Tải bản đầy đủ

Chế tài hủy bỏ hợp đồng theo pháp luật việt nam hiện nay

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

CHẾ TÀI HỦY BỎ HỢP ĐỒNG THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY

HOÀNG CAO MINH

Hµ Néi - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHẾ TÀI HỦY BỎ HỢP ĐỒNG THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY
HOÀNG CAO MINH


CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. HỒ NGỌC HIỂN

Hà Nội - 2018


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2018
TÁC GIẢ

Hoàng Cao Minh


LỜI CẢM ƠN

Quá trình nghiên cứu, khảo sát viết Luận văn cũng gặp một số khó
khăn, nhưng được sự tận tình giúp đỡ của người hướng dẫn khoa học, các nhà
khoa học, các cán bộ nghiên cứu, các cán bộ lãnh đạo, cán bộ hoạt động thực
tiễn và đồng nghiệp ở các cơ quan chức năng của địa phương, cùng với sự nỗ
lực cố gắng của bản thân, Luận văn đã được hoàn thành.
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy, TS. Hồ Ngọc Hiển người
đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn
này. Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy cô trong khoa
Luật Kinh tế và khoa sau đại học Viện đại học Mở Hà Nội đã tận tình truyền
đạt những kiến thức quý báu, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong
suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn.
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến tập thể Lãnh đạo Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Phú Thọ đã hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong
suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các
bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập,
nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh.
Tôi xin chân thành cảm ơn!




MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài ................................................................................................. 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn......................................................................... 2
3.1. Mục đích nghiên cứu .............................................................................................................. 2
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................................................. 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.............................................................................................. 3
4.1. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................................................. 3
4.2. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................................................ 3
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 3
5.1. Phương pháp luận................................................................................................................... 3
5.2. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................................ 3
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn .................................................................................. 4
6.1. Ý nghĩa lý luận ....................................................................................................................... 4
6.2. Ý nghĩa thực tiễn .................................................................................................................... 4
7. Kết cấu luận văn ....................................................................................................................... 4
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ TÀI HỦY BỎ HỢP ĐỒNG...................5
1.1. Khái niệm và sự so sánh chế tài hủy bỏ hợp đồng với các chế tài theo pháp luật Việt Nam...... 5
1.1.1. Khái niệm chế tài hủy bỏ hợp đồng...................................................................................... 5
1.1.2. So sánh chế tài hủy bỏ hợp đồng với các chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và
chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng ........................................................................................... 9
1.1.2.1. Với chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng ...................................................... 9
1.1.2.2. Với chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng .......................................................................13
1.2. Cơ sở pháp lý của việc hủy bỏ hợp đồng theo pháp luật Việt Nam .........................................15
1.3. Mối liên hệ giữa chế tài Huỷ bỏ hợp đồng với các chế tài khác ..............................................18
1.3.1. Với chế tài bồi thường thiệt hại...........................................................................................18


1.3.2. Với chế tài phạt vi phạm hợp đồng .....................................................................................19
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ
CHẾ TÀI HỦY BỎ HỢP ĐỒNG...................................................................................................23
2.1. Các căn cứ áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng theo pháp luật thương mại Việt Nam ................23
2.1.1. Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng .............24
2.1.2. Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng trong Điều 428 Bộ luật Dân sự 2015 và so sánh
với vi phạm cơ bản trong hợp đồng Luật Thương mại chế tài phạt vi phạm hợp đồng ...................27
2.1.3. Huỷ bỏ hợp đồng trong trường hợp giao hàng, cung ứng dịch vụ từng phần ...............................36
2.2. Hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ hợp đồng theo pháp luật thương mại Việt Nam ...........41
2.2.1. Chấm dứt việc thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng..........................................................42
2.2.2. Nghĩa vụ hoàn trả và bồi thường thiệt hại ...........................................................................44
2.3. Các trường hợp miễn trách nhiệm và vấn đề thông báo hủy bỏ hợp đồng ...............................54
2.3.1. Các trường hợp miễn trách nhiệm .......................................................................................54
2.3.2. Thông báo hủy bỏ hợp đồng ...............................................................................................61
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ HỦY BỎ HỢP ĐỒNG VÀ
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VỀ HỦY BỎ HỢP ĐỒNG........64
3.1. Thực trạng áp dụng các quy định về hủy bỏ hợp đồng theo pháp luật thương mại Việt Nam.64
3.1.1. Vấn đề áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng trước khi hết thời hạn thực hiện hợp đồng ............65
3.1.2. Thủ tục hủy bỏ hợp đồng ....................................................................................................75
3.2. Kiến nghị hoàn thiện một số quy định của pháp luật thương mại về hủy bỏ hợp đồng ............77
KẾT LUẬN ................................................................................................................................87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................89


