp dụng quy phạm pháp luật thi
hành án dân sự” của tác giả Đinh Duy Bằng, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số định
kỳ tháng 11 năm 2016; "Quy định về kê biên tài sản để đảm bảo thi hành án dân sự
trong trường hợp tài sản đã chuyển nhượng sau khi có bản án, quyết định của Tòa
án” của tác giả Mai Thị Thùy Dung , Tạp chí Dân chủ và pháp luật số định kỳ tháng
thứ 3 năm 2017.
Các công trình nêu trên đã có nội dung nghiên cứu về thi hành án dân sự ở
những góc độ, khía cạnh và mức độ phạm vi rộng và chuyên đề cụ thể khác nhau.
Một số công trình cũng đã đề cập đến vấn đề thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả thi hành án dân sự của toàn ngành hoặc ở từng địa phương, nhưng chưa có
công trình nào nghiên cứu cụ thể về đề tài: “Thi hành các bản án, quyết định kinh
doanh, thương mại từ thực tiễn tại cơ quan Thi hành án dân sự dân sự huyện
Tân Yên, tỉnh Bắc Giang”. Để đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu
quả trong công tác thi hành án dân sự nói chung và ở tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc
Giang, nơi tôi đang trực tiếp công tác nói riêng.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Kết quả nghiên cứu của luận văn nhằm tìm ra các luận cứ khoa học để áp
dụng vào thực tiễn đạt hiệu quả trong công tác thi hành các bản án, quyết định kinh
doanh, thương mại tại cơ quan Thi hành án dân sự dựa trên điều kiện của địa
phương huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Làm rõ cơ sở lý luận của thi hành án dân sự các bản án, quyết định kinh
doanh, thương mại theo quy định pháp luật.
+ Đánh giá khách quan, toàn diện về thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng
tại cơ quan Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
+ Phân tích nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp
dụng tại cơ quan Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang

4


+ Đưa ra các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện
pháp luật về thi hành các bản án, quyết định kinh doanh, thương mại tại cơ quan Thi
hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: “Thi hành các bản án, quyết định kinh doanh,
thương mại từ thực tiễn tại cơ quan Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh
Bắc Giang” là một đề tài cụ thể về nội dung và hình thức, vì vậy đề tài tập trung
nghiên cứu pháp luật về thi hành án dân sự hiện hành về thi hành bản án, quyết định
về kinh doanh thương mại và thực tiễn áp dụng trong phạm vi của địa phương nơi
tôi đang công tác, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự của ngành
trong giai đoạn hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu pháp luật Việt Nam hiện hành về thi hành án
dân sự kinh doanh, thương mại và thực tiễn áp dụng tại Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Các vụ việc cụ thể sẽ được phân tích, bình luận
trong luận văn là những vụ việc được thụ lý giải quyết từ năm 2013 đến nay.
Luận văn không nghiên cứu tất cả các vấn đề về thi hành án dân sự kinh
doanh, thương mại mà chỉ nghiên cứu về thủ tục yêu cầu thi hành án và ra quyết
định thi hành án các bản án, quyết định kinh doanh, thương mại; thủ tục ra các
quyết định khác phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự các bản án, quyết định
kinh doanh, thương mại và thủ tục áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án và
cưỡng chế thi hành các bản án, quyết định kinh doanh, thương mại và thực tiễn áp
dụng các thủ tục này tại cơ quan thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
.5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu của đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử và phép biện chứng của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật, về
mối quan hệ giữa pháp luật và đời sống thực tiễn, giữa thực thi pháp luật và xây
dựng pháp luật.
- Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài cũng được thực hiện bằng các phương pháp

5


nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống như phương pháp phân tích, so sánh, tổng
hợp... Từ đó, rút ra những đánh giá, kết luận và đề xuất các giải pháp, kiến nghị.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu
- Luận văn làm rõ hơn những vấn đề lý luận về thi hành án dân sự các bản án,
quyết định kinh doanh, thương mại như: khái niệm, đặc điểm của thi hành án dân sự
nói chung và cụ thể việc thi hành các bản án, quyết định kinh doanh, thương mại,
góp phần bổ sung làm phong phú thêm cho hoạt động nghiên cứu pháp luật về thi
hành án dân sự.
- Đánh giá đúng thực trạng các quy định của pháp luật Thi hành án dân sự hiện
hành đối với việc thi hành án các bản án, quyết định kinh doanh, thương mại và
thực tiễn áp dụng giải quyết ở địa phương;
- Đề xuất đưa ra những giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật
và bảo đảm thực hiện pháp luật về thi hành án các bản án, quyết định kinh doanh,
thương mại tại cơ quan THADS huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
trình bày gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về thi hành án dân sự các bản án, quyết
định kinh doanh thương mại
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về thi hành án dân sự các bản án, quyết
định kinh doanh, thương mại
- Chương 3: Thực tiễn thi hành án dân sự các bản án, quyết định kinh doanh,
thương mại của huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang và một số kiến nghị.

