Tải bản đầy đủ

CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNGNGHIỆP DƯỚI GÓC NHÌN CỦA PHÁP LUẬTCẠNH TRANH

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM

TRẦN THỊ THU HÀ

CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP DƯỚI GÓC NHÌN CỦA PHÁP LUẬT
CẠNH TRANH

TP. HỒ CHÍ MINH NĂM 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM

TRẦN THỊ THU HÀ

CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP DƯỚI GÓC NHÌN CỦA PHÁP LUẬT
CẠNH TRANH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT HỌC

Chuyên ngành Luật kinh doanh – Mã số

Người hướng dẫn khoa học:GVC – ThS Lữ Lâm Uyên

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019


LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn đến Giảng viên trực tiếp hướng dẫn cô Lữ Lâm Uyên,
người đã chỉ dẫn, giúp đỡ cũng như hỗ trợ em hoàn thành khóa luận này.
Em xin gửi lời cảm ơn tới cô Nguyễn Ngọc Duy Mỹ đã gợi ý cho em tài liệu,
Luận án tham khảo để thực hiện bài viết.
Em xin chân Thành cảm ơn tới Qúy thầy, cô Khoa Luật - Trường Đại học Kinh
Tế Thành phố Hồ Chí Minh đã cống hiến hết mình cho việc giảng dạy, đào tạo
kiến thức lý thuyết vững chắc cho em cũng như toàn thể sinh viên Khoa Luật có
một cái nền trước khi bước vào nghề Luật.
Em rất mong nhận được sự nhận xét từ Qúy thầy cô để đề tài ngày càng được
hoàn thiện.
Trân trọng.
Xin chân thành cảm ơn!


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. Công ước Paris về Bảo hộ Sở hữu công nghiệp: Công ước Paris;
2. Hiệp định về Các khía cạnh liên quan tới Thương mại của Quyền Sở hữu
Trí tuệ: Hiệp định TRIPS;
3. Tổ chức Thương mại thế giới: WTO;
4. Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2009: Luật Sở hữu trí tuệ;
5. Luật Cạnh tranh 2004: Luật Cạnh tranh;
6. IPR: Industrial Property Rights, quyền sở hữu công nghiệp.


LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời kỳ chủ yếu sản xuất nông nghiệp thuần, con người tạo ra giá trị
sản lượng bằng chính sức lao động chân tay và phục vụ cho chính lợi ích của
gia đình, đến lúc con người sáng tạo ra máy móc hiện đại nhằm tiết kiệm sức
lao động và tạo ra nhiều giá trị sản lượng hơn là một trong những yếu tố nhen
nhóm cho ngành công nghiệp phát triển, sau đó Cách mạng công nghiệp lần
thứ nhất xảy ra vào thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX ở châu Âu và Mỹ với phát


minh tài năng của các nhà khoa học và điều kiện tự nhiên phù hợp với sản xuất
công nghiệp gắn liền với bản chất tư sản của giai cấp quý tộc làm cho công
nghiệp phát triển mạnh mẽ. Ngày nay, hầu hết các sản phẩm dịch vụ đều do trí
tuệ con người tạo ra mang lại giá trị cao hơn rất nhiều so với thời kỳ nông
nghiệp. Do vậy giá trị sáng tạo về công nghiệp và thương mại ngày càng được
xem trọng. Nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong qua trình xác
lập và sử dụng thành quả sáng tạo trí tuệ cũng như bảo vệ quyền và lợi ích
chính đáng của các chủ thể khi tham gia, chế định pháp luật về quyền sở hữu trí
tuệ công nghiệp ra đời và hiện nay quyền sở hữu trí tuệ được xem như là một
trong các yếu tố xác định năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp và của
một quốc gia.
Trong bối cảnh xu thế hội nhập kinh tế thế giới ngày càng phát triển, Việt
Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới – WTO chính thức vào năm 2007
là một dấu mốc lớn trong việc tạo cơ hội phát triển kinh tế đất nước, tiếp cận
thị trường của các nước thành viên với mức thuế ưu đãi, và cũng là thách thức
vì thị trường thương mại thế giới có nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển
mạnh nên cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt vì lợi ích riêng. Hiệp định TRIPS là
một trong những Hiệp định quan trọng của Tổ chức Thương mại thế giới về
quyền sở hữu trí tuệ, nhằm đưa ra các tiêu chuẩn bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và
các biện pháp bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ hiệu quả.
Theo Công ước Paris, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế,
nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, mẫu hữu ích, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý
(chỉ dẫn nguồn gốc tên gọi và xuất xứ) và chống cạnh tranh không lành mạnh.
Cùng với việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thì vấn đề mà các quốc gia
quan tâm là chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, bởi lẽ trong nền kinh tế thị
trường sản xuất hàng hóa mạnh mẽ, hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu tăng
cao. Khi mà các quốc gia đang phát triển như Việt Nam phải đối mặt với việc
tụ hậu về lĩnh vực công nghệ với thế giới, để giải quyết vấn đề này có phải việc
chuyển giao công nghệ trong nước hay nhập khẩu công nghệ từ nước ngoài là
quan trọng? Vingroup được coi là tập đoàn lớn và thành công tại Việt Nam hoạt
động hầu hết các lĩnh vực từ nông nghiệp đến công nghiệp, vào năm 2015 tập
đoàn Vingroup đã ký kết hợp tác với đối tác hàng đầu thế giới về cung ứng


