Tải bản đầy đủ

Thực trạng việc làm của sinh viên Đại học Nội vụ Hà Nội và những vấn đề đặt ra

LỜI CAM ĐOAN
Nhóm nghiên cứu xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Thực trạng việc làm
của sinh viên Khoa Hành chính học và những vấn đề đặt ra” thông tin, số liệu,
tài liệu là hoàn toàn chính xác. Nhóm nghiên cứu xin chịu trách nhiệm về các
nội dung trong đề tài đã nghiên cứu.
Nhóm nghiên cứu

1


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình tiến hành nghiên cứu đề tài tại trường Đại học Nội vụ Hà
Nội chúng tôi xin cảm ơn đến sự giúp đỡ nhiệt tình của các giảng viên, các bạn
sinh viên đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thu nhập thông tin, tài liệu liên
quan đến đề tài.
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Trương Quốc Việt
giảng viên khoa Hành chính học đã cho chúng tôi những kĩ năng, kinh nghiệm
để hoàn thành đề tài nghiên cứu này.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài do kiến thức còn hạn chế nên nhóm
nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót khi tìm hiểu, đánh giá và trình bày
về đề tài nghiên cứu. Rất mong nhận được sự thông cảm và góp ý của thầy (cô)

giảng viên để bài nghiên cứu của chúng tôi hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!

2


MỞ ĐẦU
1.

Lí do chọn đề tài
Việc làm sau khi tốt nghiệp luôn là vấn đề được quan tâm
không chỉ đối với bản thân sinh viên mà cả đối với gia đình, nhà trường
và xã hội. Có một việc làm đúng với ngành nghề đào tạo luôn là mơ ước
của hầu hết không chỉ đối với các sinh viên tốt nghiệp ra trường mà ngay
cả đối với các em còn ngồi trên ghế giảng đường đại học.
Trong thời gian gần đây, việc làm trở nên khó tìm do nhiều
nguyên nhân, trong đó có tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh có
nhiều khó khăn, nhu cầu tuyển dụng lao động bị thu hẹp. Đối với các cơ
quan, tổ chức nhà nước, nhu cầu tuyển dụng công chức, viên chức ngày
càng có yêu cầu cao hơn về chất lượng và có nơi thừa về số lượng. Sinh
viên tốt nghiệp trường tư và trường công đều có nguy cơ thất nghiệp cao.
Một nguyên nhân khác, việc có thêm nhiều cơ sở đào tạo (Trường cao
đẳng, đại học) ra đời dẫn đến số lượng sinh viên được đào tạo ở cùng các
ngành, chuyên ngành ngày càng nhiều, cung vượt cầu. Về chủ quan, việc
có được việc làm hay không, liên quan rất nhiều đến phẩm chất, năng lực,
trình độ, kỹ năng của người được đào tạo. Thực tế cho thấy, số lượng ứng
viên đăng ký dự tuyển hàng năm để tìm việc làm khá đông, song kết quả
số người đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng còn rất hạn chế.
Trước những thách thức nêu trên, đòi hỏi các cơ sở đào tạo và bản thân
người học (sinh viên) phải có cách nhìn nhận mới về vấn đề việc làm sau
khi tốt nghiệp ra trường.
Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 của Chính phủ đã
xác định mục tiêu đào tạo của giáo dục đại học là: “Đào tạo ra những con
người có năng lực sáng tạo, tư duy độc lập, trách nhiệm công dân, đạo
đức và kỹ năng nghề nghiệp, năng lực ngoại ngữ, kỷ luật lao động, tác
phong công nghiệp, năng lực tự tạo việc làm và khả năng thích ứng với
những biến động của thị trường lao động”.
Trên phạm vi cả nước theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ GDĐT năm 2018, cả nước chỉ có khoảng 200.000 sinh viên đại học ra trường
thất nghiệp, tỉ lệ việc làm của người có trình độ đại học là 95-97%. Và
con số này chủ yếu tập trung vào các trường thuộc lĩnh vực tự nhiên như:


Đại học Y Dược, Đại học Ngoại thương, Học viện Ngân hàng, Đại học
Kinh tế… Tỉ lệ này thấp hơn nhiều ở các trường Đại học KHXH&NV,
Đại học Luật, Học viện Hành chính Quốc gia….
Trước những vấn đề nóng bỏng về việc làm của sinh viên tốt
nghiệp ra trường hiện nay, sinh viên Khoa Hành chính học không tránh
khỏi lo toan suy nghĩ về việc làm sau khi mình ra trường.
3