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm
dứt quyền, nghĩa vụ nhằm đạt được lợi ích hợp pháp mà họ mong muốn khi giao
kết. Tuy nhiên, vì các lý do khác nhau, không phải lúc nào các bên cũng tự nguyện
thực hiện đúng hợp đồng. Trước tình huống này, bên không được thực hiện hợp
đồng có thể áp dụng các chế tài theo quy định của pháp luật, trong đó có chế tài hủy
bỏ hợp đồng. Vi phạm hợp đồng, tùy thuộc vào mức độ vi phạm và quy mô của hợp
đồng, sẽ ảnh hưởng nhất định đến các quan hệ kinh doanh, đến sự ổn định và phát
triển chung của nền kinh tế. Trong trường hợp như vậy, pháp luật của tất cả các
nước cũng như các văn bản pháp lý quốc tế quy định những biện pháp chế tài đối
với bên vi phạm nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của bên bị thiệt hại.
Chế tài hủy hợp đồng được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác
nhau, tập trung nhất là trong Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại hiện hành. Tuy
nhiên, hai đạo luật này quy định chưa được thống nhất và rõ ràng. Thực trạng đó
của pháp luật là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc áp dụng chế tài
này trong thực tiễn giải quyết tranh chấp gặp nhiều khó khăn, phức tạp. Việc tìm
hiểu một cách có hệ thống các quy định của Pháp luật Việt Nam hiện hành về chế
định trong Dân sự, Thương mại và thực tiễn vận dụng luật là vấn đề có ý nghĩa về
mặt lý luận và thực tiễn. Trong khoa học Pháp lý Việt Nam thời gian qua, đã có một
số tác giả quan tâm nghiên cứu về chế tài hủy bỏ hợp đồng, nhưng vì tầm quan
trọng của vấn đề và trong bối cảnh Bộ luật Dân sự 2015 mới được ban hành, việc
tiếp tục nghiên cứu các quy định về hợp đồng nói chung và chế tài hủy bỏ hợp đồng
thương mại nói riêng là rất cần thiết.
Nhận thức rõ điều đó, tác giả chọn đề tài: “Chế tài hủy bỏ hợp đồng theo
pháp luật Việt Nam hiện nay” để làm luận văn thạc sĩ Luật, chuyên ngành Luật
kinh tế của mình.

1


2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong thời gian qua có một số công trình được công bố và trong một chừng
mực nhất định có liên quan đến nội dung của đề tài, cụ thể như sau: Luận án tiến sĩ
“Chế độ hợp đồng trong nền kinh tế thị trường ở giai đoạn hiện nay” của tác giả
Phạm Hữu Nghị, Hà Nội (1996); đề tài luận án tiến sĩ: “Hiệu lực của hợp đồng theo
quy định của pháp luật Việt Nam”, tác giả Lê Minh Hùng (2010).
Ngoài ra, còn có nhiều bài báo khoa học đăng trên các tạp chí, các hội nghị
như: “Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt
Nam” của PGS.TS. Đỗ Văn Đại (2010); Cuốn sách “Luật hợp đồng Việt Nam - Bản
án và bình luận bản án, tập 1” của tác giả Đỗ Văn Đại, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự
thật năm 2013; “Vi phạm cơ bản hợp đồng trong hệ thống pháp luật Việt Nam –
Một số bất cập và phương hướng hoàn thiện” của ThS Võ Sĩ Mạnh, đăng trên tạp
chí KTĐN số 67; “So sánh các quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong
Luật Thương mại Việt Nam 2005 và Công ước Viên 1980” của tác giả Phan Thị
Thanh Thủy đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 3 (2014)
50-60; Bài viết Nguyên tắc thiện chí và vấn đề hoàn thiện Bộ luật Dân sự Việt Nam
của tác giả Nguyễn Anh Thư đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 10 (318)
năm 2014....
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đều có đề cập đến các chế tài
được điều chỉnh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam như một phần nghiên cứu của
đề tài. Tuy nhiên, phần lớn các công trình tập trung nghiên cứu các chế tài dưới góc
độ trách nhiệm vật chất do vi phạm hợp đồng, còn chế tài hủy hợp đồng chưa được
nghiên cứu một cách độc lập. Vì vậy, việc nghiên cứu chế tài hủy bỏ hợp đồng theo
pháp luật Việt Nam hiện nay là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong giai
đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Từ việc phân tích và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực trạng các quy

2


định hiện hành về chế tài hủy bỏ hợp đồng của pháp luật Việt Nam, luận văn đề
xuất một số giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật phù hợp với hướng
phát triển chung của pháp luật thế giới và các hiệp ước thương mại mà Việt Nam là
thành viên.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về hợp đồng và chế tài hủy bỏ hợp đồng
theo các quy định của pháp luật Việt Nam.
Nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực trạng áp dụng các quy định của
pháp luật về chế tài hủy bỏ hợp đồng.
Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định này phù hợp với
hướng phát triển chung của pháp luật thế giới và các hiệp ước thương mại mà Việt
Nam là thành viên.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các quy định pháp luật Việt Nam về hủy bỏ hợp đồng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các quy định cụ thể về chế tài hủy bỏ hợp
đồng theo các văn bản pháp luật Luật Thương mại năm 2005, Bộ luật Dân sự năm
2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn đã sử dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: Phương

3


pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, phân tích vụ việc.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận pháp lý về hủy bỏ hợp
đồng, nhận diện và đánh giá thực trạng pháp luật về chế tài hủy bỏ hợp động theo
pháp luật Việt Nam.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Những kiến nghị, đề xuất của Luận văn có thể nghiên cứu áp dụng vào thực
tiễn, góp phần giải quyết những khó khăn, vướng mắc trên thực tế, hạn chế bất cập
phát sinh trong hoạt động giao kết hợp đồng, bảo đảm tối đa quyền lợi của các bên,
giảm thiểu thiệt hại do vi phạm hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng; đảm bảo cho quy định
của pháp luật mang tính khả thi.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được kết cấu gồm 3 chương.
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chế tài hủy bỏ hợp đồng.
- Chương 2: Nội dung quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chế tài
hủy bỏ hợp đồng.
- Chương 3: Thực trạng áp dụng các quy định về hủy bỏ hợp đồng và kiến
nghị hoàn thiện pháp luật thương mại về hủy bỏ hợp đồng.

