Tải bản đầy đủ

Tình huống đấu thầu 2019 Thi sát hạch chứng chỉ đấu thầu

TÌNH HUỐNG ĐẤU THẦU – BÁO ĐẤU THẦU

1. Hỏi: Bệnh viện công lập A được giao nhiệm vụ chủ đầu tư Dự án Xây dựng tòa
nhà khám chữa bệnh chất lượng cao có tổng mức đầu tư 250 tỷ đồng. Trong đó, 90%
nguồn vốn là vốn vay thương mại và Bệnh viện không dùng tài sản có nguồn gốc
nhà nước để thế chấp và trả nợ vay; phần vốn còn lại (10%) được trích từ Quỹ Phát
triển hoạt động sự nghiệp của Bệnh viện. Trong trường hợp này, việc lựa chọn nhà
thầu thực hiện các gói thầu thuộc Dự án Xây dựng tòa nhà khám chữa bệnh chất
lượng cao của Bệnh viện A có thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật đấu thầu số
43/2013/QH13 hay không?
Trả lời: Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 (Điều 1 Khoản 1 Điểm a) quy định dự án đầu tư phát triển sử
dụng vốn nhà nước của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị
xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân
dân, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này.
Theo quy định tại Khoản 44 Điều 4 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, vốn nhà nước bao gồm vốn ngân
sách nhà nước; công trái quốc gia, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương; vốn hỗ trợ
phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ; vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; vốn
tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh; vốn vay được bảo đảm
bằng tài sản của Nhà nước; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; giá trị quyền sử dụng
đất. Như vậy, vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp là vốn nhà nước theo quy định nêu trên.
Đối với trường hợp của Bệnh viện A, mặc dù Dự án Xây dựng tòa nhà khám chữa bệnh chất lượng cao

chỉ sử dụng 25 tỷ đồng từ nguồn vốn nhà nước trong tổng mức đầu tư (tương đương với 10%) nhưng
Bệnh viện A lại là đơn vị sự nghiệp công lập, nên việc lựa chọn nhà thầu thực hiện các gói thầu của Dự
án này thuộc phạm vi điều chỉnh quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 1 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13.
Từ quy định nêu trên, chúng ta thấy rằng Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 điều chỉnh hoạt động mua
sắm sử dụng vốn nhà nước của các tổ chức thuộc khu vực công. Do đó, dự án đầu tư phát triển có sử
dụng vốn nhà nước dù ít hay nhiều của các chủ đầu tư là cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội,
đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập đều thuộc phạm vi điều chỉnh của
Luật Đấu thầu.

2. Hỏi: Công ty chúng tôi là doanh nghiệp nhà nước. Cách đây 6 tháng, thông qua
đấu thầu rộng rãi, Công ty đã lựa chọn được nhà thầu A thực hiện Gói thầu Cung
cấp 10 xe ô tô chuyên dụng (Gói thầu số 1) thuộc Dự án Đầu tư nâng cấp năng lực
sản xuất, kinh doanh giai đoạn 1. Hiện nay, Công ty đang tiếp tục triển khai giai đoạn
2 của Dự án, trong giai đoạn này có Gói thầu số 2: Cung cấp 10 xe ô tô chuyên dụng
(tương tự như Gói thầu số 1). Qua tìm hiểu thị trường, chúng tôi thấy xuất hiện Công
ty B có khả năng cung cấp 10 xe ô tô chuyên dụng với nhiều chính sách về giá cả và
dịch vụ sau bán hàng tốt hơn nhà thầu A; Công ty B chưa từng trúng thầu thông qua
đấu thầu rộng rãi, hạn chế và đã ký hợp đồng thực hiện gói thầu tương tự. Vậy,
trong trường hợp này, Công ty chúng tôi có được áp dụng hình thức mua sắm trực
tiếp để mời Công ty B vào đàm phán hợp đồng, bảo đảm giá hợp đồng sau đàm
phán của Gói thầu số 2 thấp hơn giá hợp đồng của Gói thầu số 1 hay không?
Trả lời: Theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 24 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, một trong những
điều kiện để áp dụng hình thức mua sắm trực tiếp là nhà thầu đã trúng thầu thông qua đấu thầu rộng rãi
hoặc đấu thầu hạn chế và đã ký hợp đồng thực hiện gói thầu trước đó.

1


Theo đó, mặc dù Công ty B có khả năng cung cấp 10 xe ô tô chuyên dụng với nhiều chính sách về giá
cả và dịch vụ sau bán hàng tốt hơn nhà thầu A nhưng do trước đây Công ty B chưa từng trúng thầu
thông qua đấu thầu rộng rãi, hạn chế và đã ký hợp đồng thực hiện gói thầu tương tự nên trong trường
hợp này không đủ điều kiện để áp dụng hình thức mua sắm trực tiếp đối với Gói thầu số 2 cho Công ty
B theo quy định nêu trên.
Bản chất của hình thức mua sắm trực tiếp là mở rộng phạm vi cung cấp của hợp đồng đã ký kết trước
đó. Sở dĩ việc áp dụng mua sắm trực tiếp với nhà thầu trúng thầu trước đó là do chủ đầu tư đã kiểm
chứng được năng lực, kinh nghiệm và khả năng thực hiện hợp đồng tương tự trước đó của nhà thầu
này. Việc tổ chức đấu thầu để lựa chọn nhà thầu thực hiện gói thầu tương tự mà trước đó đã lựa chọn
được nhà thầu thông qua đấu thầu rộng rãi, hạn chế sẽ mất thời gian, trong nhiều trường hợp đơn giá
trúng thầu lại cao hơn đơn giá của hợp đồng đã ký kết. Vì vậy, việc áp dụng hình thức mua sắm trực


tiếp sẽ giúp tiết kiệm thời gian lựa chọn nhà thầu đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế cho gói thầu.
Việc áp dụng hình thức mua sắm trực tiếp chỉ được thực hiện khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định
tại Khoản 2 Điều 24 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13. Theo đó, nếu gói thầu không đáp ứng quy định
nêu trên thì phải áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu khác cho phù hợp.
Ngoài ra, do hiệu quả của việc áp dụng hình thức mua sắm trực tiếp mang lại, trong Luật Đấu thầu số
43/2013/QH13 đã bổ sung quy định mới so với Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11. Theo đó, trường hợp
nhà thầu thực hiện hợp đồng trước đó không có khả năng tiếp tục thực hiện gói thầu mua sắm trực tiếp
thì được áp dụng mua sắm trực tiếp đối với nhà thầu khác nếu nhà thầu này đáp ứng các yêu cầu về
năng lực, kinh nghiệm, kỹ thuật và giá theo hồ sơ mời thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu trước đó (Khoản
3 Điều 24 Luật đấu thầu số 43/2013/QH13).