Đa số (85%) sinh viên Mỹ đi làm trong khi học đại học. Tại
Châu Âu có 67% sinh viên Mỹ đi làm trong năm học. Tuy nhiên, ở Châu
Á con số này chỉ là 30% hay ít hơn. Lí do tại sao sinh viên Châu Á lại có
số sinh viên đi làm ít hơn là do bố mẹ không muốn con cái họ phân tâm
trong việc học hành. Vậy đối với Việt Nam nói chung và sinh viên Khoa
Hành chính học lí do sinh viên đi làm thêm là gì?
Hiện nay, đông đảo sinh viên nói chung đã nhận thức được
rằng có rất nhiều cách thức học khác nhau và ngày càng có nhiều sinh
viên chọn cách thức học ở thực tế. Đó là đi làm thêm. Việc làm thêm hiện
nay đã không còn là hiện tượng nhỏ lẻ mà đã trở thành một xu thế, gắn
chặt với đời sống học tập, sinh hoạt của sinh viên ngay khi vẫn còn ngồi
trên ghế giảng đường. Sinh viên đi làm thêm ngoài vì thu nhập, họ còn
mong muốn tích luỹ được nhiều kinh nghiệm hơn, học hỏi thực tế nhiều
hơn…Và sở dĩ việc làm thêm hiện nay đã trở thành một xu thế là vì đối
với sinh viên, đặc biệt khi sống trong xã hội cạnh tranh như hiện nay, kiến
thức xã hội và kiến thức thực tế ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tư duy
cũng như khả năng làm việc của họ sau tốt nghiệp.
Nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài “Thực trạng việc làm của
sinh viên Khoa Hành chính học và những vấn đề đặt ra” nhằm tìm hiểu
về xu hướng tìm việc làm của sinh viên đã tốt nghiệp và việc làm thêm
của sinh viên đang theo học tại Khoa Hành Chính học, Trường Đại học
Nội vụ Hà Nội. Qua đó, đưa ra thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân trong
vấn đề định hướng việc làm của sinh viên, đề ra giải pháp giúp sinh viên
tìm đúng việc, đúng ngành nghề.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Việc làm cho sinh viên sau khi ra trường là vấn đề rất được quan tâm. Bởi
lẽ, nó không chỉ liên quan đến cuộc sống của sinh viên mà còn liên quan đến quá
trình phát triển của xã hội. Do đó, vào mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, giải
quyết việc làm cho sinh viên có những đặc điểm khác nhau. Chính vì thế, việc
nghiên cứu vấn đề việc làm cho sinh viên được nhiều nhà khoa học và quản lý
trong và ngoài nước quan tâm.
* Tình hình nghiên cứu thế giới
1. J.M,Keynes (1936) Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ,
NXB Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
Theo Keynes, vấn đề quan trọng nhất, nguy hiểm nhất đối với chủ nghĩa
4


tư bản là khối lượng thất nghiệp và việc làm. Vì vậy, vị trí trung tâm trong lý
thuyết kinh tế của ông là "lý thuyết việc làm."Lý thuyết này đã mở ra một
chương mới trong tiến trình phát triển lý luận kinh tế, cả về chức năng tư tưởng
lẫn thực tiễn. Trong đó phải kể đến lý thuyết kinh tế vỹ mô, về hệ thống điều tiết
của nhà nước.
2. Athur Lewis (1952), “Lí thuyết về tạo việc làm bằng chuyển giao lao
động giữa hai khu vực của nên kinh tế”.
Tư tưởng cơ bản của lí thuyết này là chuyển số lao động dư thừa từ khu
vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp hiện đại do hệ thống tư bản nước
ngoài đầu tư vào các nước lạc hậu. Quá trình này sẽ tạo nên điều kiện cho nền
kinh tế phát triển. Bởi vì trong khu vực nông nghiệp, đất đai chật hẹp, lao động
lại quá dư thừa. Ngoài số lao động cần đủ cho sản xuất nông nghiệp, còn có lao
động thừa làm các ngành nghề lặt vặt, buồn bán nhỏ, phục vụ trong gia đình và
lao động phụ nữ. Số lao động dôi dư này không có việc làm.
* Tình hình nghiên cứu trong nước
1. Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung (1997),“Về chính sách giải
quyết việc làm ở Việt Nam”, Hà Nội, Nxb.Chính trị quốc gia.
Nghiên cứu về chính sách việc làm của Việt Nam trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Công trình đã mang đến cho người đọc những kiến
thức bổ ích về chính sách giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và
sinh sinh viên sau khi tốt nghiệp nói riêng.
2. Lê Thị Diễm (2015), “Chính sách tạo việc làm cho sinh viên sau tốt
nghiệp tại Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ Quản lý Kinh tế, Trường Đại học Kinh tếĐại học Quốc gia Hà Nội.
Đề tài đánh giá được thực trạng việc làm, chính sách tạo việc làm cho sinh
viên sau tốt nghiệp và đề xuất giải pháp về chính sách tạo việc làm cho sinh viên
trên địa bàn Hà Nội.
3. Hà Văn Lâm (2017) Khảo sát thực trạng việc làm của sinh viên tốt
nghiệp ngành quản trị nhân lực, Trường đại học Nội vụ Hà Nội, Đề tài nghiên
cứu khoa học.
5


Đề tài nghiên cứu cơ sở lí luận của việc làm, sinh viên, vai trò của việc
làm đối với sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường. Khảo sát, phân tích, đánh giá
thực trạng việc làm của sinh viên tốt nghiệp ngành Quản trị nhân lực trường Đại
học Nội vụ Hà Nội sau khi tốt nghiệp.
Các công trình nghiên cứu kể trên đã đưa ra đầy đủ về mặt lý luận, thực
tiễn của tình trạng việc làm, thất nghiệp và chính sách giải quyết việc làm, để từ
đó cung cấp những tiền đề khoa học quan trọng làm cơ sở để xây dựng các giải
pháp giải quyết vấn đề việc làm cho sinh viên ở Việt Nam nói chung.
Các công trình trong nước đã cho thấy những quan niệm cơ bản, đến định
hướng phát triển việc làm và giải quyết việc làm cho sinh viên trong thời kỳ
mới. Những quan niệm, định hướng đó đã giúp cho nhóm tác giả đề tài có những
cơ sở khoa học, lý luận cũng như thực tiễn khi triển khai nghiên cứu chính sách
việc làm cho sinh viên được thuận lợi hơn.
Tuy nhiên các công trình chỉ đánh giá chung được thực trạng việc làm của
lao động nói chung và sinh viên sau tốt nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
nói riêng mà chưa đi sâu vào một ngành hay chuyên ngành cụ thể nào đó.
Những công trình nghiên cứu trên đây đã cho những kiến thức vô cùng
quý giá để nhóm tác giả tham khảo, kế thừa trong quá trình thực hiện đề tài
“Thực trạng việc làm của sinh viên Khoa Hành chính học và những vấn đề đặt
ra”.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài khảo sát và đánh giá thực trạng việc làm và những vấn đề đặt ra của
sinh viên Khoa Hành chính học, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tìm hiểu về những lí luận cơ bản về vấn đề việc làm; khảo sát và
đánh giá về thực trạng việc làm của sinh viên ngành Quản lí nhà nước, Khoa
Hành chính học, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, đồng thời đề xuất một số giải
pháp để sinh viên có định hướng khi tốt nghiệp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
6


- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng việc làm và những vấn đề đặt ra của
sinh viên Khoa Hành chính học, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về không gian: Khoa Hành chính học, Trường Đại học Nội vụ
Hà Nội.
+ Phạm vi về thời gian: Năm 2017-2018.
+ Phạm vi về nội dung: Đề tài tìm hiểu về việc làm của sinh viên sau khi
tốt nghiệp và việc làm thêm của sinh viên ngành Quản lí nhà nước, Khoa Hành
chính học, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
5. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận:
- Phương pháp duy vật biện chứng
- Phương pháp duy vật lịch sử
* Phương pháp cụ thể:
- Phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng nhằm
phân tích thực trạng việc làm của sinh viên.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Phương pháp này sử
dụng với mục đích thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có
sẵn, liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, các công trình
nghiên cứu, các bài báo, các thống kê,... Liên quan đến xu hướng tìm việc làm
của sinh viên
+ Phương pháp phân tích: phân tích thành những mặt, những bộ
phận, những mối quan hệ theo lịch sử thời gian của xu hướng tìm việc làm của
sinh viên qua từng giai đoạn để nhận thức, phát hiện và khai thác các khía cạnh
khác nhau, từ đó chọn lọc những thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên
cứu.
+ Phương pháp tổng hợp: Sẽ cho phép chung đúc những đặc điểm
chung định hướng việc làm của sinh viên để đề xuất giải pháp đảm bảo sự thống
nhất, hiệu quả.
- Phương pháp phỏng vấn:
7


+ Phương pháp đánh giá sâu sắc xu hướng tìm việc làm của sinh
viên là phỏng vấn trực tiếp các nhà quản lý trong tuyển dụng và sinh viên trong
quá trình tìm việc làm. Nội dung là đưa ra các câu hỏi cho người đối thoại để thu
thập thông tin. Chọn người đối thoại phải đảm bảo được tính lịch sử và toàn
diện. Việc phỏng vấn có thể tiến hành bằng nhiều hình thức khác nhau.
- Phương pháp điều tra:
+ Điều tra là phương pháp dùng những câu hỏi (hoặc bài toán) nhất
loạt đặt ra cho một số lớn người nhằm thu được số những ý kiến chủ quan của
họ về vấn đề việc làm.
+ Điều tra là phương pháp khảo sát một nhóm đối tượng trên một
diện rộng nhằm phát hiện những quy luật phân bố, trình độ phát triển, những đặc
điểm về mặt định tính và định lượng của các đối tượng cần nghiên cứu. Các tài
liệu điều tra được là những thông tin quan trọng về đối tượng cần cho quá trình
nghiên cứu và là căn cứ quan trọng để đề xuất những giải pháp khoa học hay
giải pháp thực tiễn.
- Phương pháp xử lý thông tin:
+ Sử dụng phần mềm máy tính chuyên dụng để sử lý tài liệu.
+ Sử dụng công cụ tra cứu tài liệu trên Internet.
+ Sử dụng công cụ tra cứu thư viện trực tiếp.
6. Đóng góp của đề tài
- Đánh giá đúng thực tiễn xu hướng tìm việc của sinh viên, từ đó góp
phần giải quyết vấn đề thất nghiệp, làm trái ngành nghề.
- Kết quả nghiên cứu còn có thể làm tài liệu tham khảo cho những nhà
quản lý và những độc giả quan tâm.
7. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN
Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN KHOA HÀNH
CHÍNH HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỊNH HƯỚNG VIỆC LÀM CHO
8


SINH VIÊN KHOA HÀNH CHÍNH HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ
NỘI

9


Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm về lao động và việc làm
Để hiểu rõ khái niệm và bản chất của việc làm, ta liên hệ đến phạm trù lao
động vì giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay
đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu con người. Thực chất là sự vận
động của sức lao động trong quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao
động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để
sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con người [7].
ILO (International Labour Organization) đưa ra khái niệm “ Việc làm là
những hoạt động lao động được trả công bằng tiền hoặc hiện vật”.
ILO còn có nhiều công ước và khuyến nghị liên quan đến vấn đề việc
làm, trong đó có 1 số công ước quan trọng như công ước số 47 (1935), Công
ước số 88 (1948), Công ước 122 (1964)…
Trên cơ sở Hiến pháp, Bộ luật Lao động Việt Nam 2012 đã quy định:
“ Việc làm là hoạt động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” (
Chương II, Khoản 1, Điều 9, Bộ luật lao động) [9].
Như vậy, dưới góc độ pháp lý, việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố:
- Là hoạt động lao động: thể hiện sự tác động của sức lao động vào tư liệu
sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ. Yếu tố lao động trong việc làm phải
có tính hệ thống, tính thường xuyên và tính nghề nghiệp. Vì vậy người có việc
làm thông thường phải là những người thể hiện các hoạt động lao động trong
phạm vi nghề nhất định và trong thời gian tương đối ổn định.
- Tạo ra thu nhập: Là khoản thu nhập trực tiếp và khả năng tạo ra thu
nhập.
- Hoạt động này phải hợp pháp: hoạt động lao động tạo ra thu nhập
nhưng trái pháp luật, không được pháp luật thừa nhận thì không được coi là việc
làm. Tùy theo điều kiện kinh tế-xã hội, tập quán, quan niệm về đạo đức của từng
10