công nghệ cao cho sản xuất nông nghiệp là Nhật Bản và Isreal, không chỉ nhằm
phát triển mục tiêu kinh tế mà còn hướng tới sức khỏe cộng đồng trong tương
lai. Nếu công nghệ là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ bảo hộ, việc chuyển
giao công nghệ phải được thực hiện cùng với việc chuyển giao quyền sở hữu trí
tuệ theo Luật sở hữu trí tuệ.
Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp có điều kiện bắt buộc và không bắt
buộc. Như vậy ở mặt tiêu cực tổ chức cá nhân có thể từ chối chuyển giao quyền
sở hữu công nghiệp trong trường hợp pháp luật quy định không bắt buộc, nhằm
mục đích tạo dựng và duy trì vị trí độc quyền trên thị trường liên quan. Hoặc tổ
chức cá nhân mua lại sáng chế, kiểu dáng công nghiệp của chủ thể khác nhưng
không sử dụng hoặc tiêu hủy nhằm ngăn chặn khả năng thừa kế thành tựu khoa
học, công nghệ cho thế hệ sau làm hạn chế sự phát triển kỹ thuật, công nghệ
làm thiệt hại cho khách hàng và giảm khả năng phát triển về năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế. Nghị định 74/2014/NĐ-CP quy định về xử lý vi phạm
pháp luật cạnh tranh có quy định chế tài đối với hành vi nêu trên. Nhưng đối
với hành vi từ chối chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp thay vì pháp luật
quy định thì được nó xem xét bởi Tòa án, Cục sở hữu trí tuệ và Cơ quan quản
lý cạnh tranh. Vì vậy, cơ quan quản lý nhà nước phải ngày càng thắt chặt chính
sách pháp lý và linh hoạt trong việc xem xét hành vi vi phạm của các chủ thể
trong môi trường cạnh tranh. Việc xem xét hành vi từ chối chuyển giao quyền
sở hữu công nghiệp dựa trên yếu tố nào để xác định đó là hành vi vi phạm
pháp luật cạnh tranh là chưa rõ ràng. Vì lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài
“Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp dưới góc nhìn pháp luật cạnh
tranh” để làm khóa luận tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu
Tại Việt Nam, có một số nghiên cứu liên quan đến chuyển giao quyền sở
hữu công nghiệp như: Hoàng Lan Phương (2011), “Pháp luật Việt Nam về
thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ”, Luận văn Thạc sĩ Đại học Quốc gia Hà
Nội; Nguyễn Thanh Tùng (2013), “Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu theo
pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Đại học Quốc gia Hà Nội; Trần Khánh
Ly (2015), “Chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng quyền sở hữu công
nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Đại học Quốc
gia Hà Nội. Những nghiên cứu này chủ yếu phân tích và tìm hiểu thực trạng
một khía cạnh của chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp và chưa có một cái
nhìn tổng quan về chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, cũng vì lý do khách
quan là tại Việt Nam tài liệu để nghiên cứu về chuyển giao quyền sở hữu công
nghiệp là không nhiều.
Tại nước ngoài, về quyền sở hữu công nghiệp, đặc biệt là chuyển giao
công nghệ được giới chuyên gia về kinh tế và luật pháp quan tâm và nghiên
cứu, như: Keith E. Maskus (1998), The role of intellectual property right in


encouraging foreign direct investment and technology transfer, Professor of
Economics, University of Colorado, Boulder; Alireza Naghavi (2005),
Strategic Intellectual Property Rights Policy and North-South Technology
Transfer, University College Dublin and CERAS.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu sẽ tập trung vào Luật cạnh tranh và chuyển giao quyền sở
hữu công nghiệp theo Hiệp định TRIPS với hai mục đích chính. Thứ nhất, tìm
hiểu quy định về luật cạnh tranh và chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp
theo quy định của pháp luật Việt Nam và Hiệp định TRIPS. Thứ hai, chính là
hệ quả của mục đích đầu tiên, tìm ra các mặt tích cực cũng như hạn chế và khó
khăn của việc áp dụng Luật cạnh tranh về việc chuyển giao quyền sở hữu công
nghiệp.
4. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện bài viết tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương
pháp khác nhau, được sử dụng nhiều nhất là phương pháp nghiên cứu lý thuyết,
có sự kết hợp giữa phương pháp phân tích và tổng hợp, dẫn chứng điều luật,
tổng hợp các bài viết và công trình nghiên cứu khoa học của các nhà nghiên
cứu cùng các tài liệu liên quan để hoàn thành luận văn.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu những lý luận chung về đặc điểm và khái niệm của chuyển giao
quyền sở hữu công nghiệp liên hệ với pháp luật cạnh tranh và những quy định
trong hiệp ước quốc tế đa phương mà nước Việt Nam là thành viên về việc điều
chỉnh vấn đề chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, tìm hiểu nguyên do và
thực trạng của việc vận dụng Hiệp định TRIPS để giải quyết vấn đề chuyển
giao quyền sở hữu công nghiệp liên quan đến chuyển giao chống cạnh tranh.
5. Kết cấu đề tài
Dựa trên cơ sở nghiên cứu chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp dưới
góc nhìn pháp luật cạnh tranh, ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo, bố cục bài viết gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao quyền sở hữu công
nghiệp và Luật cạnh tranh Việt Nam
Chương 2: Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, quy tắc cạnh tranh theo
TRIPS, hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ và Châu Âu
Chương 3: Thực tiễn chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp và phương hướng
hoàn thiện