6


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH CÁC BẢN
ÁN, QUYẾT ĐỊNH KINH DOANH, THƯƠNG MẠI
1.1.Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thi hành án dân sự các bản án,
quyết định kinh doanh, thương mại.
1.1.1. Khái niệm thi hành án dân sự.
Để làm rõ khái niệm thi hành án kinh doanh, thương mại, trước hết cần phải
tìm hiểu khái niệm về thi hành án dân sự.
Theo từ điển tiếng Việt, "thi hành" có nghĩa là làm cho thành hiện thực điều đã
được chính thức quyết định[1]. Như vậy, có thể định nghĩa thi hành án là việc đưa các
bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của
Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định của trọng tài thương mại ra thi hành.
Trong khoa học pháp lý, “thi hành án” được hiểu là việc đưa các bản án, quyết
định dân sự có hiệu lực thi hành ra thi hành trên thực tế. Bản án, quyết định của Tòa
án là văn bản pháp lý của Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên tại phiên tòa, giải
quyết về các vấn đề trong vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động,
kinh tế, hành chính... Có thể nói, thi hành án được coi là một trong những hoạt động
quan trọng của Nhà nước. Bởi lẽ, thi hành án một mặt bảo đảm việc thực hiện
quyền lực của Nhà nước, mặt khác lại là công cụ hữu hiệu để đảm bảo quyền và lợi
ích hợp pháp của tổ chức, công dân khi khi bị xâm hại. Hiện nay, có nhiều ý kiến về
thi hành án, có ý kiến cho rằng, thi hành án là một giai đoạn tố tụng, đây là giai
đoạn tiếp theo của quá trình xét xử không thể thiếu trong quá trình bảo vệ quyền lợi
của đương sự. Thi hành án là giai đoạn kết thúc của tố tụng mà trong đó cơ quan thi
hành án đưa các bản án, quyết định đã có hiệu lực thi hành ra thi hành nhằm bảo vệ
quyền lợi của cá nhân, cơ quan, tổ chức [13].
Có quan điểm lại cho rằng thi hành án không phải là một thủ tục tố tụng mà là
một hoạt động mang tính chấp hành và điều hành quyết định của tòa án – cơ quan tư
pháp – mang tính chất của hoạt động quản lý hành chính – tư pháp. Thi hành án

7


không mang tính tố tụng thuần túy mà có nhiều tính chất của giai đoạn mang tính
hành chính - tư pháp. Ở đây có nhiều điểm khác nhau giữa tố tụng và quá trình thực
hiện thi hành án. Hoạt động thi hành án là hoạt động đặc thù mà chủ thể thực thi
không phải là Tòa án. Các thủ tục trong quá trình thi hành án mang nặng tính hành
chính - tư pháp hơn (đặc biệt là trong thi hành án kinh tế, tuyên bố phá sản doanh
nghiệp, lao động và một phần của thi hành án hình sự đối với loại hình phạt không
phải là hình phạt tù...) [16].
Tác giả có quan điểm cho rằng thi hành án mang tính hành chính - tư pháp là
phù hợp hơn cả, bởi vì:
- Tính hành chính thể hiện ở chỗ: Thi hành án là dạng hoạt động chấp hành,
quản lý. Là dạng hoạt động chấp hành vì thi hành án chỉ được tiến hành trên cơ sở
các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và trong khuôn khổ luật định; toàn
bộ quá trình thi hành án với những hoạt động, biện pháp, cách thức khác nhau đều
nhằm thực hiện những nội dung đã được thể hiện trong các bản án, quyết định của
Tòa án và theo các quy định cụ thể của pháp luật. Là dạng hoạt động quản lý vì thi
hành án là sự tác động của pháp luật, của các cơ quan thi hành án tới đối tượng phải
thi hành án để họ tự giác thi hành hoặc áp dụng các biện pháp buộc họ phải thi hành
nghĩa vụ đã được xác định trong các bản án, quyết định của Tòa án; phải tuân theo
các quy định của pháp luật;
- Tính tư pháp thể hiện ở chỗ: Căn cứ để thi hành án là các bản án và quyết
định và có sự tham gia của các cơ quan tư pháp vào quá trình thi hành án theo pháp
luật.
Tính chất hành chính - tư pháp là một đặc điểm rất quan trọng cần lưu ý trong
khi quy định về tổ chức và hoạt động của thi hành án. Là hoạt động thuộc trách
nhiệm của hệ thống cơ quan hành pháp nên trong các quy định của pháp luật thi
hành án phải xác định rõ trách nhiệm chính trong tổ chức, quản lý, chỉ đạo công tác
thi hành án phải thuộc về Chính phủ và Ủy ban nhân dân các địa phương. Với đặc
điểm là hoạt động mang tính chất tư pháp thì những tổ chức và cá nhân có thẩm
quyền trực tiếp thi hành án (thủ trưởng cơ quan thi hành án, chấp hành viên) phải có
tính độc lập tương đối, hoạt động theo luật và chịu trách nhiệm trước Nhà nước.