3. Hỏi: Công ty chúng tôi là doanh nghiệp nhà nước, đang chuẩn bị tiến hành dự án
đầu tư hệ thống thiết bị chuyên dùng phục vụ việc khai thác khoáng sản sử dụng
nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp. Thiết bị chuyên dùng này hiện Việt
Nam chưa sản xuất được; chỉ được nhập khẩu khi có nhu cầu và trước đây đã từng
được nhập khẩu để cung cấp cho một số dự án. Bên cạnh đó, việc nhập khẩu cũng
chỉ được thực hiện bởi một vài doanh nghiệp Việt Nam được hãng sản xuất ủy
quyền phân phối. Vậy trong trường hợp này, Công ty chúng tôi có được phép áp
dụng hình thức đấu thầu rộng rãi quốc tế để lựa chọn nhà thầu cung cấp thiết bị
chuyên dùng phục vụ việc khai thác khoáng sản nhằm tăng tính cạnh tranh trong
đấu thầu hay không?
Trả lời: Luật Đấu thầu năm 2013 (Điều 15 Khoản 1) quy định việc tổ chức đấu thầu quốc tế chỉ được
thực hiện khi đáp ứng một trong các điều kiện sau đây: (i) nhà tài trợ vốn cho gói thầu có yêu cầu tổ
chức đấu thầu quốc tế; (ii) gói thầu mua sắm hàng hóa mà hàng hóa đó trong nước không sản xuất
được hoặc sản xuất được nhưng không đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng, giá. Trường hợp hàng
hóa thông dụng, đã được nhập khẩu và chào bán tại Việt Nam thì không tổ chức đấu thầu quốc tế; (iii)
gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, xây lắp, hỗn hợp mà nhà thầu trong nước không có
khả năng đáp ứng yêu cầu thực hiện gói thầu.
Đối với trường hợp này, mặc dù thiết bị chuyên dùng phục vụ việc khai thác khoáng sản đã được nhập
khẩu và chào bán tại Việt Nam, nhưng việc nhập khẩu này không mang tính thường xuyên, thiết bị nhập
khẩu không bán rộng rãi trên thị trường mà chỉ nhập khẩu theo từng đơn hàng cụ thể khi có nhu cầu.
Nếu chỉ dựa vào quy định “hàng hóa thông dụng, đã được nhập khẩu và chào bán tại Việt Nam thì
không tổ chức đấu thầu quốc tế” để cho rằng thiết bị khai thác khoáng sản đã được nhập khẩu và chào
bán tại Việt Nam để áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi trong nước là không phù hợp với quy định của
pháp luật về đấu thầu, không bảo đảm tính cạnh tranh và hiệu quả kinh tế.
Chúng ta thấy rằng, thiết bị khai thác khoáng sản mặc dù đã được nhập khẩu và chào bán tại Việt Nam
nhưng đây không phải là hàng hóa thông dụng, sẵn có trên thị trường. Nếu tổ chức đấu thầu trong nước
thì sẽ chỉ có rất ít nhà thầu trong nước (là nhà cung cấp theo ủy quyền của nhà sản xuất nước ngoài)
tham dự thầu. Điều này đồng nghĩa với việc không bảo đảm tính cạnh tranh trong đấu thầu do có ít nhà
thầu tham dự, từ đó dẫn đến không bảo đảm hiệu quả kinh tế của gói thầu.

2


Như vậy, đối với trường hợp nói trên, việc chủ đầu tư lựa chọn hình thức đấu thầu rộng rãi quốc tế là
cần thiết và phù hợp với quy định của pháp luật đấu thầu, đồng thời bảo đảm tính cạnh tranh, hiệu quả
kinh tế của gói thầu.

4. Hỏi: Sở Giao thông vận tải tỉnh A có đơn vị sự nghiệp hạch toán kế toán độc lập là
Trung tâm Tư vấn giám sát B. Sở Giao thông vận tải được giao nhiệm vụ là chủ đầu
tư Dự án Xây dựng công trình đường giao thông trên địa bàn Tỉnh. Vậy Sở Giao
thông vận tải có được giao cho Trung tâm Tư vấn giám sát B thực hiện Gói thầu Tư
vấn giám sát thi công công trình thuộc Dự án nói trên theo hình thức tự thực hiện
hay không?
Trả lời: Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 (Điều 25) quy định tự thực hiện được áp dụng trong trường
hợp tổ chức trực tiếp quản lý, sử dụng gói thầu có năng lực kỹ thuật, tài chính và kinh nghiệm đáp ứng
yêu cầu của gói thầu.
Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Điều 61 và Điều 62 Khoản 1) quy định điều kiện được áp dụng hình thức
tự thực hiện bao gồm: (i) có chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động và ngành nghề kinh doanh phù
hợp với yêu cầu của gói thầu; (ii) phải chứng minh và thể hiện trong phương án tự thực hiện về khả
năng huy động nhân sự, máy móc, thiết bị đáp ứng yêu cầu về tiến độ thực hiện gói thầu; (iii) đơn vị
được giao thực hiện gói thầu không được chuyển nhượng khối lượng công việc với tổng số tiền từ 10%
giá gói thầu trở lên hoặc dưới 10% giá gói thầu nhưng trên 50 tỷ đồng. Trường hợp gói thầu do đơn vị
hạch toán phụ thuộc thực hiện thì trong phương án thực hiện phải bao gồm dự thảo hợp đồng. Trường
hợp tổ chức trực tiếp quản lý, sử dụng gói thầu không có đơn vị hạch toán phụ thuộc thì trong phương
án thực hiện phải bao gồm dự thảo về thỏa thuận giao việc cho một đơn vị thuộc mình thực hiện (các
phòng, ban, tổ, đội…).
Theo đó, việc áp dụng hình thức tự thực hiện phải tuân thủ quy định nêu trên. Mặc dù Trung tâm Tư vấn
giám sát B là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Giao thông vận tải tỉnh A về mặt tổ chức, nhưng lại hạch
toán kế toán độc lập với Sở Giao thông vận tải nên việc Sở Giao thông vận tải giao cho Trung tâm Tư
vấn giám sát B thực hiện gói thầu do Sở làm chủ đầu tư theo hình thức tự thực hiện là không phù hợp
với quy định của pháp luật về đấu thầu.

5. Hỏi: Chủ đầu tư A đang tiến hành lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu cho gói thầu
cung cấp dịch vụ tư vấn có giá 450 triệu đồng. Trong nội dung kế hoạch lựa chọn
nhà thầu có ghi hình thức lựa chọn nhà thầu là chỉ định thầu; phương thức lựa chọn
nhà thầu là một giai đoạn một túi hồ sơ. Việc ghi thông tin về hình thức và phương
thức lựa chọn nhà thầu như trên có phù hợp không?
Trả lời: Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Điều 54 Khoản 1 và Điều 56 Khoản 2) quy định gói thầu dịch vụ
tư vấn có giá không quá 500 triệu nằm trong hạn mức chỉ định thầu; gói thầu nằm trong hạn mức chỉ
định thầu thì được áp dụng quy trình chỉ định thầu rút gọn. Theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 28
Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ được áp dụng đối với chỉ
định thầu gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp.
Theo hướng dẫn tại Khoản 5 Điều 5 Thông tư số 10/2015/TT-BKHĐT ngày 26/10/2015 của Bộ Kế hoạch
và Đầu tư quy định chi tiết về kế hoạch lựa chọn nhà thầu, phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ
được áp dụng trong các trường hợp chỉ định thầu đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi
tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp; trường hợp gói thầu áp dụng theo quy trình chỉ định thầu
rút gọn thì không ghi nội dung này.
Đối với trường hợp nêu trên, do gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn có giá dưới 500 triệu đồng nên việc áp
dụng chỉ định thầu rút gọn đối với gói thầu này là phù hợp với điều kiện gói thầu phải đáp ứng đủ các
điều kiện chỉ định thầu quy định tại Khoản 2 Điều 22 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13.
Khi áp dụng chỉ định thầu theo quy trình rút gọn, chủ đầu tư và nhà thầu sẽ tiến hành thương thảo hợp
đồng ngay mà không phải trải qua bước bên mời thầu phát hành hồ sơ yêu cầu và nhà thầu nộp hồ sơ
đề xuất để bên mời thầu đánh giá trước khi thương thảo hợp đồng. Theo đó, đối chiếu với quy định tại
Thông tư số 10/2015/TT-BKHĐT nêu trên, trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu đối với gói thầu cung cấp
dịch vụ tư vấn áp dụng hình thức chỉ định thầu và có giá gói thầu không quá 500 triệu đồng không cần
thiết phải ghi nội dung về phương thức lựa chọn nhà thầu.