Chương 1


TỔNG QUAN VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ, CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ
HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM
Nền kinh tế ở thời hiện đại luôn gắn với sự phát triển công nghệ một chóng
mặt, nhờ vào sự sáng tạo không ngừng của con người đã đặt ra thách thức cho
pháp luật và chính sách của chính phủ. Luật cạnh tranh và Luật sở hữu trí tuệ là
hai lĩnh vực pháp luật có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh thị trường và
thúc đẩy hiệu quả kinh tế, phúc lợi người tiêu dùng, cạnh tranh đổi mới và
chuyển giao công nghệ.1 Do đó hai hệ thống pháp luật này có mối liên hệ chặt
chẽ với nhau, có thể giao thoa với nhau, có thể xung đột với nhau và cũng có
thể đồng thời bổ sung cho nhau. Sự giao thoa giữa pháp luật sở hữu trí tuệ và
pháp luật cạnh tranh thường phát sinh từ các nhóm quan hệ: (i) thiết lập quyền
sở hữu trí tuệ (trong tiếng Anh là “acquisition of IPRs”) như thông qua hợp
nhất các pháp nhân; (ii) thỏa thuận chuyển giao công nghệ; (iii) thỏa thuận hợp
tác giữa các doanh nghiệp; (iv) từ chối chuyển giao quyền sử dụng đối tượng
sở hữu trí tuệ; và (v) chấm dứt quyền sở hữu trí tuệ.2
Luật và chính sách cạnh tranh là phương thức can thiệp của chính phủ vào nền
kinh tế. Luật cạnh tranh loại bỏ các rào cản gia nhập thị trường của các doanh
nghiệp vừa và nhỏ bằng cách ngăn chặn sự độc quyền của nhóm doanh nghiệp
đang có vai trò thống trị; nghiêm cấm các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh. Với vai trò thiết lập môi trường cạnh tranh và kinh doanh bình đẳng, tự
do; bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Mặc dù vậy, nhưng tính cạnh tranh của nền kinh tế cũng bị ảnh hưởng bởi
nhiều tác động khác nên để đánh giá hiệu quả khả năng của một nền kinh tế cần
xem xét lĩnh vực quan trọng khác trong nền kinh tế và tác động của chúng đối
với thị trường cạnh tranh.
Mặt khác, quyền sở hữu trí tuệ là sản phẩm sáng tạo của trí tuệ con người, đã
được công nhận quyền sở hữu tài sản hữu hình tư nhân như bằng sáng chế, kiểu
dáng công nghiệp, nhãn hiệu,... Nhằm chống lại các hành vi sao chép trộm cắp
bất hợp pháp, cùng với đó quyền sở hữu trí tuệ thúc đẩy sự sáng tạo làm nên
sản phẩm khác biệt, tăng điều kiện chọn lựa của người tiêu dùng từ đó tăng
cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Còn đối với các doanh
nghiệp không có sản phẩm sáng tạo, họ có thể nhận chuyển nhượng quyền sở
hữu công nghiệp từ các doanh nghiệp khác dưới sức ép của thị trường cạnh
tranh và tốn chi phí cho việc phát triển độc lập không hiệu quả.
1.1 Lý luận chung về quyền sở hữu công nghiệp
1.1.1 Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp
1 Nguyen Thanh Tu (2009), Competton law, Technology Transfer and the TRIPS Agreement: Implicatons for
Developing Countries, doctoral dissertation, Lund University, Sweden, tr. Xiii.
2 Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ (2013), Bàn về cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ trong
thương mại quốc tế
groupID=5&IDNews=237&tieude=ChiTietHoiDap.aspx&chID=7> truy cập ngày 10/09/2019.


Sở hữu trí tuệ, hiểu một cách tổng quát có nghĩa là kết quả sáng tạo vô
hình nhưng được ứng dụng vào việc tạo ra các sản phẩm hữu hình. Đó là những
sản phẩm sáng tạo khoa học, công nghệ, văn học và nghệ thuật. Thuật ngữ sở
hữu trí tuệ được sử dụng khi tri thức phát triển cùng với cuộc sống công nghệ
ngày càng đổi mới và sáng tạo.
Công ước thành lập tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) tại Stockholm
năm 1967 sửa đổi năm 1979 đã định nghĩa quyền sở hữu trí tuệ bao gồm các
quyền liên quan tới:
(i)
(ii)
(iii)
(iv)
(v)
(vi)

Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học;
Buổi biểu diễn của các nghệ sĩ biểu diễn, bản ghi âm và chương trình
phát sóng
Phát minh trong tất cả lĩnh vực nỗ lực của con người;
Những khám phá khoa học;
Kiểu dáng công nghiệp;
Nhãn hiệu, nhãn hiệu dịch vụ, và tên thương mại và chỉ định;

(vii) Bảo vệ chống cạnh tranh không lành mạnh;
Và tất cả các quyền khác do hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghiệp,
khoa học, văn học hoặc nghệ thuật.3
Các lĩnh vực thuộc điểm (i) và (ii) là nhánh quyền tác giả, trong đó điểm (ii)
được gọi là quyền liên quan, các điểm còn lại là nhánh quyền sở hữu công
nghiệp.
Từ việc chia nhánh như trên ta có thể hiểu quyền sở hữu trí tuệ bao gồm quyền
sở hữu công nghiệp và quyền tác giả.
Quyền tác giả đề cập đến kết quả sáng tạo của con người mang giá trị tinh thần
trên lĩnh vực sáng tác nghệ thuật, văn học được gọi là tác phẩm. Khi tác phẩm
được công bố phổ biến sử dụng rộng rãi. Để đảm bảo quyền lợi cho người sáng
tạo ra tác phẩm và chống lại các hành vi sao chép không xin phép, pháp luật đã
quy định điều chỉnh quan hệ xã hội về đối tượng của quyền tác giả, bao gồm:
tác phẩm văn học, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, nhiếp ảnh, kiến trúc, phát
thanh, truyền hình, chương trình máy tính,... Tuy nhiên, luật chỉ bảo hộ hình
thức của tác phẩm chứ không bảo hộ nội dung tác phẩm.
Mặt khác, kết quả sáng tạo của con người trên lĩnh vực khoa học, công nghệ và
thương mại như kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, tên thương mại thuộc đối
tượng sở hữu công nghiệp. Trên cơ sở phát sinh quyền và nghĩa vụ của chủ thể
sáng tạo ra sản phẩm trí tuệ, của các chủ thể khác trong việc chuyển giao sử
3 Điều 2 Công ước thành lập tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới năm 1967 và được sửa đổi năm 1979.


dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp cũng là đối tượng điều chỉnh của pháp
luật về quyền sở hữu công nghiệp.
Trên thực tế quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói
riêng phần lớn đều chịu ảnh hưởng của sự phát triển khoa học và công nghệ.
Các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia về quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt
Hiệp định TRIPS là thỏa thuận đa phương toàn diện nhất về sở hữu trí tuệ cho
đến nay4, đã bổ sung những đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp:
chương trình máy tính, bộ sưu tập dữ liệu, chỉ dẫn địa lý 5. Nội hàm khái niệm
quyền sở hữu công nghiệp vẫn đang ngày càng được mở rộng bao trùm các đối
tượng mới cùng với sự phát triển của công nghiệp. Phân loại theo nhóm đối
tượng quyền sở hữu công nghiệp, có hai nhóm đối tượng đó là nhóm các thành
quả sáng tạo khoa học bao gồm sáng chế, chương trình máy tính, thiết kế bố trí
mạch tích hợp bán dẫn, kiểu dáng công nghiệp; nhóm các dấu hiệu đặc trưng
để phân biệt bao gồm chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu, tên thương mại, những đối
tượng này hàm chứa yếu tố sáng tạo không mấy nổi trội nhưng được sở hữu trí
tuệ bảo hộ vì chứa đựng thông tin lưu hành trên thị trường nhằm bảo vệ người
tiêu dùng và khuyến khích cạnh tranh lành mạnh.
Quyền sở hữu công nghiệp được thừa nhận và bảo hộ những thành quả sáng tạo
của con người, có thể nói quyền sở hữu công nghiệp hiện nay có thể là một
quyền tài sản lớn đối với chủ sở hữu.
Dưới góc độ pháp lý, quyền sở hữu công nghiệp được hiểu là chế định pháp
luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xác lập quyền sở
hữu, sử dụng và định đoạt các đối tượng sở hữu công nghiệp mà pháp luật bảo
vệ.
Theo quy định của Bộ Luật dân sự 1995: “quyền sở hữu công nghiệp là quyền
sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng
công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, quyền sử dụng đối với xuất xứ hàng hóa và
quyền sở hữu đối với các đối tượng khác do pháp luật quy định.” 6 Luật dân sự
2005 cũng chỉ liệt kê các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp chứ không đưa
ra định nghĩa quyền sở hữu công nghiệp.
Với tư cách là luật chuyên ngành điều chỉnh sở hữu trí tuệ, Luật sở hữu trí tuệ
quy định phù hợp với sự tiến hóa của nền công nghiệp vì vậy các đối tượng
quyền sở hữu công nghiệp cũng được mở rộng hơn so với Luật dân sự trước
đây. “Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng
chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu,
4 Word trade oganization, Overview: the TRIPS Agreement,
, truy cập ngày 10/09/2019.
5 Điều 10 và Điều 22 Hiệp định TRIPS ký ngày 15/04/1994.
6 Điều 780 Bộ Luật dân sự 1995.


tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở
hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.”7
Nhìn chung, pháp luật Việt Nam quy định về quyền sở hữu công nghiệp cơ bản
phù hợp với yêu cầu của Hiệp định TRIPS và các điều ước quốc tế mà Việt
Nam là thành viên.
1.1.2 Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp
Ở Bộ luật dân sự 1995 và 2005 chỉ đề cập đến chuyển giao quyền sử dụng các
đối tượng quyền sở hữu công nghiệp và quy định còn nhiều thiếu sót. Nhằm
đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh và thúc đẩy hoạt động sáng tạo nên
quy định về chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ ngày càng được quy định chặt
chẽ. Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ: chuyển giao quyền sở hữu công
nghiệp gồm chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp và chuyển quyền sử
dụng đối tượng sở hữu công nghiệp.
1.1.3 Phân biệt chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp và chuyển
quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
Về bản chất chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp là việc mang hình
thức mua bán, giao dịch một lần, các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp
được chuyển từ người nhượng quyền (bên bán) sang người được nhận quyền
(bên mua) với giá thỏa thuận. Còn chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu
công nghiệp là Li-xăng, bên cấp li-xăng vẫn tiếp tục quyền sở hữu công nghiệp
đối với đối tượng được chuyển quyền sử dụng, chỉ cho phép bên nhận li-xăng
được sử dụng một hoặc nhiều quyền sở hữu công nghiệp. Riêng đối với việc
chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp có trường hợp riêng
đó là bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế.
1.2 Các vấn đề pháp luật cạnh tranh liên quan đến chuyển giao quyền sở
hữu công nghiệp
1.2.1 Từ góc độ pháp luật sở hữu trí tuệ
Ưu điểm của công nghệ, bí mật thương mại, nhãn hiệu,.. hay quyền sở hữu
công nghiệp so với các nguồn lực kinh tế khác như lao động, vốn đầu tư là có
thể chuyển giao từ doanh nghiệp trong nước lẫn nước ngoài. Đối với các công
ty có danh tiếng về chất lượng, công nghệ hoặc sản phẩm sẽ có nhiều lựa chọn
trong việc quyết mở rộng ở thị trường nước ngoài cụ thể, cấp li-xăng hoặc
chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp. Khi khả năng tiếp thu, phát triển và đổi
mới công nghệ ngày càng tinh vi thì quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền
sở hữu công nghệp nói riêng ngày càng được thắt chặt để vừa thu hút công
nghệ tiên tiến đầu tư và khuyến khích đổi mới sáng tạo. 8 Mỗi đối tượng của
quyền sở hữu công nghiệp được quy định khác nhau về quyền chuyển giao sở
hữu, sử dụng phù hợp với tính năng cũng như vai trò của nó trong nền kinh tế
công nghiệp.
7 Khoản 4 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ.
8 Keith E. Maskus (1998), The role of intellectual property rights in encouraging foreign direct investment and
technology transfer, Professor of Economics, University of Colorado, Boulder.


1.2.1.1 Nhóm các thành quả sáng tạo khoa học bao gồm sáng chế, chương
trình máy tính, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, kiểu dáng công
nghiệp
Bản chất của sáng chế là những phát minh khoa học công nghệ có thể áp
dụng vào công nghiệp. Sáng chế được bảo hộ mang lại nhiều ý nghĩa đối với
chủ thể có bằng độc quyền sáng chế như: vị thế mạnh trên thi trường; lợi nhuận
đầu tư cao; cơ hội bán hay li-xăng sáng chế; nâng cao sức mạnh đàm phán. 9
Bảo hộ bằng sáng chế độc quyền không chỉ ngăn cấm người khác khai thác
thương mại sáng chế như là sản xuất, sử dụng, chào bán, bán hoặc nhập khẩu
sáng chế mà còn khuyến khích sự sáng tạo và nâng cao trình độ công nghệ của
quốc gia. Nhưng đối với những chủ thể kinh doanh không thể tự sáng tạo ra
sáng chế cho riêng mình thì họ vẫn có thể nhận chuyển nhượng sáng chế từ chủ
thể khác theo quy định của pháp luật.
Nhìn một cách khách quan thì chủ thể nhận chuyển nhượng sáng chế không chỉ
phục vụ cho việc sản xuất mà còn là cơ hội để họ học hỏi và tự tạo ra công
nghệ cho chính họ. Đối với chủ thể chuyển nhượng họ có thể thu khoản lợi
nhuận từ việc chuyển nhượng sáng chế. Có thể thấy chuyển nhượng sáng chế
mang lại lợi ích cho bên chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng và tạo cơ
hội cho công nghệ phát triển.
Tuy nhiên, để ngăn chặn trường hợp chủ thể có bằng sáng chế được bảo hộ lạm
dụng độc quyền gây ảnh hưởng môi trường cạnh tranh lành mạnh, pháp luật
quy định quyền sử dụng sáng chế có thể bị bắt buộc chuyển giao trong một số
trường hợp theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà không cần
được sự đồng ý của người nắm độc quyền sử dụng sáng chế:
“a) Việc sử dụng sáng chế nhằm mục đích công cộng, phi thương mại, phục vụ
quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân hoặc
đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của xã hội;
b) Người nắm độc quyền sử dụng sáng chế không thực hiện nghĩa vụ sử dụng
sáng chế quy định tại khoản 1 Điều 136 và khoản 5 Điều 142 của Luật này sau
khi kết thúc bốn năm kể từ ngày nộp đơn đăng ký sáng chế và kết thúc ba năm
kể từ ngày cấp Bằng độc quyền sáng chế;
c) Người có nhu cầu sử dụng sáng chế không đạt được thỏa thuận với người
nắm độc quyền sáng chế về việc ký kết hợp đồng sử dụng sáng chế mặc dù
9 Trung tâm thương mại quốc tế UNCTAD/WTO Geneva: ITC/WIPO (2004), Những điều chưa biết về sở hữu trí
tuệ: Tài liệu hướng dẫn cho các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ, tr. 20.