nước mà pháp luật có sự quy định khác nhau trong việc xác định tính hợp pháp
của các hoạt động lao động được coi là việc làm. Đây là dấu hiệu thể hiện đặc
trưng tính pháp lí của việc làm.
Hoạt động kiếm sống là hoạt động quan trong nhất của thế giới nói chung
và con người nói riêng. Hoạt động kiếm sống của con người được gọi chung là
việc làm.
Việc làm trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu của
bản thân nên tiến hành các hoạt động nhất định. Họ có thể tham gia công việc
nào đó để được trả công hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo
việc làm như dùng các tư liệu sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận hoặc tự
làm những công việc cho hộ gia đình mình.
1.1.2. Quan niệm về người có việc làm và người thất nghiệp, việc làm tạm
thời
Theo quan niệm của thế giới thì: Người có việc làm là những người làm
một việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật
hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì
lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật [5].
Khái niệm này còn được đưa ra tại Hội nghị Quốc tế lần thứ 13 của các
nhà thống kê lao động ILO. Còn người thất nghiệp là những người không có
việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ được trả lại làm việc
[5].
Theo Giáo trình Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam của PTS.
Nguyễn Hữu Dũng- Trần Hữu Trung thì: Người có việc làm là người làm việc
trong những lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị phát luật
ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình đồng thời góp
một phần cho xã hội [5].
- Việc làm tạm thời là việc làm được tạo ra trong thời gian người lao động
đang tìm một công việc thích hợp với chuyên môn và sở trường của họ [5].
- Một số quan niệm về thất nghiệp [7]
+ Tổ chức Lao động quốc tế: Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số
11


người trong lực lượng lao động nhưng không có việc làm.
+ Tại Pháp: Thất nghiệp là không có việc làm, có điều kiện làm việc, đang
đi tìm việc làm
+ Thái Lan: hất nghiệp là không có việc làm, muốn làm việc, có năng lực
làm việc
+ Trung Quốc: Thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động có khả năng
lao động, chưa có việc làm, đang đi tìm việc, đăng kí tại cơ quan giải quyết việc
làm.
+ Việt Nam: Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động có khả
năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm.
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng việc làm của sinh viên
1.2.1. Các yếu tố chủ quan
* Năng lực bản thân
Năng lực của cá nhân gồm chỉ số thông minh IQ, chỉ số sáng tạo CQ, chỉ
số cảm xúc EQ hay những khả năng cụ thể khác như sắc giác, chú ý (sức tập
trung, sức phân phối…), quan sát, tư duy không gian, trí nhớ sơ đồ, tưởng tượng
sáng tạo, ngôn ngữ, khả năng học tập, khả năng và tố chất của cá nhân. Khả
năng này là khả năng triển vọng chứ không phải là điểm số thực tế học tập.
Năng khiếu của mỗi người là khác nhau và cùng bộc lộ một cách khác nhau.
Đây có thể coi là yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình chọn trường,
lựa chọn nghề, nếu không có năng lực sẽ không trụ vững được lâu dài.
* Đam mê và sở thích
Đam mê là cảm giác mong muốn, khát khao có được ai đó hay làm được
gì đó, bị hấp dẫn bởi một sự vật, sự việc. Sở thích hay còn gọi là thú vui, thú tiêu
khiển là những hoạt động thường xuyên hoặc theo thói quen để đem lại cho con
người niềm vui, sự phấn khởi trong khoảng thời gian thư giãn, sở thích cũng chỉ
về sự hứng thú, thái độ ham thích đối với một đối tượng nhất định. Nếu không
dựa rên đam mê, sẽ không tạo được động lực làm việc. Ngược lại, nếu thực sự
yêu thích ngành nghề, công việc đó thì sự sáng tạo luôn hiện diện và sẽ có các
phương pháp khắc phục khó khăn.
12


* Sức khỏe, ngoại hình
Sức khỏe và cũng là yếu tố quan trọng để lựa chọn ngành nghề phù hợp.
Có những công việc cần tiêu hao nhiều sức lực như xây dựng, giao thông vận
tải,..hay có những ngành nghề cần yêu cầu về ngoại hình: Phi công, quân đội,
công an,..
1.2.2. Các yếu tố khách quan
* Gia đình
Gia đình là một hình thức tổ chức đời sống cộng đồng của con người, một
thiết chế văn hóa – xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ
sở của quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục
…giữa các thành viên.
Điều đầu tiên ảnh hưởng đến quyết định chọn nơi làm việc của không ít
sinh viên đó là gia đình. Đây là vấn đề có thể nói là làm cho sinh viên phân vân
nhiều nhất khi chọn nghề. Gia đình có thể là “khuôn mẫu”cũng có thể là nhà tư
vấn cho những dự định của sinh viên.
* Thị trường lao động
Đây là yếu tố luôn biến đổi không ngừng và ảnh hưởng trực tiếp đến sự
lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên. Trong một giai đoạn nào đó sẽ có một số
ngành nghề thu hút rất nhiều năng lực, nhưng sau một thời gian sẽ dẫn đến
nguồn nhân lực quá lớn và dẫn đến thất nghiệp.
* Yếu tố về ngành học và nội dung học
Sinh viên ra trường có định hướng việc làm như thế nào một phần dựa
vào ngành học và nội dung đã học khi trường đại học. Đa số sinh viên học ngành
học nào thì mong muốn ra trường sẽ làm đúng ngành, đúng các kiến kiến thức
đã học đó, trừ một số trường hợp làm trái ngành vì đam mê hoặc lí do khác.
* Yếu tố về hoạt động ngoại khóa, hoạt động Đoàn
Các hoạt động ngoại khóa của trường và các hoạt động của Đoàn Thanh
niên cũng ảnh hưởng đến quá trình tìm việc làm của sinh viên. Các sinh viên có
tài năng nổi bật về hoạt động Đoàn, năng khiếu văn hóa, văn nghệ tốt đều có
định hướng việc làm tại các đơn vị Đoàn thể, công ty văn hóa, trung tâm nghệ
13