3


6. Hỏi: Đối với gói thầu mua sắm hàng hóa thông thường, đơn giản, không yêu cầu
kỹ thuật cao nhưng có số lượng lớn và có giá gói thầu trên 10 tỷ đồng, chủ đầu tư có
thể áp dụng phương thức đấu thầu một giai đoạn một túi hồ sơ để nhằm mục đích
tiết kiệm thời gian trong đấu thầu và tăng cường áp dụng đấu thầu qua mạng được
không?
Trả lời: Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 (Điều 28 Khoản 1 Điểm a) quy định phương thức lựa chọn nhà
thầu một giai đoạn một túi hồ sơ áp dụng cho đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua
sắm hàng hoá có quy mô nhỏ. Gói thầu mua sắm hàng hoá quy mô nhỏ là gói thầu có giá không quá 10
tỷ đồng (Nghị định số 63/2014/NĐ-CP Điều 63).
Theo đó, chỉ những gói thầu mua sắm hàng hóa có quy mô nhỏ mới được phép áp dụng phương thức
một giai đoạn một túi hồ sơ; khi tổ chức đấu thầu gói thầu mua sắm hàng hóa có giá gói thầu trên 10 tỷ
đồng (không phải là gói thầu quy mô nhỏ) phải áp dụng phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ theo
quy định tại Điều 29 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13.
Như vậy, trường hợp chủ đầu tư áp dụng phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ để lựa chọn nhà
thầu cho gói thầu mua sắm hàng hoá có giá lớn hơn 10 tỷ đồng là chưa phù hợp với quy định nêu trên.
Trong trường hợp này, chủ đầu tư phải áp dụng phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ.
Liên quan đến đấu thầu qua mạng, hiện nay việc áp dụng cách thức này đang được thực hiện từng
bước theo lộ trình. Theo đó, trường hợp gói thầu thuộc diện phải áp dụng phương thức một giai đoạn
hai túi hồ sơ thì chưa thực hiện đấu thầu qua mạng. Tuy nhiên, khuyến khích các chủ đầu tư, bên mời
thầu đăng tải HSMT trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia để tạo điều kiện cho các nhà thầu dễ dàng
tiếp cận HSMT, nhằm tăng tính minh bạch, cạnh tranh trong đấu thầu.
Ngoài ra, đối với gói thầu đấu thầu rộng rãi, chào hàng cạnh tranh áp dụng phương thức một giai đoạn
một túi hồ sơ, khuyến khích các chủ đầu tư, bên mời thầu tổ chức đấu thầu qua mạng nhằm rút ngắn
thời gian trong đấu thầu, giảm thiểu thủ tục hành chính cũng như tăng cường tính cạnh tranh, công khai,
minh bạch, hiệu quả kinh tế của gói thầu.

7. Hỏi: Dự toán gói thầu được lập tuân thủ đúng theo quy định về quản lý chi phí đầu
tư xây dựng công trình. Tuy nhiên, khi phê duyệt dự toán, chủ đầu tư đã quyết định
giảm trừ 5% giá trị dự toán với lý do để bảo đảm cạnh tranh và tiết kiệm kinh phí
trong đầu tư xây dựng các công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước. Việc chủ
đầu tư phê duyệt dự toán gói thầu như trên có phù hợp với quy định của pháp luật
đấu thầu hiện hành hay không?
Trả lời: Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 (Điều 35 Khoản 2) quy định giá gói thầu được xác định trên cơ
sở tổng mức đầu tư hoặc dự toán (nếu có) đối với dự án; dự toán mua sắm đối với mua sắm thường
xuyên. Giá gói thầu được tính đúng, tính đủ toàn bộ chi phí để thực hiện gói thầu, kể cả chi phí dự
phòng, phí, lệ phí và thuế. Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Điều 117 Khoản 2) quy định trường hợp dự
toán được phê duyệt của gói thầu cao hơn hoặc thấp hơn giá gói thầu ghi trong kế hoạch lựa chọn nhà
thầu đã duyệt thì dự toán đó sẽ thay thế giá gói thầu trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu.
Như vậy, theo quy định nêu trên, thì dự toán gói thầu phải được tính đúng, tính đủ toàn bộ chi phí để
thực hiện gói thầu, kể cả chi phí dự phòng, phí, lệ phí và thuế. Do đó, việc giảm trừ 5% giá trị dự toán
sau khi đã được tính đúng, tính đủ là chưa phù hợp với quy định nêu trên.
Tiết kiệm chi phí trong đấu thầu là chủ trương đúng đắn, cần thiết và phù hợp với mục tiêu của công tác
đấu thầu là cạnh tranh, công bằng, minh bạch, hiệu quả kinh tế, song phải bảo đảm không trái với quy
định của pháp luật về đấu thầu. Để đạt được mục tiêu tiết kiệm chi phí trong đấu thầu thì quan trọng là
phải xem xét, kiểm soát ngay từ bước lập thiết kế, dự toán gói thầu. Nếu dự toán được lập chính xác,
đầy đủ, sát với thiết kế, phù hợp với giá cả thị trường thì cũng sẽ giúp tiết kiệm được chi phí mà vẫn bảo
đảm tính khả thi trong việc thực hiện gói thầu. Ngoài ra, quan trọng là phải tạo được môi trường đấu
thầu rộng rãi, cạnh tranh, bình đẳng giữa các nhà thầu, từ đó sẽ lựa chọn được nhà thầu đáp ứng yêu
cầu với giá cạnh tranh.