trong một thời gian hợp lý đã cố gắng thương lượng với mức giá và các điều
kiện thương mại thỏa đáng;
d) Người nắm độc quyền sử dụng sáng chế bị coi là thực hiện hành vi hạn chế
cạnh tranh bị cấm theo quy định của pháp luật về cạnh tranh.”10
Theo Công ước Paris, các nước thành viên có thể bắt buộc cấp li-xăng để ngăn
ngừa lạm dụng độc quyền theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền nếu sau
thời hạn 3 đến 4 năm kể từ ngày cấp sáng chế mà không được khai thác, khai
thác không đáp ứng nhu cầu của xã hội hoặc nếu chủ sở hữu sáng chế không có
những lý do hợp pháp để biện minh cho việc không khai thác. Hiệp định TRIPS
là kết quả của sự kết hợp những điều ước quốc tế quan trọng nhất trong lĩnh
vực sở hữu trí tuệ trong đó có Công ước Paris, quy định chi tiết hơn về nguyên
tắc thực thi bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế. Người có nhu cầu
sửu dụng sáng chế không đạt thỏa thuận với chủ sở hữu sáng chế mặc dù với
giá cả và điều kiện thương mại hợp lý thì báo ngay cho Chính phủ. 11 Việt Nam
cũng đã xem những tình huống đó là căn cứ để bắt buộc chuyển giao quyền sử
dụng sáng chế. Nhìn chung, căn cứ bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng
chế của Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế.
Các đối tượng còn lại thuộc nhóm thành quả sáng tạo khoa học gồm
chương trình máy tính, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn và kiểu dáng công
nghiệp thì pháp luật không quy định hạn chế chuyển giao hay bắt buộc chuyển
giao. Bởi các đối tượng này được sử dụng trong sản xuất hầu hết các sản phẩm
mà con người sử dụng hằng ngày, và cũng dễ sao chép, bắt chước nên pháp luật
chú trọng trong việc quy định bảo hộ và xử lý hành vi vi phạm. Kiểu dáng công
nghiệp có tầm quan trọng đối với nhiều loại sản phẩm được sản xuất hàng loạt,
cũng như sản phẩm riêng lẻ: từ các dụng cụ y tế đến xe đạp, xe máy; các đồ gia
dụng, đồ chơi, đồ gỗ và thiết bị điện xe hơi và các sản phẩm kiến trúc; kiểu
dáng hàng may mặc. Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn được sử dụng bởi
rất nhiều chủng loại sản phẩm, gồm các sản phẩm gia dụng hằng ngày như
đồng hồ, ti vi, máy giặt, ô tô v.v. Và các thiết bị xử lý dữ liệu phức tạp khác.
1.2.1.2 Nhóm các dấu hiệu đặc trưng để phân biệt bao gồm chỉ dẫn địa lý,
nhãn hiệu và tên thương mại
Vì thuộc nhóm dấu hiệu đặc trưng phân biệt nên chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu
và tên thương mại đều thuộc đối tượng hạn chế chuyển giao, đặc biệt quyền sử
dụng chỉ dẫn địa lý, tên thương mại không được chuyển giao.12