thuật,…
1.3. Vai trò, ý nghĩa của việc làm
1.3.1. Đối với kinh tế -xã hội
- Về mặt kinh tế, việc làm luôn gắn liền với vấn đề sản xuất. Hiệu quả của
việc giải quyết tốt vấn đề việc làm cũng chính là hiệu quả của sản xuất. Kinh tế
phát triển sẽ tạo điều kiện để giải quyết tốt vấn đề việc làm và ngược lại, nếu
không giải quyết tốt vấn đề việc làm và thất nghiệp thì đó sẽ là những yếu tố
kìm hãm sự tăng trưởng của kinh tế.
- Về mặt xã hội, bảo đảm việc làm là chính sách xã hội có hiệu quả to lớn
trong vấn đề phòng, chống, hạn chế các tiêu cực xã hội, giữ vững được kỉ
cương, nề nếp xã hội. Thất việc và việc làm không đầy đủ, thu nhập thấp là tiền
đề của sự đói nghèo, thậm chí là điểm xuất phát của tệ nạn xã hội. Các tệ nãn
của xã hội như tội phạm, ma túy, mại dâm, có nguyên nhân cốt lõi là việc làm và
thất nghiệp.
1.3.2. Đối với chính trị - pháp lí
- Hậu quả của việc thất nghiệp, thiếu việc làm không những ảnh hưởng tới
kinh tế- xã hội mà còn đe dọa lớn đối với an ninh vã sự ổn định của mỗi quốc
gia.. Chính vì vậy ở bất kì quốc gia nào, việc làm đã, đang và luôn là vấn đề gay
cấn nhạy cảm đối với từng cá nhân, từng gia đình đồng thời cũng là vấn đề xã
hội lâu dài, vừa cấp bách nếu không được giải quyết tốt có thể trở thành vấn đề
chính trị.
- Còn trên bình diện pháp lý, việc làm là phạm trù thuộc quyền cơ bản của
con người, đóng vai trò là cơ sở hình thành, duy trì và là nội dung của quan hệ
lao động. Khi việc làm không còn tồn tại, quan hệ lao động cũng theo đó mà
triệt tiêu, không còn nội dung, không còn chủ thể.
1.3.3. Đối với quốc gia - quốc tế
- Đối với mỗi quốc gia, chính sách việc làm và giải quyết việc làm là bộ
phận có vị trí quan trọng đặc biệt trong hệ thống các chính sách xã hội nói riêng
và trong tổng thể chính sách phát triển kinh tế xã hội nói chung. Chính sách xã
hội của nhà nước ở hầu hết các quốc gia đều tập trung vào một số các lĩnh vực
14


như thị trường lao động, bảo đàm việc làm, bảo hiểm xã hội… Chính sách việc
làm là chính sách cơ bản nhất của quốc gia, góp phần bảo đảm an toàn, ổn định
và phát triển xã hội
- Tuy nhiên trong thời đại ngày nay, vấn đề lao động việc làm không chỉ
dừng lại ở phạm vi quốc gia mà nó còn có tính toàn cầu hóa, tính quốc tế sâu
săc. Vấn đề hợp tác, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng được đặt ra
đồng thời với việc chấp nhận lao động ở nước khác đến làm việc tại nước mình.
Điều này giúp cân bằng lao động. Lao động từ nước kém phát triển sang làm
việc ở nước phát triển, từ nước dư thừa lao động sang nước thiếu lao động.
Trong thị trường đó, cạnh tranh không chỉ còn là vấn đề giữa những người lao
động mà còn trở thành vấn đề giữa các quốc gia. Từ đó vấn đề lao động việc làm
còn được điều chỉnh hoặc chịu sự ảnh hưởng chi phối của các công ước quốc tế
về lao động. Các nước dù muốn hay không cũng phải áp dụng hoặc tiếp cận với
những “luật chơi chung” và “sân chơi chung” càng ngày càng khó khăn và quy
mô hơn.
1.3.4. Đối với sinh viên và nhà trường
Việc làm là cơ hội để sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường, đem mọi kiến
thức của mình phục vụ cho xã hội, là tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo và
năng lực của mỗi sinh viên, đồng thời tạo thu nhập cho bản thân và gia đình.
Đôi khi số lượng sinh viên có việc làm của mỗi ngành học, mỗi khoa
trung tâm trong cùng một trường là khác nhau. Tỉ lệ này cao hay không thể hiện
phần nào chương trình đào tạo của ngành học có đáp ứng được yêu cầu của công
việc, nhu cầu của thị trường lao động đang ở hướng nào để từ đó đưa ra các điều
chỉnh thích hợp giảm tỉ lệ sinh viên thất nghiệp, trái ngành, tăng sức cạnh tranh
cho các ngành, các khoa.
Giải quyết tốt việc làm cho sinh viên cao đẳng, đại học nói riêng và người
lao động nói chung là cơ sở để hoàn thiện, triển khai các các chính sách xã hội
như phát triển giáo dục, y tế, văn hóa... góp phần ổn định và phát triển xã hội.
Tiểu kết Chương 1
Chương 1 đã làm sáng tỏ những vấn đề lí luận liên quan tới các khái niệm,
15


vai trò, ý nghĩa của việc làm và yếu tố ảnh hướng đến định hướng việc làm của
sinh viên. Đồng thời đưa ra căn cứ pháp lí cụ thể của pháp luật về việc làm là cơ
sở dẫn dắt, chứng minh nội dung thực trạng của chương sau.