8. Hỏi: Bệnh viện công lập X cần tổ chức lựa chọn nhà thầu gói thầu mua thuốc chữa
bệnh (số lượng thuốc mời thầu: 1 triệu viên, giá gói thầu: 9 tỷ đồng). Do lượng thuốc
thực tế Bệnh viện cần sử dụng phụ thuộc vào tình hình dịch bệnh và nhu cầu khám
chữa bệnh trong năm nên Bệnh viện dự kiến áp dụng loại hợp đồng theo đơn giá cố
4


định. Trong trường hợp này, việc áp dụng loại hợp đồng theo đơn giá cố định có phù
hợp với quy định của pháp luật về đấu thầu không? Trường hợp ký hợp đồng trọn
gói thì có được phép thanh toán theo thực tế số lượng thuốc cần mua hay không?
Trả lời: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 62 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, hợp đồng trọn gói là hợp
đồng có giá cố định trong suốt thời gian thực hiện đối với toàn bộ nội dung công việc trong hợp đồng.
Việc thanh toán đối với hợp đồng trọn gói được thực hiện nhiều lần trong quá trình thực hiện hoặc thanh
toán một lần khi hoàn thành hợp đồng. Tổng số tiền mà nhà thầu được thanh toán cho đến khi hoàn
thành các nghĩa vụ theo hợp đồng bằng đúng giá ghi trong hợp đồng. Đối với gói thầu cung cấp dịch vụ
tư vấn, dịch vụ phi tư vấn đơn giản; gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô nhỏ phải
áp dụng hợp đồng trọn gói.
Theo quy định tại Điều 63 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP, gói thầu mua sắm hàng hóa có giá trị gói thầu
không quá 10 tỷ đồng được coi là gói thầu quy mô nhỏ.
Như vậy, gói thầu mua thuốc của Bệnh viện có giá gói thầu 9 tỷ đồng được coi là gói thầu mua sắm
hàng hóa quy mô nhỏ. Theo đó, gói thầu này phải áp dụng loại hợp đồng trọn gói theo quy định nêu trên
mà không được phép áp dụng loại hợp đồng theo đơn giá cố định.
Tính chất trọn gói ở đây được hiểu là áp dụng đối với toàn bộ số lượng thuốc nêu trong hợp đồng, điều
đó có nghĩa là khi tham dự thầu, nhà thầu phải chào giá trọn gói cho việc cung cấp 1 triệu viên thuốc
theo đúng yêu cầu của HSMT. Trường hợp nhà thầu được công nhận trúng thầu với giá trúng thầu và
giá hợp đồng là “A” đồng thì nhà thầu sẽ được thanh toán đúng giá trị “A” đồng nếu cung cấp cho bệnh
viện 1 triệu viên thuốc theo đúng quy định trong HSMT và hợp đồng.
Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của gói thầu cung cấp thuốc, số lượng thuốc sử dụng trong năm phụ
thuộc vào tình hình dịch bệnh và nhu cầu khám chữa bệnh của người dân nên thông thường số lượng
thuốc sử dụng thực tế khác so với số lượng thuốc ghi trong hợp đồng. Do đó, trong trường hợp này, để
bảo đảm việc mua thuốc được tiết kiệm, hiệu quả, trong HSMT và hợp đồng cần quy định rõ loại hợp
đồng là trọn gói ứng với số lượng thuốc trúng thầu (1 triệu viên, giá hợp đồng: “A” đồng); trường hợp số
lượng thuốc sử dụng thực tế khác so với số lượng ghi trong hợp đồng (tăng hoặc giảm) thì giá trị thanh
toán sẽ căn cứ theo số lượng sử dụng thực tế và đơn giá trúng thầu của một viên thuốc.
Như vậy, với cách quy định về mua thuốc trong HSMT và trong hợp đồng đối với trường hợp áp dụng
loại hợp đồng trọn gói như nêu trên sẽ bảo đảm vừa tuân thủ quy định của pháp luật về đấu thầu vừa
tiết kiệm, hiệu quả trong việc mua sắm thuốc. Ngoài ra, việc HSMT có quy định rõ ràng về cách thanh
toán cho nhà thầu trong trường hợp số lượng thuốc dùng thực tế khác so với số lượng mời thầu sẽ giúp
cho các nhà thầu chủ động xây dựng và tính toán phương án chào thầu phù hợp.

9. Hỏi: Bên mời thầu X tổ chức lựa chọn nhà thầu gói thầu xây lắp thuộc phạm vi
điều chỉnh của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13. Trong đó, hồ sơ mời thầu (HSMT)
quy định nhân sự chủ chốt mà nhà thầu đề xuất trong hồ sơ dự thầu (HSDT) phải là
nhân sự thuộc biên chế của nhà thầu, đóng bảo hiểm tại nhà thầu từ 5 năm trở lên.
Yêu cầu về nhân sự do Bên mời thầu X đưa ra có phù hợp với quy định của pháp
luật về đấu thầu hay không?
Trả lời: Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Khoản 2 Điều 23) quy định trong HSMT không được nêu bất cứ
điều kiện nào nhằm hạn chế sự tham gia của nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà
thầu gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng.
Theo hướng dẫn tại Mục 1 Chương III Mẫu HSMT gói thầu xây lắp ban hành kèm Thông tư số
03/2015/TT-BKHĐT ngày 06/5/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, một trong các nội dung đánh giá về
năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu là nhân sự chủ chốt; căn cứ quy mô, tính chất của gói thầu và
pháp luật về xây dựng mà bên mời thầu quy định yêu cầu về nhân sự chủ chốt như chỉ huy trưởng công
trình, chủ nhiệm kỹ thuật thi công, chủ nhiệm thiết kế bản vẽ thi công, đội trưởng thi công, giám sát kỹ
thuật, chất lượng… và số năm kinh nghiệm tối thiểu của nhân sự chủ chốt đó cho phù hợp.
Như vậy, trong Mẫu HSMT không có quy định về tiêu chí đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động, mà
chỉ yêu cầu nhà thầu kê khai nhân sự dự kiến huy động có năng lực, kinh nghiệm phù hợp với vị trí đảm
nhiệm, đáp ứng yêu cầu của HSMT.
Đối với trường hợp trên, việc HSMT quy định nhân sự tham gia gói thầu phải là nhân sự thuộc biên chế
nhà thầu, đóng bảo hiểm tại nhà thầu từ 5 năm trở lên là không cần thiết và có thể làm hạn chế sự tham
gia của các nhà thầu. Theo đó, chỉ cần quy định nhà thầu phải kê khai những nhân sự chủ chốt có năng
5


lực đáp ứng các yêu cầu quy định tại HSMT và có thể sẵn sàng huy động cho gói thầu, mà không bắt
buộc nhân sự đó phải được chính nhà thầu đóng bảo hiểm xã hội. Việc đóng bảo hiểm xã hội cho người
lao động phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về lao động.
Trong trường hợp này, nếu các nhân sự chủ chốt do nhà thầu đề xuất có năng lực, kinh nghiệm đáp ứng
yêu cầu nêu trong HSMT và sẵn sàng huy động để tham gia thực hiện gói thầu nếu nhà thầu trúng thầu
thì được coi là đáp ứng yêu cầu về nội dung nhân sự chủ chốt. Trường hợp cần thiết, bên mời thầu có
thể yêu cầu nhà thầu nộp các tài liệu như: hợp đồng lao động giữa nhà thầu với nhân sự chủ chốt, sổ
bảo hiểm xã hội của nhân sự chủ chốt, hợp đồng với công ty cung cấp lao động (trong trường hợp nhà
thầu sử dụng nhân sự chủ chốt của công ty cung cấp lao động)… để làm rõ, chứng minh khả năng huy
động nhân sự chủ chốt của nhà thầu.