10 Khoản 1 Điều 145 Luật sở hữu trí tuệ.
11 Điều 31 Hiệp Định TRIPS
12 Khoản 1 Điều 142 Luật sở hữu trí tuệ.


Nhãn hiệu rất có giá trị đối với doanh nghiệp nếu sản phẩm chất lượng gắn với
nhãn hiệu dễ nhớ hay đặc biệt như Coca-Cola hoặc IBM giá trị ước tính đều
vượt quá 50 tỉ đô la, lý do là khi khách hàng đánh giá cao nhãn hiệu, danh
tiếng, hình ảnh hoặc một số phẩm chất của nó, họ sẽ trung thành với nhãn hiệu
đó và sẵn sàng trả nhiều tiền hơn để mua sản phẩm mang nhãn hiệu mà họ thừa
nhận và đáp ứng kì vọng của họ.13 Vì thế, doanh nghiệp có nhãn hiệu càng nổi
tiếng thì càng có lợi thế cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt nhãn hiệu nổi tiếng
cũng sẽ được bảo hộ trong một vùng lãnh thổ nhất định ngay cả khi không
đăng ký hoặc không sử dụng. Nhãn hiệu có thể được chuyển nhượng nhưng
không được gây ra sự nhầm lẫn về đặc tính, nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ
mang nhãn hiệu.14
Chỉ dẫn địa lý giúp người tiêu dùng biết được sản phẩm sản xuất ở một địa
phương hay một khu vực nhất và sản phẩm mang đặc trưng của nơi sản xuất.
Các sản phẩm có chỉ dẫn địa lý chủ yếu là sản phẩm nông nghiệp điển hình đa
số đều có chất lượng ảnh hưởng bởi yếu tố địa phương như khí hậu, đất đai nên
tất nhiên quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý sẽ không được chuyển giao. Theo khoản
1 Điều 22 của Hiệp định TRIPS: “chỉ dẫn địa lý là những chỉ dẫn về hàng hóa
bắt nguồn từ lãnh thổ của một thành viên hoặc từ khu vực hay địa phương
thuộc lãnh thổ đó, có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định chủ yế do xuất
xứ địa lý”. Một số ví dụ về chỉ dẫn địa lý nổi tiếng được bảo hộ tại Việt Nam
như: Bưởi Đoan Hùng là giống bưởi có nguồn gốc từ thôn Luận Văn, xã Thọ
Xương, huyện Thọ Xương, tỉnh Thanh Hóa; Nước mắm Phan Thiết là tên gọi
chung của các loại nước mắm xuất xứ từ Phan Thiết, một địa phương có nghề
làm nước mắm truyền thống. Nhờ vào chỉ dẫn địa lý mà người tiêu dùng tin
tưởng vào sản phẩm. Tên thương mại là tên gọi đầy đủ của một chủ thể kinh
doanh, thường kết hợp với các từ viết tắt thể hiện hình thức pháp lý và tên riêng
để phân biệt với các chủ thể kinh doanh khác nên chỉ được chuyển nhượng
cùng với việc chuyển nhượng toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh
doanh dưới tên thương mại đó.15
1.2.2 Từ góc độ pháp luật cạnh tranh
Bên cạnh Luật sở hữu trí tuệ thì pháp luật cạnh tranh cũng có vai trò
không kém trong việc thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng khoa học, kỹ thuật
trong kinh doanh với mục tiêu phát triển nền kinh tế hiện đại.
Luật sở hữu trí tuệ có quy định chặt chẽ đối với quyền sở hữu công nghiệp, chủ
sở hữu quyền sở hữu công nghiệp có quyền chuyển giao quyền sở hữu của
13 Word Intrellectual Property Oganization (2003), Tạo dựng một nhãn hiệu: Tài liệu giới thiệu về nhãn hiệu
dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tr. 4.
14 Khoản 4 Điều 139 Luật sở hữu trí tuệ.
15 Khoản 3 Điều 139 Luật sở hữu trí tuệ.


mình cho tổ chức cá nhân khác để đảm bảo nền kinh tế phát triển công nghệ
hay quy định trường hợp bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế để ngăn
chặn hành vi lạm dụng độc quyền. Nhưng ở cách nhìn chủ quan thì (i) chủ sở
hữu quyền sở hữu công nghiệp có thể từ chối chuyển giao cho các chủ thể khác
hoặc (ii) chủ thể mua lại quyền sở hữu công nghiệp không nhằm mục đích phục
vụ cho sản xuất mà tiêu hủy không sử dụng. Hai hành vi nêu trên có thể bị xem
là hành vi lạm dụng mang tính độc quyền, vì làm hạn chế, cản trở phát triển
nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ vào kinh doanh. Theo quy đinh
của Luật cạnh tranh hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bị cấm: “Hạn
chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát
triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng;” 16. Xem xét hai hành vi
(i) và (ii) chỉ mới là điều kiện cần, để xác định có vi phạm pháp luật cạnh tranh
hay không, điều kiện đủ là chủ thể thực hiện hành vi có vị trí thống lĩnh thị
trường. Theo đó, chủ thể có vị trí thống lĩnh thị trường nếu chiếm 30% trở lên
trên thị trường liên quan.17