8


Thật khó có thể xác định rõ được mức độ (liều lượng) của tính hành chính và tính tư
pháp trong thi hành án. Tuy nhiên, trong thực tiễn, đặc điểm của mỗi loại hình thi
hành án cũng như của mỗi nhóm vụ việc trong từng loại hình thi hành án sẽ quy
định mức độ của tính hành chính và tính tư pháp và thông thường trong thi hành án,
tính tư pháp luôn thể hiện ở mức độ hạn chế hơn so với tính hành chính.
Xuất phát từ nguyên tắc Hiến định đã được nêu tại Điều 106 Hiến pháp 2013
quy định “Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được
cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải
nghiêm chỉnh chấp hành”. Đây là cơ sở đạo luật gốc quy định để các bản án. quyết
định của Tòa án được thi hành trên thực tế.
Do vậy, thi hành án dân sự là hoạt động hành chính - tư pháp của Nhà nước,
do các cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục luật
định, nhằm đảm bảo thi hành các bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định
khác của cơ quan có thẩm quyền.

1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của thi hành án kinh doanh, thương mại
Thi hành án kinh doanh, thương mại là một trường hợp cụ thể của THADS
nên nó cũng có những đặc điểm của THADS nói chung, đó là:
Thứ nhất, thủ tục thi hành án kinh doanh, thương mại là cách thức, trình tự tổ
chức thi hành các bản án, quyết định kinh doanh, thương mại có hiệu lực thi hành
được pháp luật quy định, bao gồm nhiều thủ tục khác nhau.
Cũng giống như thủ tục THADS nói chung, thủ tục THA kinh doanh, thương mại
do pháp luật quy định, cơ quan THADS, Chấp hành viên cũng không được đặt ra trình
tự, thủ tục và không tùy tiện trong quá trình tổ chức thực hiện THA mà phải tuân thủ
đúng quy định của pháp luật. Quá trình THADS thường bao gồm các thủ tục sau:
(i) Thủ tục cấp, chuyển giao BA, QĐ của Tòa án cho đương sự và CQTHADS
để thi hành;
(ii) Thủ tục gửi và giải thích BA, QĐ của Tòa án nhằm mục đích để các cơ
quan thực thi pháp luật có cách hiểu thống nhất đối với các BA, QĐ đảm bảo cho
việc CQTHA thực thi đúng bản chất của sự việc, đúng pháp luật, đúng phán quyết
của Tòa án và các cơ quan khác.

9


(iii) Thủ tục yêu cầu THA của đương sự, nộp đơn yêu cầu THA, thủ tục nhận
hoặc từ chối nhận đơn của CQTHADS.
(iv) Thủ tục ra quyết định THA của thủ trưởng CQTHADS, trong quá trình
THA có thể phát sinh các thủ tục như xác minh THA, hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ
THA, chuyển giao quyền và nghĩa vụ THA, bảo đảm và cưỡng chế thi hành án, kết
thúc THA.
Trong quá trình THADS, ở mỗi giai đoạn thực hiện từng thủ tục là khác nhau
và các thủ tục này liên kết toàn bộ quá trình thi hành án dân sự. Tuy nhiên, không
phải việc thi hành bất kỳ bản án, quyết định dân sự nào đều phải trải qua tất cả các
thủ tục nêu trên.
Thứ hai, thi hành án kinh doanh, thương mại là thi hành bản án, quyết định
kinh doanh, thương mại của Tòa án và quyết định của Trọng tài
THADS gắn liền với hoạt động xét xử, xét xử chính là tiền đề của thi hành án
dân sự. Hoạt động thi hành án lệ thuộc và chịu sự chi phối của hoạt động xét xử, bởi
lẽ thi hành án được tiến hành dựa trên BA, QĐ đã có hiệu lực thi hành của Tòa án,
trọng tài. Nói cách khác, căn cứ pháp lý để thi hành án kinh doanh, thương mại là
bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án và quyết định của Trọng tài
thương có hiệu lực thi hành. Ngược lại, THA kinh doanh, thương mại làm cho BA,
QĐ của Tòa án và Trọng tài đượcc thực hiện trên thực tế. Sau khi có bản án, quyết
định của Tòa án, Trọng tài có hiệu lực thi hành, trên cơ sở của bản án, quyết định do
Tòa án và Trọng tài chuyển giao hoặc đơn yêu cầu THA của đương sự, CQTHADS
ra quyết định thi hành và thụ lý, tổ chức việc thực hiện thi hành án.
THADS nói chung và THA kinh doanh, thương mại nói riêng là giai đoạn kế
tiếp sau giai đoạn xét xử, có mối quan hệ mật thiết, đan xen với các giai đoạn tố
tụng trước đó (ví dụ: việc thi hành các quyết định khẩn cấp tạm thời của Toà án;
trong quá trình thi hành án, Chánh án TANDTC, Viện trưởng Viện kiểm sát Tối
cao, Chánh án Tòa án cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp cao có thẩm quyền
yêu cầu CQTHA hoãn việc THA, quyết định tạm đình chỉ THA để xem xét lại bản
án theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm...). Tuy nhiên, THA lại có tính độc lập
tương đối thể hiện ở chỗ hoạt động này được bắt đầu bằng quyết định của Thủ