10. Hỏi: Chúng tôi đang tiến hành lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu (KHLCNT) cho gói
thầu xây lắp áp dụng loại hợp đồng trọn gói, thời gian thực hiện hợp đồng là 06
tháng. Vậy khi lập giá gói thầu trong KHLCNT có cần phải tính toán cả chi phí dự
phòng hay không? Trường hợp trong giá gói thầu có bao gồm cả chi phí dự phòng
trượt giá, dự phòng phát sinh khối lượng nhưng thực tế khi thực hiện hợp đồng lại
không xảy ra trượt giá, phát sinh khối lượng thì xử lý như thế nào và nhà thầu có
được thanh toán khoản chi phí dự phòng trượt giá và phát sinh khối lượng hay
không?
Trả lời: Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 (Điểm a Khoản 2 Điều 35 và Điểm b Khoản 1 Điều 62) quy
định giá gói thầu được tính đúng, tính đủ toàn bộ chi phí để thực hiện gói thầu, kể cả chi phí dự phòng,
phí, lệ phí và thuế. Khi áp dụng hợp đồng trọn gói, giá gói thầu để làm căn cứ xét duyệt trúng thầu phải
bao gồm cả chi phí cho các yếu tố rủi ro có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng, chi phí dự
phòng trượt giá.
Như vậy, theo quy định nêu trên thì giá gói thầu trong KHLCNT đối với hợp đồng trọn gói và các loại hợp
đồng khác đều phải bao gồm chi phí dự phòng. Tuy nhiên, chủ đầu tư cần lưu ý, theo hướng dẫn tại
Khoản 2 Điều 5 Thông tư số 10/2015/TT-BKHĐT ngày 26/10/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đối với
các gói thầu có thời gian thực hiện hợp đồng ngắn, không phát sinh rủi ro, trượt giá thì khi lập giá gói
thầu, chi phí dự phòng được tính bằng không. Chi phí dự phòng do chủ đầu tư xác định theo tính chất
từng gói thầu nhưng không được vượt mức tối đa do pháp luật chuyên ngành quy định (chẳng hạn nếu
mức dự phòng tối đa theo quy định của pháp luật chuyên ngành là 10% chi phí xây dựng thì tùy theo
quy mô, tính chất của gói thầu để tính toán mức chi phí dự phòng trong khoảng từ 0% đến 10% chi phí
xây dựng của gói thầu).
Đối với gói thầu áp dụng loại hợp đồng trọn gói, khi tham dự thầu, nhà thầu phải tính toán và phân bổ
chi phí dự phòng vào trong giá dự thầu; không tách riêng phần chi phí dự phòng mà nhà thầu đã phân
bổ trong giá dự thầu để xem xét, đánh giá trong quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu về tài chính, thương
mại (Khoản 3 Điều 5 Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT ngày 06/5/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư).
Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 62 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, hợp đồng trọn gói là hợp
đồng có giá cố định trong suốt thời gian thực hiện đối với toàn bộ nội dung công việc trong hợp đồng.
Việc thanh toán đối với hợp đồng trọn gói được thực hiện nhiều lần trong quá trình thực hiện hoặc thanh
toán một lần khi hoàn thành hợp đồng. Tổng số tiền mà nhà thầu được thanh toán cho đến khi hoàn
thành các nghĩa vụ theo hợp đồng bằng đúng giá ghi trong hợp đồng.
Như vậy, việc thanh toán cho nhà thầu thực hiện theo quy định nêu trên mà không phụ thuộc vào việc có
xảy ra trượt giá, phát sinh khối lượng nằm trong phạm vi hợp đồng đã ký hay không.

11. Hỏi: Năm 2016, Chủ đầu tư M tiến hành thủ tục sơ tuyển đối với một gói thầu xây
lắp. Trong đó, hồ sơ mời sơ tuyển (HSMST) quy định nhà thầu cần liệt kê các hợp
đồng tương tự đã thực hiện và hoàn thành trong các năm 2012, 2013, 2014. Nhà thầu
A tham dự thầu gói thầu và có một số hợp đồng ký kết năm 2012 nhưng hoàn thành
năm 2015. Trong trường hợp này, bên mời thầu có được xem xét các hợp đồng hoàn
thành năm 2015 để tính năng lực, kinh nghiệm của Nhà thầu A hay không?
Trả lời: Theo hướng dẫn tại Ghi chú số 5 Mục 2.1 Chương III Mẫu hồ sơ mời thầu (HSMT) xây lắp ban
hành kèm Thông tư 03/2015/TT-BKHĐT ngày 6/5/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chủ đầu tư căn cứ
vào quy mô, tính chất của gói thầu và tình hình thực tế của ngành, địa phương mà có thể quy định nhà
thầu phải có kinh nghiệm thi công một số gói thầu tương tự trong khoảng thời gian từ 3 năm đến 5 năm.
6


Việc quy định nhà thầu phải có kinh nghiệm thi công gói thầu tương tự trong khoảng thời gian từ 3 năm
đến 5 năm gần nhất so với thời điểm tổ chức sơ tuyển nhằm mục đích đánh giá một cách chính xác về
kinh nghiệm và năng lực của nhà thầu tại thời điểm sơ tuyển, đồng thời không làm hạn chế sự tham dự
của nhà thầu.
Đối với trường hợp nêu trên, do thời gian bắt đầu tổ chức sơ tuyển là năm 2016 nên việc HSMST quy
định chỉ xem xét các hợp đồng tương tự mà nhà thầu đã hoàn thành trong khoảng thời gian từ năm
2012 đến năm 2014 là chưa phù hợp, làm hạn chế sự tham gia của nhà thầu, làm giảm tính cạnh tranh
trong đấu thầu. Theo đó, trường hợp bên mời thầu đã phát hành HSMST nhưng chưa đóng sơ tuyển thì
phải sửa đổi HSMST bằng cách gửi văn bản sửa đổi tới tất cả các nhà thầu đã nhận HSMST, đồng thời
gia hạn thời điểm đóng sơ tuyển (nếu cần thiết) trên cơ sở bảo đảm đủ thời gian để nhà thầu hoàn chỉnh
hồ sơ dự sơ tuyển.
Trường hợp đã đóng sơ tuyển thì coi đây là tình huống trong đấu thầu phát sinh ngoài quy định tại Điều
117 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP. Theo đó, chủ đầu tư cần xem xét, quyết định xử lý tình huống theo
hướng yêu cầu tất cả các nhà thầu tham dự sơ tuyển kê khai các hợp đồng tương tự đã hoàn thành
trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến trước thời điểm đóng sơ tuyển để xem xét, đánh giá về kinh
nghiệm thi công gói thầu tương tự.