4


CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ TÀI HỦY BỎ
HỢP ĐỒNG
1.1. Khái niệm và sự so sánh chế tài hủy bỏ hợp đồng với các chế tài theo pháp
luật Việt Nam
1.1.1. Khái niệm chế tài hủy bỏ hợp đồng
Từ lâu hợp đồng được biết đến như một giao dịch không thể thiếu của mỗi
thành viên trong xã hội. Trong đó các bên tham gia giao kết hợp đồng để trao đổi,
mua bán là một hoạt động mang tính chất thường xuyên và phổ biến. Ngày nay, nền
kinh tế, xã hội càng văn minh thì vấn đề giao kết hợp đồng càng được coi trọng hơn.
Điều quan trọng ở đây chúng ta cần hiểu rõ hợp đồng là một giao dịch, trong đó các
bên có sự thỏa thuận thống nhất ý chí với nhau nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm
dứt quyền, nghĩa vụ cho nhau.
Tuy nhiên, quan hệ pháp luật Dân sự theo nghĩa rộng bao gồm cả những
quan hệ về đầu tư, lao động, kinh doanh thương mại, bảo hiểm…. Theo đó, nếu
trong khái niệm về hợp đồng từ “Dân sự” được đặt đằng sau hai từ “hợp đồng” và
sau hai từ nghĩa vụ thì điều này dẫn đến thực tiễn thi hành pháp luật có cách hiểu
rằng những quy định của Bộ luật Dân sự hiện hành chỉ liên quan đến Hợp đồng Dân
sự. Như vậy, sẽ làm hạn chế phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự đối với tất cả
các loại hợp đồng, bao gồm cả Hợp đồng Dân sự, Hợp đồng Lao động, Hợp đồng
Kinh doanh hay Hợp đồng Thương mại. Trong Bộ luật Dân sự 2015 các nhà làm
luật đã có những chỉnh sửa liên quan đến khái niệm “hợp đồng” để khắc phục bất
cập trên. Cụ thể, Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa
thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ Dân
sự”. So với Bộ luật Dân sự năm 2005 thì Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bỏ cụm từ
“Dân sự” sau hai từ “hợp đồng”.

5


Theo nguyên tắc, mỗi khi hợp đồng được ký kết không vi phạm những điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng do pháp luật quy định thì có giá trị pháp lý ràng buộc
các bên, khi hợp đồng có hiệu lực thì buộc các bên phải có nghĩa vụ thực hiện theo
thoả thuận trong hợp đồng. Đồng thời, các bên phải thực hiện nghĩa vụ hợp đồng
một cách thiện chí, trung thực đúng nội dung cam kết, thoả thuận. Nhưng trên thực
tế, vì nhiều lý do khác nhau mà một trong các bên có hành vi vi phạm hợp đồng.
Hành vi vi phạm hợp đồng sẽ làm cho lợi ích của các bên không còn ngang bằng,
phá vỡ trật tự của lưu thông Dân sự. Để hạn chế sự vi phạm và để thiết lập lại trật tự
trên, pháp luật của các nước đều thiết kế những biện pháp pháp lý - chế tài và cho
phép bên bị vi phạm hợp đồng áp dụng chúng khi có sự vi phạm hợp đồng của bên
kia. Một trong những biện pháp đó là chế tài hủy bỏ hợp đồng.
Hợp đồng chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật thông qua các điều kiện
cụ thể mà các bên phải tuân thủ khi giao kết hợp đồng. Như vậy, bản thân Hợp đồng
không phải là Luật pháp, nhưng Hợp đồng được thành lập hợp pháp thì sẽ phát sinh
hiệu lực và có giá trị ràng buộc đối với các bên giao kết hợp đồng. Thực hiện đúng
và đầy đủ hợp đồng là yêu cầu bắt buộc đối với các bên giao kết. Việc một bên
không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết sẽ mang lại
những thiệt hại nhất định cho phía còn lại. Trong trường hợp như vậy, Pháp luật của
tất cả các nước cũng như các văn bản pháp lý Quốc tế quy định những biện pháp
chế tài đối với bên vi phạm nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của bên bị thiệt hại bên bị vi phạm.
Bảo vệ quyền lợi cho bên bị vi phạm hợp đồng chế tài trong Dân sự gồm:
Hủy bỏ hợp đồng là sau khi hợp đồng đã có hiệu lực nhưng một trong các bên vi
phạm hợp đồng là điều kiện để hợp đồng chấm dứt hiệu lực do luật định. Theo
nguyên tắc chung, hủy bỏ hợp đồng là một trong những chế tài có thể áp dụng nhằm
đảm bảo việc thực hiện mục đích của hợp đồng theo các quy định của pháp luật.
Chế tài hủy bỏ hợp đồng không những được quy định trong Luật Thương
mại năm 2005 mà còn được quy định tại Điều 423 Bộ luật Dân sự năm 2015. Ngoài

6


trường hợp hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại, Bộ luật Dân sự
năm 2015 còn bổ sung trường hợp một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không
phải bồi thường thiệt hại, đó là: Bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng.
Trong trường hợp này vi phạm nghiêm trọng là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ
của một bên đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết
hợp đồng và trường hợp khác do luật quy định theo Điểm c Khoản 1 Điều 423 Bộ
luật Dân sự 2015.
Theo Điều 424 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì việc Huỷ bỏ hợp đồng do chậm
thực hiện nghĩa vụ trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa
vụ mà bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trong một thời hạn hợp lý nhưng
bên có nghĩa vụ không thực hiện thì bên có quyền có thể huỷ bỏ hợp đồng. Đối với
trường hợp do tính chất của hợp đồng hoặc do ý chí của các bên, hợp đồng sẽ không
đạt được mục đích nếu không được thực hiện trong thời hạn nhất định mà hết thời
hạn đó bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ thì bên kia có quyền hủy bỏ
hợp đồng mà không phải tuân theo quy định nêu trên. Theo Điều 425 Bộ luật Dân
sự năm 2015, Huỷ bỏ hợp đồng do không có khả năng thực hiện trong trường hợp
bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của
mình làm cho mục đích của bên có quyền không thể đạt được thì bên có quyền có
thể huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Theo Điều 426 Bộ luật Dân sự 2015, Huỷ bỏ hợp đồng trong trường hợp tài
sản bị mất, bị hư hỏng phát sinh trong trường hợp một bên làm mất, làm hư hỏng tài
sản là đối tượng của hợp đồng mà không thể hoàn trả, đền bù bằng tài sản khác hoặc
không thể sửa chữa, thay thế bằng tài sản cùng loại thì bên kia có quyền huỷ bỏ hợp
đồng. Bên vi phạm phải bồi thường bằng tiền ngang với giá trị của tài sản bị mất, bị
hư hỏng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc theo quy định sau:
Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất
khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm Dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận
khác hoặc pháp luật có quy định khác. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm

7


Dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi
của bên có quyền. Trường hợp vi phạm nghĩa vụ và có thiệt hại là do một phần lỗi
của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức
độ lỗi của mình.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 425 Bộ luật Dân sự năm 2005, một bên có
quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm hợp
đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định; đối
với Khoản 3, khi hợp đồng bị hủy bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm
giao kết. Có thể nhận thấy rằng, quy định về chế tài hủy bỏ hợp đồng trong Bộ luật
Dân sự năm 2005 có sự không thống nhất, sự không thống nhất này thể hiện ở căn
cứ hủy hợp đồng.
So sánh với pháp luật các nước và các văn bản pháp luật quốc tế tác giả nhận
thấy có sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật của các nước về hủy
bỏ hợp đồng. Thật vậy, nghiên cứu quy định của Công ước viên 1980 về hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế cho thấy rằng, các quy định của Công ước về biện pháp
chế tài hủy bỏ hợp đồng cũng chỉ dừng lại ở việc quy định quyền hủy bỏ hợp đồng
của bên bị vi phạm hợp đồng. Theo quy định tại Điều 49 CISG, người mua có thể
tuyên bố hủy hợp đồng nếu việc người bán không thực hiện một nghĩa vụ nào đó
của họ phát sinh từ hợp đồng hay trường hợp không giao hàng, nếu người bán
không giao hàng trong thời hạn đã được người mua gia hạn thêm cho họ chiếu theo
Khoản 1 Điều 47 hoặc nếu người bán tuyên bố sẽ không giao hàng trong thời gian
được gia hạn. Cũng tương tự, Điều 64 CISG quy định về quyền hủy bỏ hợp đồng
của người bán.
Bộ nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế UNIDROIT 2004 cũng có
cách tiếp cận theo hướng quy định quyền được chấm dứt hợp đồng của một bên khi
có sự vi phạm hợp đồng. Cụ thể theo quy định tài Điều 7.3.1, mỗi bên có thể chấm
dứt hợp đồng khi bên kia không thực hiện nghĩa vụ của mình, và nghĩa vụ ấy là một
nghĩa vụ quan trọng.

8


Hợp đồng có thể bị hủy toàn bộ và cũng có thể hủy một phần. Chính vì vậy
cần thiết phải có sự phân biệt giữa hủy bỏ toàn bộ hợp đồng với hủy bỏ một phần
hợp đồng. “Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả
các nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng” (Khoản 2 Điều 312 Luật thương
mại 2005); “Hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ
hợp đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực” (Khoản 3 Điều 312
Luật thương mại 2005). Như vậy, việc phân loại các trường hợp hủy bỏ hợp đồng
không dựa trên các căn cứ của việc hủy bỏ mà chỉ nhằm mục đích xác định hậu quả
pháp lý của hợp đồng. Theo đó, hủy bỏ toàn bộ hợp đồng sẽ làm chấm dứt hiệu lực
của hợp đồng, còn trường hợp hủy bỏ một phần hợp đồng thì phần bị hủy bỏ chấm
dứt hiệu lực, các điều khoản còn lại của hợp đồng vẫn còn tồn tại, có hiệu lực. Qua
nghiên cứu không chỉ riêng Pháp luật hợp đồng Việt Nam mà Pháp luật của nhiều
nước khi quy định chế tài hủy bỏ hợp đồng đều tiếp cận theo hướng quy định quyền
được hủy bỏ hợp đồng của một bên khi thỏa mãn một số điều kiện nhất định chứ
không quy định khái niệm hủy bỏ hợp đồng.
Từ các quy định của pháp luật, từ những phân tích ở trên có thể thấy rằng, về
nguyên tắc pháp luật thừa nhận quyền được hủy bỏ hợp đồng của một bên khi có sự
vi phạm hợp đồng của bên kia, nói cụ thể hơn khi ký kết hợp đồng hai bên đã cam
kết với nhau thực hiện các thoả thuận trong hợp đồng theo điều khoản đã thoả
thuận, nếu bên kia vi phạm cam kết trong hợp đồng thì bên còn lại có quyền huỷ
hợp đồng sau khi đã thông báo báo cho đối tác biết.
Như vậy, tác giả đưa ra khái niệm chế tài hủy bỏ hợp đồng: Chế tài hủy bỏ
hợp đồng là một bên giao kết có quyền bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả
hoặc một phần các nghĩa vụ hợp đồng khi có sự vi phạm của bên kia.
1.1.2. So sánh chế tài hủy bỏ hợp đồng với các chế tài đơn phương chấm dứt
thực hiện hợp đồng và chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng
1.1.2.1. Với chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng
Theo Điều 423 và 428 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì Hủy bỏ hợp đồng và đơn
phương chấm dứt thực hiện hợp đồng là hai trong các trường hợp chấm dứt hợp