10


trưởng CQTHADS đối với THADS. Những quyết định này mang tính bắt buộc
chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc
THA. Các cơ quan, tổ chức, công dân, trong phạm vi trách nhiệm của mình có
nghĩa vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để thi hành án đạt hiệu quả. Nhằm bảo
đảm hiệu lực thi hành của các bản án, quyết định của các cơ quan Tòa án, Trọng tài,
Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, hiện nay, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong
THADS được quy định tại Điều 170 LTHADS năm 2014. Nhiệm vụ, quyền hạn của
Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh trong THADS được quy định
tại Điều 179 LTHADS năm 2014.
Như vậy, nếu mục đích của thi hành án không đạt được thì toàn bộ hoạt động
xét xử, giải quyết tranh chấp trước đó cũng trở nên vô nghĩa. Nếu như một bản án,
quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật không được thi hành hoặc thi hành không
nghiêm thì trật tự kỷ cương xã hội bị vi phạm, quyền lực Nhà nước bị xem thường.
Chính vì vậy, việc bảo đảm hiệu lực của các bản án, quyết định có hiệu lực thi hành
nói riêng và bản án, quyết định của Tòa án nói riêng là một yêu cầu khách quan.
Thứ ba, thi hành án dân sự nói chung và thi hành án kinh doanh, thương mại nói
riêng do cơ quan, tổ chức thi hành án ( Thừa phát lại) thực hiện.
BA, QĐ của Tòa án có hiệu lực thi hành do CQTHADS, tổ chức THADS thực
hiện theo thủ tục THA một cách độc lập và không cá nhân, cơ quan, tổ chức nào
được can thiệp trái pháp luật vào quá trình thi hành án dân sự. Cơ quan, tổ chức
THA phải tuân thủ đúng thủ tục THA trong quá trình tổ chức việc THA.
Bên cạnh đó, cơ sở của hoạt động thi hành án là các BA, QĐ có hiệu lực thi
hành; các cơ quan tham gia vào quá trình THA chủ yếu là cơ quan tư pháp. Tuy
nhiên, các bản án, quyết định do các cơ quan như Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý
vụ việc cạnh tranh sau khi được tuyên sẽ được CQTHADS thi hành. Các nước trên
thế giới có các mô hình khác nhau về cơ quan, tổ chức thi hành án. Ở Việt Nam,
ngoài cơ quan thi hành án dân sự của Nhà nước còn có tổ chức Thừa phát lại thực
hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh và hiện nay nhân rộng ra phạm vi cả nước
theo nghị quyết số 107 ngày 26/11/2015, thì một số thủ tục THADS do văn phòng
thừa phát lại thực hiện như: Thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của Tòa án hoặc