12. Mục 2.1 Chương II Mẫu HSYC chào hàng cạnh tranh xây lắp ban hành kèm theo
Thông tư số 11/2015/TT-BKHĐT (Mẫu số 03) quy định căn cứ quy mô, tính chất của
gói thầu mà bên mời thầu có thể tham khảo tiêu chuẩn đánh giá về năng lực và kinh
nghiệm. Hỏi: Ban Quản lý dự án xây dựng tỉnh A đang tổ chức lựa chọn nhà thầu
cho gói thầu xây lắp theo hình thức chào hàng cạnh tranh. Trên địa bàn tỉnh này, có
rất nhiều doanh nghiệp mới thành lập từ 1 năm đến 2 năm. Để tạo điều kiện cho các
nhà thầu địa phương tham gia chào hàng, hồ sơ yêu cầu (HSYC) có thể quy định tiêu
chuẩn đánh giá về năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu trong khoảng thời gian 2 năm
trước thời điểm đóng thầu được không, hay nhất thiết phải tuân thủ đúng theo
hướng dẫn của Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định
chi tiết lập mẫu HSMT xây lắp (TT03) là từ 3 năm đến 5 năm?
Trả lời: Mục 2.1 Chương II Mẫu HSYC chào hàng cạnh tranh xây lắp ban hành kèm theo Thông tư số
11/2015/TT-BKHĐT (Mẫu số 03) quy định căn cứ quy mô, tính chất của gói thầu mà bên mời thầu có thể
tham khảo tiêu chuẩn đánh giá về năng lực và kinh nghiệm quy định tại Mẫu hồ sơ mời thầu (HSMT) số
01 ban hành kèm theo TT03 để quy định cho phù hợp, tránh đưa các điều kiện nhằm hạn chế sự tham
gia của nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra sự cạnh tranh không bình
đẳng.
Theo đó, đối với gói thầu xây lắp có giá trị dưới 5 tỷ đồng, áp dụng hình thức chào hàng cạnh tranh thì
chỉ có các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ mới được phép tham gia chào hàng theo quy định tại Khoản 3
Điều 6 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (NĐ63). Khi lập HSYC, chủ đầu tư, bên mời căn cứ vào quy mô,
tính chất của gói thầu hoặc năng lực của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh để đưa ra tiêu chuẩn đánh giá
năng lực và kinh nghiệm cho phù hợp, trường hợp quy định tiêu chuẩn đánh giá về năng lực, kinh
nghiệm của nhà thầu trong khoảng thời gian từ 3 năm đến 5 năm trước thời điểm đóng thầu dẫn đến
hạn chế nhà thầu tham dự thầu, làm giảm tính cạnh tranh của gói thầu thì bên mời thầu có thể quy định
tiêu chuẩn đánh giá về năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu trong khoảng thời gian 2 năm trước thời
điểm đóng thầu nhằm thu hút nhiều nhà thầu tham dự, tăng tính cạnh tranh của gói thầu.
Ngoài ra, trường hợp gói thầu xây lắp có giá dưới 5 tỷ đồng, đã có thiết kế bản vẽ thi công được phê
duyệt và là công trình đơn giản mà nhà thầu không cần nhiều thời gian để chuẩn bị hồ sơ đề xuất
(HSĐX)/báo giá thì được phép áp dụng hình thức chào hàng cạnh tranh. Trường hợp công trình đòi hỏi
nhà thầu phải mất nhiều thời gian hơn để chuẩn bị HSĐX/báo giá so với thời gian chuẩn bị HSĐX tối
thiểu quy định tại Điểm a Khoản 6 Điều 58 NĐ63 thì cần áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu khác cho
phù hợp.

13. Bên mời thầu X đang tổ chức đấu thầu rộng rãi trong nước một gói thầu mua
sắm hàng hóa thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu thầu. Đối với nội dung bảo
đảm dự thầu, đơn vị tư vấn xây dựng hồ sơ mời thầu (HSMT) đề xuất quy định trong
chỉ dẫn nhà thầu như sau: “Trường hợp thực hiện biện pháp bảo đảm dự thầu bằng
hình thức thư bảo lãnh, nhà thầu phải nộp cùng hồ sơ dự thầu (HSDT) bảo lãnh dự
thầu do một ngân hàng phát hành với giá trị và thời gian có hiệu lực như quy định tại
7


Bảng dữ liệu đấu thầu. Bảo đảm dự thầu phải do một ngân hàng hoạt động hợp pháp
tại Việt Nam phát hành…”. Hỏi: Nội dung yêu cầu về bảo đảm dự thầu như trên có
phù hợp với quy định của pháp luật về đấu thầu không?
Trả lời: Điểm d, Khoản 2, Điều 18 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (NĐ63) quy định HSDT hợp lệ phải có
bảo đảm dự thầu với giá trị và thời hạn hiệu lực đáp ứng yêu cầu của HSMT. Đối với trường hợp quy
định bảo đảm dự thầu theo hình thức nộp thư bảo lãnh thì thư bảo lãnh phải được đại diện hợp pháp
của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam ký
tên với giá trị và thời hạn hiệu lực, đơn vị thụ hưởng theo yêu cầu của HSMT.
Như vậy, theo quy định nêu trên của NĐ63 thì bảo lãnh của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng
nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam đều sẽ được xem xét. Nội dung này của NĐ63
cũng phù hợp với quy định nêu tại Khoản 18 và Khoản 1 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng. Cụ thể,
Khoản 18 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng quy định: Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng,
theo đó, tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ
tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ
đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận. Còn Khoản 1
Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng quy định: Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi
ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.
Căn cứ quy định của NĐ63 và Luật Các tổ chức tín dụng, các Mẫu HSMT gói thầu xây lắp, mua sắm
hàng hóa ban hành kèm theo Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT ngày 06/5/2015 và Thông tư số
05/2015/TT-BKHĐT ngày 16/6/2016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đều đã hướng dẫn hình thức bảo đảm
dự thầu quy định trong HSMT có thể là thư bảo lãnh của ngân hàng hoặc của tổ chức tín dụng. Như vậy,
cần hiểu là khi nhà thầu thực hiện biện pháp bảo đảm dự thầu bằng thư bảo lãnh thì thư đó có thể do
ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng không phải ngân hàng hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng phát
hành.
Đối với trường hợp nêu trên, việc HSMT quy định nếu nhà thầu thực hiện biện pháp bảo đảm dự thầu
bằng hình thức thư bảo lãnh thì thư bảo lãnh phải do ngân hàng phát hành là quá khắt khe và có thể
dẫn tới hạn chế sự tham gia của các nhà thầu, không phù hợp với quy định nêu tại Khoản 2 Điều 23
NĐ63 cũng như các quy định vừa phân tích ở trên. Theo đó, nội dung này cần được sửa lại theo hướng
dẫn tại Mẫu HSMT tương ứng cho phù hợp.

14. Hỏi: Trong Hồ sơ dự thầu (HSDT) cũng như hợp đồng đã ký kết, nhà thầu cam kết
sẽ cung cấp hàng hóa xuất xứ tại Singapore, nhưng trong quá trình bàn giao thiết bị,
nhà thầu lại đề xuất cung cấp hàng hóa xuất xứ từ Trung Quốc và Việt Nam. Nhà thầu
giải thích rằng, việc thay đổi xuất xứ hàng hóa là do hãng sản xuất thiết bị thay đổi
chính sách nguồn cung cấp hàng hóa vào thị trường Việt Nam và hãng bảo đảm chất
lượng toàn cầu. Chủ đầu tư có được xem xét, chấp thuận đề xuất của nhà thầu về
thay đổi xuất xứ hàng hoá như nêu trên hay không?
Trả lời: Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 (Điều 4 Khoản 32 và Điều 65 Khoản 3) quy định hợp đồng là
văn bản thỏa thuận giữa chủ đầu tư với nhà thầu được lựa chọn để thực hiện gói thầu. Hợp đồng được
ký kết giữa các bên phải phù hợp với nội dung hồ sơ mời thầu (HSMT), HSDT, kết quả thương thảo hợp
đồng, quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu.
Đối với tình huống nêu tại câu hỏi này, trước khi xem xét, quyết định chấp nhận hay không đề xuất của
nhà thầu, chủ đầu tư cần kiểm tra các thông tin mà nhà thầu cung cấp. Trường hợp chính sách nguồn
cung cấp hàng hóa vào Việt Nam của nhà sản xuất được thay đổi trước khi nhà thầu nộp HSDT thì đề
xuất của nhà thầu như trên là không phù hợp; trong trường hợp này, chủ đầu tư cần xem xét, không
chấp thuận đề xuất của nhà thầu.
Trường hợp sau khi trúng thầu, nhà sản xuất mới thay đổi chính sách về nguồn cung cấp hàng hóa và là
tình huống khách quan, không lường trước được của nhà thầu khi lập HSDT thì chủ đầu tư có thể xem
xét, chấp thuận việc thay đổi xuất xứ hàng hóa theo đề nghị của nhà thầu song phải bảo đảm hàng hóa
được đề xuất thay thế vẫn đáp ứng tất cả các yêu cầu về mặt kỹ thuật cũng như chất lượng theo yêu
cầu của HSMT. Trong trường hợp này, chủ đầu tư và nhà thầu cần thương thảo về giá hợp đồng và các
rủi ro có thể xảy ra do việc cung cấp hàng hóa không theo đúng xuất xứ như cam kết trong HSDT và
hợp đồng đã ký giữa hai bên.