9


đồng Dân sự. Điều 422 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định chấm dứt hợp đồng:
“Hợp đồng chấm dứt trong trường hợp sau đây: 4. Hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn
phương chấm dứt thực hiện.”. Xét thấy, hai trường hợp này đều được quy định
trong cùng một khoản của Điều luật và có những điểm tương đồng, đôi khi gây ra
sự nhầm lẫn, vì vậy tác giả xin được ra bản so sánh giữa hai trường hợp chấm dứt
hợp đồng này.
Điểm giống nhau:
- Đơn phương chấm dứt hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng đều là trường hợp chấm
dứt hợp đồng được pháp luật quy định.
- Hậu quả của đơn phương chấm dứt hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng đều dẫn
đến việc chấm dứt việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết.
- Hợp đồng có thể bị chấm dứt bởi một bên chủ thể và bên chủ thể chấm dứt
hợp đồng có thể không phải bồi thường thiệt hại.
- Phải thông báo cho bên còn lại biết về việc chấm dứt hợp đồng.
Điểm khác nhau:
Đơn phương chấm dứt hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng đều được pháp luật Dân
sự quy định tại Bộ luật Dân sự 2005 và trong Bộ luật Dân sự 2015 hai trường hợp
trên vẫn được quy định một cách cụ thể, rõ ràng tại Điều 422 và Điều 428 Bộ luật
Dân sự 2015.
Như vậy, hủy bỏ hợp đồng Dân sự và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp
đồng Dân sự có những điểm khác biệt nhau nhất định nó được thể hiện rõ trong Bộ
luật Dân sự 2015, nhìn nhận cụ thể hơn thì hủy bỏ hợp đồng Dân sự là trường hợp
khi một bên vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thoả thuận hoặc
pháp luật có quy định thì bên còn lại có quyền xóa bỏ việc thực hiện hợp đồng và
yêu cầu bên vi phạm bồi thường thiệt hại. Tại Điều 423 Bộ luật Dân sự năm 2015
quy định, một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại
trong trường hợp: Bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa

10


thuận; Bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng; Trường hợp khác do luật
quy định. Vi phạm nghiêm trọng là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một
bên đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng.
Bên hủy bỏ hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc hủy bỏ, nếu
không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Đối với trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng:
Theo nhìn nhận tổng quan của tác giả là trường hợp mà các bên đã thoả thuận
với nhau hoặc pháp luật có quy định thì một bên có quyền xóa bỏ hợp đồng và yêu
cầu bên còn lại bồi thường thiệt hại. Cụ thể Điều 428 Bộ luật Dân sự 2015 quy
định: “Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải
bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng
hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Bên đơn phương chấm dứt
thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp
đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Khi hợp đồng bị
đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia
nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ
thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh
chấp. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ
đã thực hiện. Bên bị thiệt hại do hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp
đồng của bên kia được bồi thường. Trường hợp việc đơn phương chấm dứt thực
hiện hợp đồng không có căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều này thì bên đơn phương
chấm dứt thực hiện hợp đồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và phải thực
hiện trách nhiệm Dân sự theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan do
không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng.
Sự khác nhau căn bản giữa hủy bỏ hợp đồng Dân sự và đơn phương chấm dứt
thực hiện hợp đồng Dân sự thể hiện qua hai tiêu chí sau:
Thứ nhất, về điều kiện áp dụng: Hủy bỏ hợp đồng sẽ được áp dụng khi một
bên vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thoả thuận hoặc pháp luật

11


có quy định. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng được áp dụng nếu các bên
có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định, tức là không cần phải có sự vi phạm hợp
đồng hoặc vi phạm pháp luật.
Thứ hai,về hậu quả pháp lý: Hủy bỏ hợp đồng làm hợp đồng không có hiệu
lực từ thời điểm giao kết và các bên phải hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận, nếu
không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền.
Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng làm hợp đồng chấm dứt từ thời
điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện
nghĩa vụ. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán. Như đã
phân tích theo Bộ luật Dân sự hiện hành, khi hợp đồng không được thực hiện, bên
không được thực hiện có quyền hủy bỏ hợp đồng nếu điều đó đã được thỏa thuận
hoặc pháp luật có quy định. Trong thực tế rất nhiều hợp đồng không có điều khoản
cho phép một bên hủy bỏ hợp đồng khi bên kia có vi phạm. Trong phần chuyên biệt
về một số hợp đồng thông dụng, Bộ luật Dân sự hiện hành có quy định những
trường hợp được phép hủy bỏ hợp đồng do không được thực hiện. Song, những quy
phạm này không đầy đủ, một số vi phạm có thể dẫn đến hủy hợp đồng không được
quy định. Chúng ta không thể cho phép hủy bỏ hợp đồng vì đối với những vi phạm
hợp đồng này, việc hủy bỏ không có quy định của pháp luật.
Theo quy định Bộ luật Dân sự hiện hành chỉ có những quy định cho phép hủy
bỏ đối với những hợp đồng Dân sự có quy định về điều kiện hủy bỏ hợp đồng. Vậy,
đối với hợp đồng Dân sự không quy định điều khoản về hủy bỏ hợp đồng, chúng ta
cũng không có quy phạm cụ thể cho phép hủy bỏ hợp đồng khi bị vi phạm, và do đó
chúng ta không thể hủy những hợp đồng này vì, theo quy định tại Điều 425 Bộ luật
Dân sự 2005 nêu trên, một bên chỉ được hủy bỏ hợp đồng do bị vi phạm khi việc đó
được “pháp luật có quy định”. Chính vì vậy, tại Điều 423 Bộ luật Dân sự 2015 đã
bỏ cụm từ này đây là điểm mới tiến bộ hơn. Việc sửa đổi Điều luật này là cần thiết,
bởi vì chúng ta thấy cách điều chỉnh như trên của Bộ luật Dân sự 2005 tạo ra “lỗ
hổng hay điểm trống pháp lý” đối với một số trường hợp vi phạm hợp đồng, chúng