11


CQTHADS; lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức; xác minh điều
kiện THA theo yêu cầu của đương sự; trực tiếp tổ chức THA các BA, QĐ của Tòa
án theo yêu cầu của đương sự. Thừa phát lại không tổ chức THA các bản án, quyết
định thuộc diện Thủ trưởng CQTHADS chủ động ra quyết định THA.
Tòa án có trách nhiệm gửi bản án, quyết định tới CQTHADS và Viện kiểm sát
cùng cấp với Tòa án đã xét sử sơ thẩm. Thủ tục THA do CQTHADS thực hiện từ
việc ra quyết định thi hành án, hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ THA, việc cưỡng chế
THA,… cho đến việc trả lại đơn yêu cầu THA, và quyết định kết thúc THA. Cơ
quan THA là cơ quan chuyên trách để thực thi các BA, QĐ có hiệu lực thi hành trên
thực tế. Việc ra quyết định THA để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của đương sự do
Thủ trưởng CQTHADS đảm nhiệm. Trước đây, PLTHADS 1989, việc ra quyết
định THA còn do chánh án Tòa án sơ thẩm xét xử vụ án, điều này dẫn đến việc
chồng chéo và gánh nặng cho Tòa án, từ PLTHADS năm 1993 đến nay (khi áp
dụng PLTHADS năm 2004 và Luật THADS năm 2008, Luật THADS năm 2014),
việc THA chỉ do cơ quan chuyên trách thi hành án thực hiện..
THA kinh doanh, thương mại trước hết có các đặc điểm của THADS nói
chung. Từ khái niệm về thi hành án dân sự nói chung để khẳng định thi hành án
kinh doanh thương mại là một loại việc trong thi hành án dân sự cùng trong phạm vi
điều chỉnh của Luật thi hành án dân sự 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014). Đặc
điểm thi hành án “kinh doanh thương mại” chưa được thể hiện rõ (ngoài đối tượng
là Quyết định của Hội đồng xử lý cạnh tranh, quyết định của trọng tài thương mại).
Tuy nhiên, án kinh doanh, thương mại lại là loại án chiếm vị trí quan trọng trong
khối lượng công việc thi hành án, xuất phát từ tính chất và giá trị thi hành lớn, tài
sản thế chấp lớn, nội dung liên quan đến lĩnh vực Luật thương mại, kinh tế, tài
chính Khác với việc xác định các quan hệ tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình và
lao động chủ yếu dựa vào luật nội dung, sau đó đối chiếu với quy định về thẩm
quyền theo vụ việc do BLTTDS quy định để xác định tranh chấp nào thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án.
Theo quy định tại Điều 29 BLTTDS thì tranh chấp kinh doanh, thương mại
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm 4 nhóm: (1) Tranh chấp phát sinh

12


trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh
doanh với nhauvà đều có mục đích lợi nhuận (được liệt kê từ điểm a đến điểm o
khoản 1 Điều 29); (2) Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ
giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận (có thể tất cả hoặc một
trong các bên có đăng ký kinh doanh hoặc các bên đều không có đăng ký kinh
doanh) được quy định tại khoản 2 Điều 29; (3) Tranh chấp giữa công ty với các
thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến
việc thành lập, hoạt động, chấm dứt hoạt động của công ty được quy định tại khoản
3 Điều 29; (4) các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy
định được quy định tại khoản 4 Điều 29.
Về thẩm quyền theo cấp Tòa án, sau khi xác định được tranh chấp kinh doanh,
thương mại, đối chiếu với quy định tại điểm b khoản 1 Điều 33 và điểm a khoản 1
Điều 34 BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011 để xác định. Theo đó, tất cả
các tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều 29 đều thuộc thẩm quyền của TAND cấp
huyện. Những tranh chấp thuộc các khoản 2, 3 và 4 Điều 29 và trường hợp có
đương sự, tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp thuộc thẩm quyền của
TAND cấp tỉnh.
Do tính chất tương đồng giữa thi hành vụ án dân sự với vụ án kinh doanh,
thương mại nên pháp luật về Thi hành án dân sự không phân tách giữa thi hành án
kinh doanh, thương mại với thi hành án các bản án, quyết định khác của Tòa án.
Những quy định của pháp luật Thi hành án dân sự cũng chính là các quy định của
phát luật thi hành án bản án, quyết định kinh doanh, thương mại, do đó không có
pháp luật chuyên biệt độc lập về lĩnh vực thi hành án kinh doanh, thương mại mà là
hoạt động hành chính - tư pháp mang tính quyền lực nhà nước, do các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền thi hành theo thủ tục pháp luật quy định, thông qua đó để bản
án, quyết định nói chung và bản án, quyết định về kinh doanh, thương mại nói
riêng được thi hành trên thực tế.
Thi hành án kinh doanh, thương mại mang đầy đủ những đặc điểm của thi hành
án dân sự, tuy nhiên thi hành án kinh doanh, thương mại có đặc trưng riêng, cụ thể:

13


- Thứ nhất: Đương sự của thi hành án kinh doanh, thương mại chủ yếu là các
doanh nghiệp, hộ kinh doanh. Xuất phát từ quy định của Luật thương mại, Luật tố
tụng dân sự, do vậy đặc điểm để xác định các vụ án kinh doanh, thương mại là tranh
chấp giữa chủ thể kinh doanh với nhau vì mục đích lợi nhuận, hiện nay chủ yếu là
tranh chấp giữa một bên là Ngân hàng, tổ chức tín dụng với một bên là doanh
nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc các hộ kinh doanh cá thể. Lý do của tranh
chấp xuất phát từ hoạt động kinh doanh, vay vốn để hoạt động kinh doanh.
- Thứ hai: Đa phần đối tượng của thi hành án về kinh doanh, thương mại là
tài sản bảo đảm có giá trị lớn, thế chấp dưới nhiều hình thức khác nhau như: sản
phẩm hàng hóa, dây truyền máy móc thiết bị, thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm, tài
khoản tại ngân hàng, thậm chí tài sản hình thành trong tương lai…Trong quá trinh
hoạt động của các chủ thể kinh doanh, thương mại phải huy động vốn từ nhiều
nguồn khác nhau, trong đó có góp cổ phần, vay vốn ngân hàng để bảo đảm tài chính
cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Để bảo đảm cho các khoản vay thì các doanh
nghiệp sử dụng tài sản có sẵn hoặc tài sản hình thành trong tương lai có giá trị để
thế chấp trong các hợp đồng tín dụng, khi bị khởi kiện ra Tòa án và có bản án, quyết
định có hiệu lực pháp luật đưa ra tổ chức thi hành có những vụ việc các tài sản bảo
đảm rất lớn, do vậy rất khó khăn trong việc xác định, thẩm định để xử lý.
- Đa phần việc thi hành án về kinh doanh, thường mại có lượng tiền lớn là
trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu
- Đa số các biện pháp bảo đảm và cưỡng chế để thi hành án là biện pháp
phong tỏa tài khoản, kê biên tài sản bảo đảm bán đấu giá.
- Phần lớn các tài sản bảo đảm đến khi xử lý để thi hành án đều có xu hướng
giảm giá trị rất nhiều so với lúc thế chấp, do máy móc, nhà xưởng cũ hỏng, xuống
cấp và phải giảm giá nhiều lần mới bán được do không có người tham gia đấu giá.
- Khoản phải thi hành án tồn đọng có giá trị lớn chờ xử lý ảnh hưởng đến tiến
độ hoàn thành chỉ tiêu nhiệm vụ.
- Khoản phải chuyển sang chưa có điều kiện thi hành án lớn khi đã xử lý hết
các tài sản của bên phải thi hành án. Ví dụ: vụ Công ty Trọng Tấn phải thi hành trả
Ngân hàng 14 tỷ, tài sản thế chấp được Ngân hàng thẩm định giá có giá trị 30 tỷ,

14


sau khi kê biên xử lý tài sản bảo đảm chỉ được 7 tỷ, còn lại 7 tỷ chuyển chưa điều
kiện trong khi Công ty phá sản không còn nguồn nào để thi hành khoản nợ còn lại
nhưng cơ quan thi hành án vẫn phải xác minh, giải quyết…
Như vậy qua những đặc điểm đặc trưng của thủ tục THA, chúng ta có thể rút
ra khái niệm về thủ tục thi hành án như sau: Thủ tục thi hành án dân sự là trình tự
thi hành các bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, quyết
định về tài sản trong bản án, quyết định về hình sự, hành chính và quyết định khác
do Cơ quan, tổ chức thi hành án dân sự thực hiện theo qui định pháp luật.

1.1.3. Ý nghĩa của thi hành án kinh doanh, thương mại
Thi hành án kinh doanh, thương mại là hoạt động thực thi phán quyết có hiệu
lực của Tòa án, của trọng tài thương mại liên quan đến tranh chấp kinh doanh
thương mại. Với đặc thù là hoạt động hành chính - tư pháp, do các cơ quan thi hành
án dân sự tổ chức thi hành theo quy định, mang lại ý nghĩa quan trọng như:
- Thông qua hoạt động thi hành án, những phán quyết của Tòa án nhân danh
nhà nước được trở thành hiện thực, công lý và công bằng xã hội được được thực
hiện trên thực tế. Việc giải quyết vụ án chỉ thực hiện xong khi bản án, quyết định
của tòa án được thi hành kịp thời và đầy đủ, việc này tùy thuộc vào quá trình thi
hành án. Với ý nghĩa đó, thi hành án dân sự là hoạt động không thể thiếu trong công
tác bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Thông qua
công tác thi hành án, kết quả xét xử được củng cố, hiệu lực pháp luật của bản án,
quyết định được đảm bảo thực thi. Công tác thi hành án dân sự được được thực hiện
nhanh chóng, kịp thời có tác dụng tích cực cho hoạt động xét xử của tòa án, tăng
cường uy tín của cơ quan xét xử, cơ quan phán quyết trước xã hội. Mặt khác, thông
qua thi hành án để kiểm nghiệm công tác xét xử, nếu xét xử không tốt thì thi hành
án cũng không hiệu quả.
- Thông qua hoạt động thi hành án có ý nghĩa quan trong trong việc giáo dục ý
thức chấp hành pháp luật của công dân, trong đó vai trò của Chấp hành viên, sự
phối hợp của các cơ quan, ban, ngành và chính quyền địa phương, tạo sự đồng tình
của quần chúng, nâng cáo ý thức trách nhiệm của cộng đồng trong công tác thi hành
án dân sự. Do vậy hoạt động thi hành án không chỉ là nghiệp vụ riêng của cơ quan