8


15. Hỏi: Trong quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu (HSDT) gói thầu xây lắp, tổ chuyên
gia nhận thấy bản chụp hợp đồng tương tự được công chứng mà nhà thầu đóng
kèm theo HSDT có dấu hiệu bất thường nên tổ chuyên gia đã đề nghị bên mời thầu
yêu cầu nhà thầu cung cấp bản gốc để đối chiếu. Tuy nhiên, nhà thầu không cung
cấp bản gốc của hợp đồng này với lý do là bản chụp hợp đồng đã được công chứng
và đề nghị tổ chuyên gia cần căn cứ vào đó để đánh giá và bên mời thầu đã chấp
thuận giải thích của nhà thầu. Việc nhà thầu làm rõ và bên mời thầu chấp thuận giải
thích của nhà thầu như nêu trên có phù hợp với quy định của pháp luật về đấu thầu
hay không?
Trả lời: Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Điều 16 Khoản 1) quy định sau khi mở thầu, nhà thầu có trách
nhiệm làm rõ HSDT theo yêu cầu của bên mời thầu. Trường hợp HSDT của nhà thầu thiếu tài liệu
chứng minh tư cách hợp lệ, năng lực và kinh nghiệm thì bên mời thầu yêu cầu nhà thầu làm rõ, bổ sung
tài liệu để chứng minh tư cách hợp lệ, năng lực và kinh nghiệm. Đối với các nội dung đề xuất về kỹ
thuật, tài chính nêu trong HSDT của nhà thầu, việc làm rõ phải bảo đảm nguyên tắc không làm thay đổi
nội dung cơ bản của HSDT đã nộp, không thay đổi giá dự thầu.
Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Điều 15 Khoản 1) quy định việc đánh giá HSDT phải căn cứ vào tiêu
chuẩn đánh giá HSDT và các yêu cầu khác trong HSMT, căn cứ vào HSDT đã nộp, các tài liệu giải thích,
làm rõ HSDT của nhà thầu để bảo đảm lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm, có giải
pháp khả thi để thực hiện gói thầu.
Theo hướng dẫn tại Mục 17 Chương I của Mẫu HSMT xây lắp ban hành kèm theo Thông tư số
03/2015/TT-BKHĐT ngày 06/5/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nhà thầu phải chuẩn bị sẵn sàng các
tài liệu gốc để phục vụ việc xác minh khi có yêu cầu của bên mời thầu.
Theo đó, việc đánh giá, làm rõ HSDT được thực hiện theo quy định nêu trên. Trong quá trình đánh giá
HSDT, trường hợp cần thiết bên mời thầu có thể yêu cầu nhà thầu cung cấp các tài liệu gốc để so sánh,
xác thực thông tin so với bản chụp tài liệu mà nhà thầu đã cung cấp trong HSDT. Việc nhà thầu không
cung cấp tài liệu gốc và bên mời thầu chấp thuận đề nghị này của nhà thầu là không phù hợp với quy
định của pháp luật về đấu thầu, có thể dẫn đến vi phạm hành vi bị cấm trong đấu thầu theo quy định tại
Điểm c Khoản 4 Điều 89 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 (nhà thầu cố ý cung cấp thông tin không trung
thực trong HSDT làm sai lệch kết quả lựa chọn nhà thầu).

16. Hỏi: Nhà thầu tham dự gói thầu xây lắp áp dụng loại hợp đồng trọn gói, hồ sơ dự
thầu (HSDT) của nhà thầu tuân thủ và đáp ứng các yêu cầu của hồ sơ mời thầu
(HSMT). Trong quá trình thương thảo hợp đồng, chủ đầu tư, bên mời thầu yêu cầu
nhà thầu phải rà soát lại khối lượng của gói thầu theo thiết kế được duyệt để xác
định những khối lượng thừa hoặc thiếu so với thiết kế. Vậy yêu cầu rà soát nêu trên
của chủ đầu tư, bên mời thầu có phù hợp với quy định của pháp luật về đấu thầu
hay không? Trường hợp phát hiện khối lượng bị thiếu so với thiết kế thì xử lý như
thế nào?
Trả lời: Theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 62 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, khi áp dụng loại
hợp đồng trọn gói, đối với gói thầu xây lắp, trong quá trình thương thảo, hoàn thiện hợp đồng, các bên
cần rà soát lại bảng khối lượng công việc theo thiết kế được duyệt; nếu nhà thầu hoặc bên mời thầu
phát hiện bảng số lượng, khối lượng công việc chưa chính xác so với thiết kế, bên mời thầu báo cáo
chủ đầu tư xem xét, quyết định việc điều chỉnh khối lượng công việc để bảo đảm phù hợp với thiết kế.
Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Điều 19 Khoản 3 Điểm b) quy định, trong quá trình đánh giá HSDT và
thương thảo hợp đồng, nếu phát hiện khối lượng mời thầu nêu trong bảng tiên lượng mời thầu thiếu so
với hồ sơ thiết kế thì bên mời thầu yêu cầu nhà thầu phải bổ sung khối lượng công việc thiếu đó trên cơ
sở đơn giá đã chào; trường hợp trong HSDT chưa có đơn giá thì bên mời thầu báo cáo chủ đầu tư xem
xét, quyết định việc áp đơn giá nêu trong dự toán đã phê duyệt đối với khối lượng công việc thiếu so với
hồ sơ thiết kế hoặc đơn giá của nhà thầu khác đã vượt qua bước đánh giá về kỹ thuật nếu đơn giá này
thấp hơn đơn giá đã phê duyệt trong dự toán gói thầu.
Theo đó, việc chủ đầu tư, bên mời thầu cùng với nhà thầu tiến hành rà soát lại bảng khối lượng công
việc theo thiết kế được duyệt là cần thiết và phù hợp với quy định của pháp luật về đấu thầu. Trường
hợp phát hiện khối lượng thiếu so với thiết kế thì nhà thầu phải thực hiện bổ sung công việc thiếu đó
theo quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 19 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP nêu trên. Trong trường hợp này,

9


chủ đầu tư phải bổ sung kinh phí đối với phần khối lượng bị tính toán thiếu vào trong giá đề nghị trúng
thầu.
Trường hợp dự toán đã lập cho gói thầu tính thiếu khối lượng so với thiết kế thì chủ đầu tư phải phê
duyệt lại dự toán.
Ngoài ra, chủ đầu tư cần lưu ý, trường hợp sử dụng nhà thầu tư vấn để lập hồ sơ thiết kế, HSMT thì
trong hợp đồng giữa chủ đầu tư, bên mời thầu với nhà thầu tư vấn phải có quy định về trách nhiệm của
các bên trong việc xử lý, đền bù đối với việc tính toán sai số lượng, khối lượng công việc theo quy định
tại Điểm đ Khoản 1 Điều 62 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13.