12


ta không có quy định cho phép bên bị vi phạm quyền hủy bỏ hợp đồng. Xin trích
một ví dụ để thấy được sự bất cập này của Bộ luật Dân sự 2005.
Ngày 05/12/2012 chị Lê Thị T làm giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất và
tài sản trên đất là nhà ở cấp 4 toạ lạc tại phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì, tỉnh
Phú Thọ cho anh Cao Văn S với giá là 500.000.000 đồng. Trong thời gian cùng
ngày chị T lại làm giấy uỷ quyền giao nhà và đất trên cho anh S. Căn cứ vào giấy ủy
quyền và theo lời khai của bà Lê Thị V (người làm chứng) và bà T thì bà T bán nhà
và đất nói trên với điều kiện là bà T ở lại nhà cho đến chết (bản thân bà T không có
con) và ông S phải chăm sóc bà T. Nhưng ông S không thực hiện nghĩa vụ đã cam
kết sau 01 năm vợ chồng ông S đã tự bán lại căn nhà trên cho vợ chồng ông D.
Trước sự vi phạm trên, bà T yêu cầu được hủy hợp đồng. Hợp đồng có tranh chấp
trên là hợp đồng mua bán nhà và đất với điều kiện là người bán ở lại nhà đến chết
và người mua phải nuôi người bán.
Người bán muốn hủy hợp đồng vì người mua đã không đảm bảo cho người
bán ở lại nhà đến chết. Việc vi phạm trên là nghiêm trọng và chúng ta nên cho phép
người bán hủy hợp đồng. Nhưng, trên cơ sở Điều khoản nào của Bộ luật Dân sự
chúng ta cho phép hủy hợp đồng? Phần điều chỉnh hợp đồng thông dụng không có
quy phạm cụ thể nào quy định rằng, đối với hợp đồng mua bán nhà và đất trên, bên
bán có quyền hủy hợp đồng bán nhà và đất khi người mua không thực hiện nghĩa vụ
cho người bán ở lại nhà đến chết.
Ví dụ trên cho thấy cách điều chỉnh của Bộ luật Dân sự năm 2005 về việc hủy
bỏ hợp đồng khi thực hiện có nhiều bất cập đặt ra cho các nhà làm luật đã sửa đổi
sang Bộ luật Dân sự năm 2015 để áp dụng pháp luật cho phù hợp hơn.
1.1.2.2. Với chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng
Tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc một bên tạm thời không thực hiện
nghĩa vụ trong hợp đồng. Khi hợp đồng trong thương mại bị tạm ngừng thực hiện
thì hợp đồng vẫn còn hiệu lực. Nội dung pháp lý về tạm ngừng thực hiện hợp đồng

13


được quy định tại Điều 308 và 309 Luật Thương mại năm 2005. Khi tạm ngừng,
hợp đồng vẫn còn có hiệu lực và sẽ tiếp tục được thực hiện.
Theo quy định tại Điều 308 Luật Thương mại năm 2005 thì tạm ngừng thực
hiện hợp đồng là việc một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng
thuộc một trong các trường hợp sau đây: Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã
thoả thuận là điều kiện để tạm ngừng thực hiện hợp đồng; Một bên vi phạm cơ bản
nghĩa vụ hợp đồng. Căn cứ vào quy định tại Điều 308 Luật Thương mại thì:
Quyền tạm ngừng thực hiện hợp đồng là quyền của một bên khi bên kia vi phạm
nghĩa vụ cơ bản của hợp đồng. Thực tiễn cho thấy, có nhiều tranh chấp giữa các
doanh nghiệp, các đối tác về vấn đề này, nhiều Tòa án lúng túng trong xét xử.
Pháp Luật Thương mại cho phép một bên có quyền tạm ngừng thực hiện hợp
đồng, tạm ngừng thanh toán khi một bên trong quan hệ hợp đồng vi phạm nghĩa
vụ cơ bản của hợp đồng.
Theo quy định tại Điều 308 Luật Thương mại năm 2005 về tạm ngừng thực
hiện hợp đồng, như sau: “Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều
294 của Luật này, tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc một bên tạm thời không
thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây: 1. Xảy
ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để tạm ngừng thực hiện
hợp đồng; 2. Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng”. Vi phạm cơ bản nghĩa
vụ hợp đồng được giải thích theo quy định tại Khoản 13 Điều 3 Luật Thương mại
2005 là: “Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên
kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng.”
Như vậy tùy theo tính chất mức độ của vi phạm và mục đích giao kết hợp
đồng của các bên để xác định vi phạm đó có phải là vi phạm nghĩa vụ cơ bản của
hợp đồng hay không? Ví dụ: Hợp đồng mà các bên giao kết là hợp đồng mua bán
hàng hóa thì việc bên giao hàng tiến hành giao hàng không đúng chất lượng như đã
cam kết trong hợp đồng hoặc giao hàng không đúng hạn thì cần xác định việc này
ảnh hưởng cho bên kia đến mức độ nào? Có làm cho họ không đạt được mục đích