16


Chương 2
THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN KHOA HÀNH CHÍNH HỌC,
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
2.1. Khái quát về Khoa Hành Chính học và ngành Quản lí nhà nước
-Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Khoa Hành chính học được thành lập theo Quyết định số 212/QĐ-ĐHNV
ngày 24 tháng 4 năm 2012 của Trường Đại học Nội vụ. [Phụ lục 3]
Là đơn vị chuyên môn thuộc Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, Khoa Hành
chính học có chức năng tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục, đào tạo trình độ
đại học, sau đại học; tổ chức hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ gắn với chuyên
môn của Khoa; thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế; khoa học và công nghệ phù
hợp với mục tiêu, phương hướng phát triển của Trường.
* Vị trí và chức năng
Khoa Hành chính học là đơn vị chuyên môn thuộc Trường Đại học Nội vụ
Hà Nội, có chức năng tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục, đào tạo trình độ đại
học, sau đại học; tổ chức hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ gắn với chuyên môn
của Khoa; thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế; khoa học và công nghệ phù hợp
với mục tiêu, phương hướng phát triển của Trường.
* Ngành đào tạo
- Ngành Quản lý nhà nước (Bậc Đại học/ Đại học liên thông)
- Ngành Hành chính học (Bậc Cao đẳng/ Cao đẳng liên thông)
* Cơ cấu tổ chức và nhân sự Khoa Hành chính học
- Trưởng Khoa và các Phó Trưởng khoa.
- Hội đồng Khoa.
- Các Bộ môn thuộc Khoa.
+ Tổ bộ môn: Lý luận và Nghiệp vụ Hành chính.
+ Tổ bộ môn: Quản lý Nhà nước về ngành, lĩnh vực.
17


- Văn phòng Khoa

2.1.2. Khái quát về ngành Quản lý nhà nước-Khoa Hành chính học
- Tên ngành đào tạo: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
- Tên ngành tiếng Anh: State Management
- Trình độ đào tạo: Đại học
- Mã ngành đào tạo: D310205
- Học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học và tương đương.
- Thời gian đào tạo: 04 năm
2.1.2.1. Mục tiêu đào tạo
Chương trình đào tạo ngành Quản lý Nhà nước cung cấp cho sinh viên
những kiến thức cơ bản về quản lý, kiến thức chuyên sâu về quản lý hành chính
nhà nước và có khả năng thực hiện được các công việc quản lý hành chính thuộc
khu vực công hoặc khu vực tư.
2.1.2.2. Chuẩn đầu ra
Các yêu cầu về nội dung, kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành, khả
năng nhận thức và giải quyết vấn đề trong quản lý nhà nước, yêu cầu về thái độ
và vị trí công việc mà người học có thể đảm nhận sau khi tốt nghiệp chương
trình đào tạo đại học Quản lý nhà nước tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội - được
quy định như sau:
2.1.2.3. Yêu cầu về kiến thức, kĩ năng, thái độ
- Kiến thức
+ Kiến thức cơ bản: Các kiến thức cơ bản về lý luận chính trị, tâm lý học,
xã hội học, nghiên cứu khoa học, kinh tế học, kỹ năng về giáo dục thể chất và
giáo dục quốc phòng….
+ Kiến thức cơ sở ngành: Về khoa học quản lý, khoa học pháp lý, khoa
học tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, nghiệp vụ hành chính
+ Kiến thức chuyên ngành: Quản lý nhân sự trong khu vực công, thiết kế
và phân tích tổ chức bộ máy nhà nước, hoạch định và phân tích chính sách công,
quản lý về kinh tế, tài chính công, ngành quản lý xã hội.
18


+ Kiến thức nghiệp vụ: Về tin học văn phòng, tiếng anh, nghiệp vụ hành
chính, kỹ năng mềm để thực hiện các công việc hành chính
* Kỹ năng
- Kỹ năng cứng: Nhân sự, soạn thảo, tổ chức công sở, quản lý, lưu trữ hồ
sơ, tài liệu cơ quan, phân tích, đánh giá, các hoạt động quản lý nhà nước trong
các ngành lĩnh vực, khả năng nghiên cứu khoa học hành chính, khoa học quản
lý,…
- Kỹ năng mềm: Phân tích, giải quyết vấn đề, làm việc nhóm, lập kế
hoạch, quản lý thời gian, giao tiếp, tự học, tự đào tạo, sử dụng thành thạo các
phần mềm Microsoft, sử dụng tốt tiếng Anh
* Thái độ: Thái độ đúng đắn của một người công chức trong khi thi hành
công vụ.
2.1.2.4. Vị trí người học sau khi tốt nghiệp
- Sinh viên tốt nghiệp ngành Quản lý nhà nước có thể đảm nhiệm công
việc ở vị trí quản lý, chuyên viên hành chính các cơ quan thuộc khu vực công và
khu vực tư.
- Nghiên cứu viên về khoa học Hành chính, khoa học Quản lý ở các cơ sở
nghiên cứu, các cơ quan tham mưu hoạch định chiến lược, chính sánh của Đảng
và Nhà nước.
- Làm công tác giảng dạy về Khoa học Hành chính, khoa học Quản lý tại
các cơ sở giáo dục.
2.1.2.5. Đặc điểm sinh viên Khoa Hành chính học
Không nghệ thuật như sinh viên Khoa Xã hội, không thông thạo về pascal
như sinh viên Trung tâm tin học, sinh viên khoa Hành chính học có đặc điểm
riêng biệt đối với các Khoa, trung tâm khác.
Sinh viên ngành Quản lý nhà nước đến từ nhiều nơi trên mọi miền tổ
quốc, đặc biệt là khu vực Đông Bắc, Tây Bắc và ở các tỉnh miền Trung nước ta.
Khác với các khoa, trung tâm khác, Khoa Hành chính có số lượng sinh viên là
con em dân tộc ít người nhiều nhất trường, mang những nét đặc trưng khác
nhau của các dân tộc Việt Nam: Tày, Nùng, Dao, Mông, Thái, Sán Chí, Lào,
19