15


thi hành án, của chấp hành viên mà còn là trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính
quyền địa phương, các cơ quan, đoàn thể xã hội và mọi thành viên trong cộng đồng
và cả hệ thống chính trị.
- Thông qua hoạt động thi hành án áp dụng xử lý các hành vi chống đối, cản
trở, can thiệp trái pháp luật vào quá trình thi hành án. Từ đó ý thức pháp luật được
nâng lên, tạo niềm tin cho nhân dân vào pháp luật, hệ thống pháp luật ngày càng
được hoàn thiện hơn, sức mạnh nhà nước ngày càng được củng cố vững chắc.
Bên cạnh những ý nghĩa của hoạt động thi hành án dân sự, Thi hành án kinh
doanh thương mại còn có ý nghĩa đặc trưng, đó là: Kinh doanh, thương mại là môi
trường mới phát triển ở Việt Nam, do vậy phát sinh nhiều các tranh chấp về
quyền và lợi ích hợp pháp của các bên vay và cho vay. Bên vay không trả được
vốn, bị khởi kiện và đã được Tòa án xét xử ra bản án nhưng quá trình thi hành án
khó thực hiện dẫn đến kìm hãn sự phát triển của nền kinh tế. Trước thực tế như
vậy, đòi hỏi việc thực thi bản án cần phải nhanh chóng và hiệu quả, đó là một
trong những yêu cầu cơ bản để thúc đẩy phát triển của nền kinh tế thị trường. Tài
sản để đưa ra thi hành trong các bản án, quyết định kinh doanh, thương mại
thường có giá trị lớn, để phục vụ cho sản xuất kinh doanh, do vậy các doanh
nghiệp cũng cần nguồn vốn lớn. Mặt trái của hoạt động kinh doanh cũng chứa
đựng nhiều rủi ro, khi gặp phải rủi ro hoặc những lý do chủ quan nào đó của
doanh nghiệp thường tác động xấu đến bên cho vay mà chủ yếu là các tổ chức tín
dụng, ngân hàng tồn đọng nợ xấu. Việc tổ chức giải quyết thi hành án được
nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả góp phần loại bỏ các doanh nghiệp năng lực
hoạt động kém hiệu quả, góp phần thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển, còn
đối với công tác thi hành án thì giảm số lượng việc và tiền tồn đọng có giá trị lớn
để hoàn thành chỉ tiêu nhiệm vụ được ngành giao.
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thi hành án kinh doanh, thương mại
- Tính chất của các bản án, quyết định về kinh doanh, thương mại
Các bản án, quyết định về kinh doanh, thương mại thường liên quan đến giải
quyết các tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng kinh tế giữa các pháp
nhân kinh tế, hợp đồng tín dụng, ngân hàng... có giá trị lớn, chế độ quản lý tài sản