14


giao kết hợp đồng ban đầu hay không. Trong trường hợp đối tác cần giao hàng gấp
để thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba chẳng hạn, việc giao hàng này làm cho đối tác
không thể thực hiện hợp đồng đã kí kết với bên thứ ba, và gây thiệt hại cho họ, làm
họ mất hợp đồng này, thì đây là trường hợp bên bị vi phạm có quyền tạm ngừng
thực hiện hợp đồng, áp dụng các biện pháp như tạm ngừng thanh toán cho bên kia.
Rõ ràng, hợp đồng là thỏa thuận giữa các bên làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền, nghĩa vụ nhằm đạt được lợi ích hợp pháp mà họ mong muốn khi giao kết.
Thực tế cho thấy lợi ích hợp pháp mong đợi thường không đạt được theo ý
muốn vì hợp đồng không được thực hiện như dự tính. Trước hoàn cảnh này, bên
không được thực hiện có thể tạm ngừng thực hiện hợp đồng và yêu cầu bên kia bồi
thường thiệt hại. So với chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng chế tài Huỷ bỏ là
việc bãi bỏ thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, các bên sẽ không phải thực hiện các nghĩa
vụ theo hợp đồng. Huỷ bỏ hợp đồng gồm huỷ bỏ toàn bộ và huỷ bỏ một phần. Hậu
quả của việc huỷ bỏ hợp đồng là các bên sẽ hoàn trả lại cho nhau những phần việc
đã thực hiện. Nếu là dịch vụ không thể trả lại được thì sẽ được trả bằng tiền.
Tạm ngừng thực hiện hợp đồng là một trong những chế tài có điểm giống với
chế tài hủy bỏ hợp đồng được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Cụ thể theo
quy định tại Khoản 2 Điều 411 Bộ luật Dân sự 2015: “Bên phải thực hiện nghĩa vụ
sau có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ đến hạn nếu bên thực hiện nghĩa vụ trước
chưa thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn”. Như vậy, có thể nói, cùng một tình
huống nhưng chúng lại được gọi khác nhau trong các văn bản pháp luật khác nhau.
Không những thế căn cứ pháp lý cũng được quy định một cách khác nhau. Chế tài
tạm ngừng và hủy bỏ hợp đồng thể hiện sự tự vệ và thái độ phản ứng trực tiếp của
bên bị vi phạm đối với hành vi vi phạm hợp đồng trong quan hệ hợp đồng.
1.2. Cơ sở pháp lý của việc hủy bỏ hợp đồng theo pháp luật Việt Nam
Theo khoản 1 Điều 423 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Một bên có
quyền huỷ bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại trong trường hợp sau
đây: a) Bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện huỷ bỏ mà các bên đã thoả thuận;

15


b) Bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng; c) Trường hợp khác do luật
quy định.”
Về cơ bản, quy định này tương đồng với quy định tại Điều 312 Luật Thương
mại 2005: “Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật
này, chế tài hủy bỏ hợp đồng được áp dụng trong các trường hợp sau đây: a) Xảy
ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng; b)
Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.”.
Quy định tại Điều 312 Luật Thương mại năm 2005 cho thấy một bên cần
phải căn cứ vào việc đã có hành vi vi phạm hợp đồng của bên kia thì mới có quyền
áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng. Trong thực tế hoạt động thương mại, có những
trường hợp sau khi đã giao kết hợp đồng và trước khi đến thời điểm thực hiện hợp
đồng, một bên đã có căn cứ chắc chắn để xác định bên kia không có khả năng thực
hiện hợp đồng đúng thời điểm đã thỏa thuận và điều này sẽ ảnh hưởng rất xấu đến
lợi ích của mình.
Ví dụ như tình huống sau: Theo hợp đồng ký kết ngày 01 tháng 6, A phải
cung cấp cho B một lượng hàng C vào ngày 30 tháng 6 và B sẽ xuất khẩu lượng
hàng này cho một công ty nước ngoài D trong vòng 5 ngày kế tiếp. Nhưng vào ngày
20 tháng 6, B được biết rằng A đã bán và giao toàn bộ lượng hàng C cho người
khác. Trong trường hợp này, pháp luật Việt Nam không có cơ sở pháp lý cho phép
B hủy bỏ hợp đồng với A để sớm đi tìm người bán khác mua hàng nhằm đáp ứng
hợp đồng xuất khẩu hàng hóa đã ký với công ty D, bởi lẽ hành vi vi phạm hợp đồng
của A là hành vi chưa xảy ra (chưa đến thời hạn thực hiện hợp đồng). Dù trên thực
tế A có thừa nhận và thông báo với B là mình không có khả năng thực hiện hợp
đồng đi nữa thì B vẫn phải đợi đến ngày 30 tháng 6 mới có thể áp dụng chế tài hủy
bỏ hợp đồng cho hợp đồng giữa B với A. Điều này sẽ khiến cho bên B phải chịu
hậu quả khi vi phạm hợp đồng với công ty D cũng như các hậu quả khác về mặt chi
phí cơ hội cũng như ảnh hưởng xấu đến quan hệ trong hoạt động kinh doanh,
thương mại của B.