Kinh….với những thói quen, phương pháp tiếp cận đã được hình thành không
đồng nhất, đa dạng; ý thức học tập, nhận thức hiểu biết phương thức đào tạo đại
học khác nhau. Sinh viên có tính nghiêm túc, tự giác cao nhưng lại mềm dẻo,
hòa đồng và cũng có những tài năng riêng biệt nổi trội. Từ các đặc điểm trên đã
tác động trực tiếp đến quá trình đào tạo, quản lý trong môi trường đào tạo yêu
cầu chất lượng cao; đào tạo theo tín chỉ của Khoa Hành chính học
Hàng năm, sinh viên tích cực nghiên cứu khoa học dưới sự định hướng
của giảng viên trong Khoa. Sinh viên trong khoa đã bảo vệ thành công 03 đề tài
khoa học loại tốt.
Sinh viên Khoa Hành chính học tích cực tham gia các hoạt động Đoàn,
Hội do Đoàn trường và Nhà trường tổ chức. Liên chi Đoàn Khoa đạt 02 giải nhì
Hội thi tuyên chuyền sách năm 2014, 2013; tham gia và đạt giải nhì cuộc thi
“Sinh viên Nội vụ tài năng và tri thức”năm 2014; giải ba Nữ sinh thanh lịch năm
2011, Giải ba bóng đá, bóng chuyền; giải nhất Hội thi “Xếp sách nghệ thuật
2018”, giải C “Thanh niên với cải cách hành chính và văn hóa công sở 2018”,
….
Số lượng sinh viên cơ sở Hà Nội hiện nay:
Khóa
Số lượng
Khóa 2013-2017
201 sinh viên
Khóa 2014-2018
235 sinh viên
Khóa 2015-2019
291 sinh viên
Khóa 2016-2020
185 sinh viên
Khóa 2017-2021
80 sinh viên
Khóa 2018-2022
111 sinh viên
(Nguồn: Khoa Hành chính học)
Tính tới thời điểm hiện tại ngành Quản lý Nhà nước, trường Đại học Nội
vụ đã có các khóa cao đẳng, đại học tốt nghiệp. Hiện nay khoa đã và đang đào
tạo những khóa tiếp theo của ngành Quản lý nhà nước và các chuyên ngành mới.
2.2. Thực trạng việc làm của sinh viên đã tốt nghiệp và việc làm thêm
của sinh viên đang theo học tại của Khoa Hành chính học, Trường Đại học
Nội vụ Hà Nội
- Đối tượng khảo sát:
20


+ Sinh viên trình độ đại học Khoa Hành chính học đã tốt nghiệp khóa
2013-2017 và khóa 2014-2018
+ Sinh viên trình độ đại học đang theo học tại Khoa Hành chính học
- Để tìm hiểu thông tin việc làm của sinh viên đã tốt nghiệp ngành quản
lý nhà nước, nhóm đề tài đã áp dụng câu hỏi trong phiếu khảo sát về việc làm
của sinh viên ngành Quản lí nhà nước sau tốt nghiệp (phụ lục), qua biểu mẫu
gmail (tổng số phiếu phát ra là 400 phiếu, Thu lại 329 phiếu) và phỏng vấn. Số
phản hổi là 359 sinh viên
- Thông tin việc làm thêm của sinh viên đang học tại Khoa Hành chính
học được thu thập qua phiếu khảo sát về việc làm thêm của sinh viên Khoa Hành
chính học (phụ lục), phỏng vấn và qua biểu mẫu gmail trên tổng số 500 số phiếu
phát ra, số phản hổi là 411.
2.2.1. Định hướng chọn ngành của sinh viên Khoa Hành chính học
Hành chính học là một khoa học nghiên cứu các quy luật quản lý có hiệu
quả những công việc xã hội của các tổ chức hành chính nhà nước.
Từ năm 2015, Khoa Hành chính học đào tạo bậc đại học, ngành quản lý
nhà nước. Năm 2018 đào tạo them chuyên ngành quản lí nhà nước về kinh tế và
quản lí nhà nước về tài chính công
Chuyên ngành quản lý nhà nước là chuyên ngành mà sinh viên sẽ được
đào tạo các kiến thức để phục vụ cho hoạt động quản lí nhà nước sau này.
Vấn đề định hướng cho sinh viên ngày nay là một việc làm quan trọng.
Nhưng trên thực tế, định hướng nghề nghiệp hiện nay lại theo xu thế của thời
đại, không ai thích học những ngành nghề nông nghiệp, họ đổ xô vào kinh tế
hay quản trị kinh doanh. Họ cũng chẳng chú tâm vào những ngành nghề sản
xuất. Những năm trước 2016 một thời gian đầu, giới trẻ chạy theo ngành sư
phạm, ngân hàng, kế toán. Sau đó, các ngành luật, nhân sự, văn phòng và hiện
nay là một phong trào theo ngành công an, quân đội được các phụ huynh cùng
học sinh ưa chuộng.

21


LÍ DO HỌC NGÀNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

Nguyên nhân
khác; 36.00%

Thích; 21.00%

Định hướng
gia đình;
43.00%

Thích

Định hướng gia đình

Nguyên nhân khác

Biểu đồ lí do chọn ngành quản lý nhà nước (Nguồn: Phiếu đều tra khảo
sát thực trạng việc làm của sinh viên đã tốt nghiệp ngành Quản lí Nhà nước,
Khoa Hành chính học)