Chương 2

16 Khoản 3 Điều 13 Luật cạnh tranh.
17 Khoản 1 Điều 11 Luật cạnh tranh.


CHUYỂN GIAO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP, QUY TẮC CẠNH TRANH
THEO TRIPS, HỆ THỐNG PHÁP LUẬT HOA KỲ VÀ CHÂU ÂU
Giống như nhiều hệ thống điều tiết kinh tế khác, quyền sở hữu trí tuệ lịch sử hàng
thế kỷ. Nhưng các quyền chính của quyền sở hữu trí tuệ như bằng sáng chế và bản
quyền đã hình thành các chức năng và chức năng hiện đại của chúng vào thế kỷ XIX
vào thời điểm châu Âu và Bắc Mỹ đang ở giữa thời kỳ công nghiệp hóa nhanh chóng
và là nơi đặt nền móng cho quyền sở hữu trí tuệ sau này. Bằng sáng chế cho các phát
minh có nguồn gốc từ thời Phục hưng Ý, 18cộng hòa Venice đã thông qua Luật sáng
chế năm 1474 với mục đích là thu hút kỹ sư nước ngoài với sự khuyến khích độc
quyền 10 năm đối với công trình và thiết bị sáng chế của họ. Năm 1624 Đạo luật
chống độc quyền tiếng Anh được ba hành, sau nhiều lần sửa đổi vẫn có hiệu lực cho
tới ăm 1977. Sau khi độc lập, 19 vai trò ban đầu của Luật sáng chế và bản quyền của
Hoa Kỳ là thực hiện khoản 8 Điều 1 Hiến pháp bao gồm quyền của Quốc hội trong
việc thúc đẩy tiến bộ khoa học bằng cách đảm bảo quyền sở hữu của tác giả và phát
minh trong một thời hạn nhất định. Luật bằng sáng chế tương đối tiến bộ được ban
hành năm 1790 và năm 1793, đến năm 1863 Luật sáng chế hiện đại đầu tiên ra đời.
Cũng như sáng chế, nơi xuất xứ bản quyền là Ý thời Phục hưng, luật bản quyền đầu
tiên là Đạo Luật Anne năm 1790. Đa số đạo Luật được đưa ra vào thời kỳ này tại AnhMỹ chủ yếu xuất phát từ bảo vệ quyền lợi của các nhà in ấn, ngược lại ở châu Âu lục
địa Luật bản quyền quan tâm nhiều hơn đến tính toàn vẹn tác phẩm của tác giả so với
quy định bản quyền của Anh-Mỹ. Đó là lý do tại sao một số quốc gia tại châu Âu sử
dụng thuật ngữ quyền tác giả thay cho bản quyền và thuật ngữ này được tồn tại và sử
dụng trong các quy định cho tới nay.
Trong khi các quy định về sở hữu trí tuệ ở một số quốc gia đã tồn tại trong hai thế
kỷ thì lịch sử sở hữu trí tuệ ở cấp độ quốc tế thực sự bắt đầu. Hiệp định TRIPS năm
1994 là một trong những Hiệp định quan trọng trong việc điều chỉnh các vấn đề
thương mại quốc tế trong khuôn khổ WTO. Bên cạnh đó, nội dung chính của TRIPS là
kết quả của việc áp dụng nguyên tắc của GATT trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ liên quan
đến thương mại. Có thể khẳng định những nguyên tắc cơ bản của Hiệp định TRIPS là
sự cụ thể hóa nguyên tắc của GATT và WTO trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. 20 Trong đó
nguyên tắc về sự cân bằng giữa bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và lợi ích xã hội được quy
định tại Điều 7 và Điều 8 Hiệp định TRIPS:

18 Thời kỳ Phục hưng là một phong trào văn hóa diễn ra trong giai đoạn thế kỷ XV đến XVII khởi đầu từ Ý và
sau đó lan rộng toàn châu Âu, tác động sâu sắc đến đời sống tri thức về văn học, triết học, mỹ thuật, âm nhạc,
chính trị, khoa học, tôn giáo.
19 Ngày 11 tháng 06 năm 1776, Đại hội các thuộc địa đã bổ nhiệm Ủy ban soạn thảo Hiến pháp cho liên minh
13 tiểu bang độc lập.
20 Nguyễn Bá Diến (2004), Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong Hiệp định TRIPS, tr. 10.


Thứ nhất, quy định các vấn đề việc thực thi và bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ
phải góp phần thúc đẩy chuyển giao, cải tiến và phổ biến công nghệ đem lại lợi ích xã
hội và lợi ích kinh tế và tạo cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ.
Thứ hai, các quốc gia Thành viên có thể đem ra các biện pháp cần thiết khi ban
hành, sửa đổi và quy định pháp luật để đảm bảo các vấn đề lợi ích công cộng trong
những lĩnh vực có tầm quan trọng sống còn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và
công nghệ của mình, nhưng biện pháp đó không được đi ngược lại với quy định của
Hiệp định này.
Thứ ba, có thể cần đến những biện pháp phù hợp với điều kiện không trái với
quy định của Hiệp định này để ngăn chặn những hành vi lạm dụng quyền sở hữu trí
tuệ cũng như các hoạt động gây cản trở thương mại khác gây ảnh hưởng đến việc
chuyển giao công nghệ quốc tế.
2.1 Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, quy tắc cạnh tranh theo TRIPS
2.1.1 Chuyển giao công nghệ và quyền sở hữu công nghiệp
Quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng có khả năng
khuyến khích đáng kể việc tiếp thu và phổ biến thông tin công nghệ trong nước cũng
như ở nước ngoài thông qua các kênh: thương mại hàng hóa quốc tế, đầu tư trực tiếp
nước ngoài và hợp đồng giấy phép công nghệ thương hiệu cho các công ty độc lập,
công ty con và liên doanh. Lý thuyết kinh tế chỉ ra rằng việc chuyển giao qua từng
kênh nêu trên phụ thuộc một phần vào việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp trong
nước.21

21 Keith E. Maskus (1998), The role of intellectual property rights in encouraging foreign direct investment and
technology transfer, Professor of Economics, University of Colorado, Boulder.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×