16


phức tạp. Thi hành án kinh doanh, thương mại thường liên quan đến việc giải quyết
các tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng kinh tế giữa các pháp nhân
kinh tế; hợp đồng tín dụng, ngân hàng..., nên thường có giá trị lớn, chế độ quản lý
tài sản phức tạp, liên quan đến nhiều vấn đề mang tính chất kinh tế đã gây khó khăn
cho quá trình tổ chức thi hành án. Thời gian qua cho thấy xu thế gia tăng mạnh số
lượng tiền, giá trị tài sản trong các bản án, quyết định kinh doanh, thương mại, trong
khi lại bị hạn chế do tinh giản biên chế; tính thanh khoản bán đấu giá tài sản thi
hành án thấp do tâm lý của người mua là ngại mua tài sản đã kê biên, có những
trường hợp giảm giá từ 5 lần đến trên 20 lần nhưng vẫn không bán được để thi hành
án…đã là nguyên nhân trực tiếp làm cho kết quả thi hành án kinh doanh, thương
mại không cao. Do tính chất phức tạp liên quan đến giá trị tài sản thi hành lớn nên
việc kê biên, xác định tài sản của doanh nghiệp, người phải thi hành án là một khó
khăn đặc thù của thi hành án KDTM. Hơn nữa, yêu cầu của các hoạt động kinh
doanh, thương mại đòi hỏi phải thi hành án nhanh nhưng cũng cần bảo vệ hoạt động
sản xuất kinh doanh của các cá nhân, tổ chức. Do đó, việc xây dựng các quy định
pháp luật về THA kinh doanh, thương mại cần xem xét đến tính đặc thù này
- Đặc thù của thi hành án kinh doanh, thương mại
Việc phán quyết của Tòa án đối với các bản án, quyết định kinh doanh, thương
mại phải thực sự rõ ràng, có tính khả thi trên thực tế vì đây là cơ sở pháp lý quan
trọng xác định quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan. Vì vậy, để các bản án,
quyết đinh kinh doanh, thương mại có thể thi hành được trên thực tế thì trước hết
bản án, quyết định phải bảo đảm được cụ thể về mặt nội dung, tuyên rõ, dễ thi hành,
tránh hiểu sai, hiểu nhiều nghĩa khác nhau dẫn đến khó thi hành. Yêu cầu nội dung
bản án phải đảm bảo tính chung thẩm cao, hiệu lực cao, có như vậy mới hạn chế
được tình trạng khi bản án, quyết định đưa ra thi hành có nhiều quan điểm trái
ngược dẫn đến bị hoãn, tạm đình chỉ, kháng nghi, hủy hoặc sửa chữa, bổ sung…làm
ảnh hưởng tới quá trình thực thi.
Trong THADS kinh doanh, thương mại, nhiều người được thi hành án là ngân
hàng, tổ chức tín dụng còn lúng túng trong việc nhận tài sản bán đấu giá để trừ vào
khoản vay, nhiều việc chấp hành viên đã vận động, thuyết phục ngân hàng nhận tài

17


sản giảm giá đã nhiều lần không bán được để trừ vào khoản vay nhưng ngân hàng
không nhận.
Trong một số trường hợp người phải thi hành án, khi đi vay là khách hàng của
ngân hàng nhưng khi đến hạn đã không trả nợ lại thiếu hợp tác, trốn tránh, gây khó
khăn cho việc xử lý tài sản đã thế chấp. Khi có nguy cơ bị xử lý tài sản, nên họ cố
tình chống đối việc thi hành án bằng nhiều cách như: thay đổi hiện trạng tài sản,
không nhận quyết định thi hành án, cản trở việc xác minh, việc kê biên, định giá,
bán đấu giá tài sản để thi hành án, khiếu nại, tố cáo nhằm mục đích kéo dài việc thi
hành án, gây cản trở cho việc tổ chức thi hành án. Bên cạnh đó, phần lớn tài sản nhà
xưởng, dây truyền, máy móc… được thế chấp khi vay nhưng đến khi xử lý thì khấu
hao nhiều, giá trị còn lại để bảo đảm thu khoản nợ cho ngân hàng còn rất thấp. Hơn
nữa, quá trình xác minh tài sản của người phải THADS, THADS cần bảo đảm
không làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng phải kịp thời
nhằm tránh việc tẩu tán, hủy hoại tài sản. Do đó, khi xây dựng pháp luật về THADS
kinh doanh, thương mại phải tính đến các đặc thù này.
- Trình độ năng lực của cán bộ THADS
Một số chấp hành viên năng lực còn hạn chế trong việc tổ chức thi hành án
liên quan đến án kinh doanh, thương mại, đặc biệt là những vụ việc khoản phải thi
hành lớn, tài sản bảo đảm lớn và phức tạp đòi hỏi phải vận dụng linh hoạt, có trình
độ nhận thức về lĩnh vực pháp luật kinh tế.
Bên cạnh đó, việc thẩm định, nhận thế chấp tài sản chưa chặt chẽ; đối với án
liên quan đến ngân hàng thì đại diện ngân hàng tham gia việc yêu cầu thi hành án
chưa tích cực, chủ động phối hợp trong quá trình tổ chức thi hành án. Trong quá
trình tiến hành thẩm định, cho vay, một số trường hợp ngân hàng không thực hiện
đúng quy trình, quy định; không xác định hiện trạng tài sản, không thẩm định kỹ
nguồn gốc, giá trị tài sản hoặc một tài sản được thế chấp cho nhiều nơi. Có trường
hợp ngân hàng chỉ nhận thế chấp là quyền sử dụng đất mà không nhận thế chấp tài
sản trên đất, có trường hợp nhận thế chấp cả tài sản xây dựng chồng lấn trên đất lưu
không hoặc không nằm trong quy hoạch, hợp đồng thế chấp tài sản không chặt chẽ;
giá trị tài sản thế chấp cao hơn giá trị thực tế của tài sản; tài sản thế chấp là động

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×