22


Qua biểu đồ, chúng tôi nhận thấy một tỉ lệ lớn là 43% số sinh viên được
khảo sát chọn học ngành quản lí nhà nước là do định hướng của gia đình. Sinh
viên vào nhà nước thường bị ảnh hưởng bởi tư tưởng của bố mẹ. Nhiều phụ
huynh muốn tìm cho con một công việc ổn định để họ yên tâm về con cái, thậm
chí làm nghề “cha truyền con nối”. Quản lý nhà nước là áp dụng hiến pháp và
pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Cán bộ, công chức là những người
thực thi pháp luật. Tuy nhiên với quan niệm lạc hậu, từ một số mặt trái trong
quản lý nhà nước người dân cho rằng “cửa quan là cửa quyền”, “một người làm
quan cả họ được nhờ”. Bởi vậy, có nhiều bậc phụ huynh vẫn hướng con mình
vào làm việc trong cơ quan nhà nước
Ngược lại, nhiều người muốn con cái phải tự lập và có khả năng trụ vững
trong xã hội. Nếu bố mẹ luôn ôm ấp con, lo lắng cho con mọi thứ kể cả công
việc, nghề nghiệp, thậm chí quyết định hộ con sẽ khiến các bạn trẻ không năng
động và khó thích ứng được với sự thay đổi.
Mỗi nhà mỗi cảnh, lại có nhà, cha mẹ kỳ vọng vào con viết tiếp ước mơ
còn dang dở thời trẻ của mình, muốn con thành đạt hơn mình. Một bà mẹ kiên
quyết muốn con phải vào bằng được ngôi trường này, học ngành kia để sau này
ra trường làm công việc ấy – những gì trước kia phụ huynh ấp ủ nhưng không
thực hiện được. Con cái bỗng trở thành người viết tiếp ước mơ cho cha mẹ. Tâm
lý chung của cha mẹ khi định hướng con chọn ngành, nghề tương lai thương
mong con chọn ngành dễ xin việc, đáp ứng xu thế xã hội
21% là vì sở thích, có nhiều sinh viên vào học ngành Quản lí nhà nước là
vì tự bản thân mong muốn được học ngành này để sau được làm trong một cơ
quan nhà nước, là một người công chức. Hoặc đôi khi vì thần tượng một cán bộ,
một vị trí nào đó, mong muốn được hoàn thành ước mơ của mình. Tỉ lệ còn lại
do nguyên nhân khác như trượt nguyện vọng 1 nên phải học ngành này, hay đôi
khi nhiều sinh viên có hoàn cảnh không đủ điều kiện kinh tế để theo học tại
trường có học phí cao,…
Hầu hết các điều tra xã hội học đối với sinh viên về nội dung “Có hay
không có định hướng ngành học trước khi bước vào cổng trường đại học?” đều
23


cho ra kết quả: Sinh viên cơ bản định hướng ngành học theo năng lực, nghĩa là
lựa chọn ngành học theo điểm học tập gắn với điểm đầu vào. Hay nói cách khác,
sinh viên cho rằng quan trọng trước tiên là phải vào được một trường đại học để
có tấm bằng đại học. Nhiều sinh viên của khoa cho biết quyết định vào trường,
vào Khoa bởi nhiều lí do, ngoài niềm yêu thích thì còn do cha mẹ định hướng
cho, do yêu thích một trường khác nhưng khả năng không đủ điều kiện hoặc chỉ
là kiếm một tấm bằng để sau có cơ hội thì xin việc. Bên cạnh những sinh viên
không xác định được mình là ai, mình đang ở đâu, vị trí nào, có một số nhiều
những sinh viên lại khá rành mạch, rõ ràng, hiểu rõ mình muốn gì và thực lực
của mình đến đâu. Sau khi tốt nghiệp, những người này có xu hướng tìm những
công việc phù hợp với năng lực bản thân, mức lương thích đáng phù hợp với
“chất xám” mà họ bỏ ra. Họ cũng tiếp tục trau dồi những kĩ năng mềm để có thể
thể hiện bản thân tốt hơn. Sinh viên trong số này, khi tốt nghiệp sẽ là những cử
nhân sáng giá cho bộ phận nhân sự của tổ chức. Họ tiếp xúc va chạm những
công việc phù hợp với ngành nghề họ theo học, và xa hơn là những tương lai dự
định họ mong muốn.
Định hướng nghề nghiệp của sinh viên chưa phù hợp với tình hình phát
triển của đất nước. Nước ta đang trong giai đoạn chuyển đổi công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Nước ta vẫn là một nước có nền nông nghiệp chiếm tỉ lệ khá lớn,
tuy nhiên lại rất ít sinh viên học các ngành về nông, lâm, ngư nghiệp mà hiện tại
đổ xô vào kinh tế, quản trị kinh doanh chứ không vào sản xuất.
Sinh viên từ lúc vào trường đại học đa phần không phải ai cũng có dự
định, mục tiêu của riêng mình, có thể họ hiếu hiểu biết về ngành mình học dẫn
đến việc chán học, muốn bỏ ngang giữa chừng. Việc này rất xấu nếu không chịu
thay đổi cho đến năm cuối của đại học. Khi ra trường những sinh viên vẫn còn
những khuyết điểm lại càng khó tìm việc, bên cạnh đó cũng dẫn đến những việc
làm trái ngành, cầm bằng ngành này nhưng việc làm là của ngành khác, điều đó
là không thể tránh khỏi trong số phần trăm sinh viên ra trường. Đặc biệt đối với
ngành Quản lí nhà nước, sinh viên có thể là những cán bộ, công chức tương lai,
nếu định hướng không rõ ràng sẽ ảnh hưởng đến tổ chức nhà nước và đất nước
24


sau này.
2.2.2. Thực trạng việc làm của sinh viên đã tốt nghiệp ngành Quản lý
nhà nước - Khoa Hành chính học
TÌNH TRẠNG VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN KHOA HÀNH CHÍNH HỌC
20

339
Đang đi làm

Chưa có việc làm

Biểu đồ tình trạng việc làm của sinh viên khoa hành chính học (Nguồn:
Phiếu đều tra khảo sát thực trạng việc làm của sinh viên đã tốt nghiệp ngành
Quản lí Nhà nước, Khoa Hành chính học)
Qua số liệu khảo sát trên 359 sinh viên thì số sinh viên đang đi làm là 339
sinh viên, chưa có việc làm là 20 sinh viên (trong đó có 12 sinh viên đang học
nâng cao, 8 sinh viên thất nghiệp tạm thời).
2.2.2.1. Thời gian và cách thức tìm việc làm của sinh viên
Trung bình sinh viên sau tốt nghiệp tìm được việc làm trước 6 tháng, với
các con đường:

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×