16


Ở Anh, vấn đề vi phạm hợp đồng trước khi hết hạn thực hiện được án lệ điều
chỉnh từ ngay nửa đầu thế kỷ thứ 19. Ở Pháp, toà án cũng cho phép một bên huỷ
hợp đồng trước khi hết thời hạn thực hiện khi bên phải thực hiện cho biết sẽ không
thực hiện hợp đồng.
Khoản 1, Điều 72 của Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế quy định, “trước khi đến ngày thực hiện hợp đồng,
một bên có quyền tuyên bố hợp đồng bị huỷ bỏ nếu thấy rõ là bên kia sẽ vi phạm
nghiêm trọng hợp đồng” .[1]
Điều 7.3.3 Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế cũng
quy định, “một bên có quyền huỷ hợp đồng nếu, trước khi đến thời hạn thực hiện,
thấy rõ là bên kia sẽ vi phạm nghiêm trọng hợp đồng”.
Tương tự, theo Điều 9:304 Nguyên tắc châu Âu về hợp đồng, “nếu, ngay
trước ngày mà hợp đồng phải thực hiện, thấy rõ là một bên sẽ vi phạm nghiêm
trọng hợp đồng, bên kia có quyền huỷ hợp đồng”.
Trước năm 1999, ở Trung Quốc, vấn đề vi phạm hợp đồng trước thời hạn
thực hiện chỉ được đề cập trong Luật về hợp đồng kinh tế với nước ngoài; các văn
bản khác về hợp đồng như Luật về hợp đồng kinh tế hay Luật về chuyển giao công
nghệ hoàn toàn không đề cập đến vấn đề này. Với quyết tâm hoà nhập vào Tổ chức
thương mại quốc tế, năm 1999, Trung Quốc đã bãi bỏ các Luật trên và cho ra đời
Luật hợp đồng duy nhất. Trong Luật này, Trung Quốc thừa nhận quyền một bên
huỷ hợp đồng khi biết chắc rằng bên kia sẽ không thực hiện hợp đồng: Theo Điều
94, khoản 2,“hợp đồng có thể bị huỷ nếu, trước thời điểm thực hiện hợp đồng, một
bên cho thấy sẽ không thực hiện nghĩa vụ chính của hợp đồng”.

1

Khoản 1 Điều 72 Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp Quốc.

17


1.3. Mối liên hệ giữa chế tài Huỷ bỏ hợp đồng với các chế tài khác
1.3.1. Với chế tài bồi thường thiệt hại
Bồi thường thiệt hại là một trong những chế tài được sử dụng phổ biến khi có
sự vi phạm hợp đồng. Theo quy định tại Điều 13 và Điều 360 Bộ luật Dân sự năm
2015, bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi
vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. Các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại bao gồm: Có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại thực tế và
hành vi vi phạm hợp đồng phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. Để áp dụng
chế tài bồi thường thiệt hại, bên hủy bỏ hợp đồng phải chứng minh hành vi vi phạm
hợp đồng của bên kia đã gây ra thiệt hại cho mình và thiệt hại đó thỏa mãn các căn
cứ quy định tại Điều 419 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại không
phát sinh trong mọi trường hợp hủy bỏ hợp đồng. Có nghĩa là có những trường hợp,
hợp đồng bị hủy nhưng bên bị vi phạm không phải bồi thường thiệt hại. Bên vi
phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau đây: Xảy ra
trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận, xảy ra sự kiện bất khả
kháng, hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia và hành vi vi
phạm của một bên do thực hiện quyết định của Cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm
quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.
Như vậy, bên vi phạm hợp đồng sẽ không phải chịu trách nhiệm do việc
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của hợp đồng, nếu việc vi
phạm hợp đồng thuộc một trong các căn cứ nêu trên.
Theo lý thuyết, bản chất của hủy bỏ hợp đồng là hành vi đơn phương chấm
dứt quan hệ hợp đồng của một bên khi bên kia vi phạm hợp đồng. Do đó, việc hủy
bỏ hợp đồng thực chất chỉ giải phóng các bên khỏi những ràng buộc về nghĩa vụ hợp
đồng, mà chưa có sự ràng buộc trách nhiệm của bên vi phạm hợp đồng. Vi phạm hợp
đồng là nguyên nhân dẫn đến việc hủy bỏ hợp đồng, có thể làm phát sinh thiệt hại.

18


Chính vì thế, ngoài việc áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng, pháp luật hợp đồng còn cho
phép bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm bồi thường thiệt hại.
1.3.2. Với chế tài phạt vi phạm hợp đồng
Một trong những chế tài khác được áp dụng phổ biến khi có hành vi vi
phạm hợp đồng là phạt vi phạm hợp đồng. Phạt hợp đồng là hình thức chế tài
do vi phạm hợp đồng, theo đó các bên có thể thoả thuận về việc bên vi phạm
nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thiệt hại hoặc vừa phải
chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại. Trường hợp các bên có thoả
thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi
phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu
phạt vi phạm.
Chế tài phạt vi phạm hợp đồng có mục đích chủ yếu là trừng phạt, tác
động vào ý thức của các chủ thể hợp đồng, phòng ngừa vi phạm hợp đồng.
Với mục đích như vậy, phạt hợp đồng được áp dụng một cách phổ biến đối
với các vi phạm hợp đồng, tuy nhiên việc áp dụng chế tài này phải thuân theo
những điều kiện nhất định.
Vì tầm quan trọng của chế tài phạt vi phạm nên Bộ luật Dân sự năm 2015 đã
dành khá nhiều Điều, Khoản cho loại chế tài này cũng như mối quan hệ giữa chế tài
này với các chế tài khác, trong khi đó mối quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm với chế
tài hủy bỏ hợp đồng thì không được đề cập đến. Một câu hỏi có thể đặt ra là, khi đã
áp dụng chế tài hủy hợp đồng thì chế tài phạt vi phạm có được áp dụng không, nếu
trong hợp đồng có thỏa thuận phạt vi phạm.
Trên cơ sở quy định tại Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015 có thể hiểu
rằng, nếu các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm hợp đồng thì khi hợp đồng bị
chấm dứt do hành vi vi phạm hợp đồng của một bên, thì bên bị vi phạm vẫn
có quyền yêu cầu bên vi phạm trả tiền phạt theo như thỏa thuận của các bên.
Tuy nhiên, vì không quy định rõ nên cũng có quan điểm cho rằng, cũng như
chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, trong phần hậu quả pháp lý của việc

19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×