17. Hỏi: Trường hợp chấm dứt hợp đồng đối với nhà thầu vi phạm hợp đồng thì khối
lượng công việc còn lại có phải hình thành gói thầu mới để tổ chức lựa chọn nhà
thầu hay không? Hình thức lựa chọn nhà thầu nào sẽ được áp dụng? Trường hợp áp
dụng chỉ định thầu thì có bắt buộc phải thuộc hạn mức chỉ định thầu hay không và
có được phê duyệt dự toán cho phần công việc còn lại cho phù hợp để làm cơ sở
chỉ định thầu không?
Trả lời: Nghị định 63/2014/NĐ-CP (Điều 117 Khoản 11) quy định về cách thức xử lý tình huống trường
hợp nhà thầu thực hiện gói thầu vi phạm hợp đồng, không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng,
làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ, chất lượng, hiệu quả của gói thầu.
Theo đó, trường hợp khẳng định việc chậm tiến độ do lỗi của nhà thầu, làm ảnh hưởng nghiêm trọng
tiến độ, chất lượng, hiệu quả của gói thầu thì chủ đầu tư xem xét, báo cáo người có thẩm quyền quyết
định cho phép chấm dứt hợp đồng với nhà thầu đó. Phần công việc còn lại chưa được thực hiện được
phép áp dụng chỉ định thầu hoặc các hình thức lựa chọn nhà thầu khác trên cơ sở bảo đảm chất lượng,
tiến độ của gói thầu và do người có thẩm quyền quyết định.
Trường hợp áp dụng hình thức chỉ định thầu thì không cần phải tuân thủ theo hạn mức chỉ định thầu quy
định tại Điều 54 Nghị định 63/2014/NĐ-CP. Trong trường hợp này, giá trị phần khối lượng công việc
chưa thực hiện được giao (chỉ định thầu) cho nhà thầu mới thực hiện theo đúng giá trị ghi trong hợp
đồng trước đó trừ đi giá trị của phần khối lượng công việc mà nhà thầu cũ đã thực hiện. Như vậy, phần
khối lượng công việc được chỉ định cho nhà thầu mới không được tính toán, cập nhật theo giá thị
trường tại thời điểm chấm dứt hợp đồng.
Trường hợp không áp dụng hình thức chỉ định thầu thì phần khối lượng công việc chưa thực hiện được
tách thành gói thầu mới và tổ chức lựa chọn nhà thầu theo quy định. Trong trường hợp này, chủ đầu tư
phải phê duyệt lại dự toán cho phần công việc còn lại trên cơ sở cập nhật các quy định của pháp luật
hiện hành.
Bên cạnh đó, trường hợp phải chấm dứt hợp đồng với nhà thầu vi phạm để thay thế nhà thầu mới, trong
vòng 05 ngày làm việc, kể từ ngày ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng với nhà thầu vi phạm, chủ
đầu tư phải gửi thông báo đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư để xem xét, đăng tải thông tin nhà thầu vi phạm
trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia và Báo Đấu thầu; trong thông báo phải nêu rõ lý do nhà thầu vi
phạm dẫn tới phải chấm dứt hợp đồng, hình thức lựa chọn nhà thầu thay thế, tên nhà thầu được chỉ
định trong trường hợp áp dụng hình thức chỉ định thầu.

18. Hỏi: Công ty X tham dự đấu thầu rộng rãi trong nước gói thầu xây lắp. Do sơ
suất, trong hồ sơ dự thầu (HSDT) của Công ty nộp cho bên mời thầu không đóng
kèm văn bản xác nhận của cơ quan thuế về việc Công ty đã hoàn thành nghĩa vụ
thuế đối với Nhà nước. Vì vậy, sau khi đóng thầu (9h ngày 25/8/2016), Công ty mới
gửi văn bản xác nhận của cơ quan thuế (văn bản xác nhận của cơ quan thuế ký ngày
26/8/2016) trong đó xác nhận tính đến ngày 25/8/2016, Công ty đã hoàn thành nghĩa
vụ thuế đối với Nhà nước. Vậy, Công ty có được dùng văn bản xác nhận của cơ
quan thuế sau thời điểm đóng thầu như nêu trên để chứng minh năng lực về tài
chính của mình và văn bản xác nhận này có được chấp nhận, đánh giá hay không?
Trả lời: Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Điều 15 Khoản 1) quy định việc đánh giá HSDT phải căn cứ vào
tiêu chuẩn đánh giá HSDT và các yêu cầu khác trong hồ sơ mời thầu (HSMT), căn cứ vào HSDT đã
nộp, các tài liệu giải thích, làm rõ HSDT của nhà thầu để bảo đảm lựa chọn được nhà thầu có đủ năng
lực và kinh nghiệm, có giải pháp khả thi để thực hiện gói thầu.

10


Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Điều 16 Khoản 1 và Khoản 2) quy định sau khi mở thầu, nhà thầu có trách
nhiệm làm rõ HSDT theo yêu cầu của bên mời thầu. Trường hợp HSDT của nhà thầu thiếu tài liệu
chứng minh tư cách hợp lệ, năng lực và kinh nghiệm thì bên mời thầu yêu cầu nhà thầu làm rõ, bổ sung
tài liệu để chứng minh tư cách hợp lệ, năng lực và kinh nghiệm. Đối với các nội dung đề xuất về kỹ
thuật, tài chính nêu trong HSDT của nhà thầu, việc làm rõ phải bảo đảm nguyên tắc không làm thay đổi
nội dung cơ bản của HSDT đã nộp, không thay đổi giá dự thầu. Trường hợp sau khi đóng thầu, nếu nhà
thầu phát hiện HSDT thiếu các tài liệu chứng minh tư cách hợp lệ, năng lực và kinh nghiệm thì nhà thầu
được phép gửi tài liệu đến bên mời thầu để làm rõ về tư cách hợp lệ, năng lực và kinh nghiệm của
mình. Bên mời thầu có trách nhiệm tiếp nhận những tài liệu làm rõ của nhà thầu để xem xét, đánh giá;
các tài liệu bổ sung, làm rõ về tư cách hợp lệ, năng lực và kinh nghiệm được coi như một phần của
HSDT.
Đối với trường hợp nêu trên, việc sau thời điểm đóng thầu, nếu nhà thầu phát hiện trong HSDT đã nộp
thiếu văn bản xác nhận của cơ quan thuế thì nhà thầu được phép bổ sung văn bản xác nhận đã hoàn
thành nghĩa vụ thuế của cơ quan thuế để chứng minh năng lực tài chính của mình sau thời điểm đóng
thầu. Trong trường hợp này, bên mời thầu phải tiếp nhận văn bản xác nhận của cơ quan thuế để làm cơ
sở đánh giá HSDT của nhà thầu.
Trường hợp việc xác nhận của cơ quan thuế diễn ra sau thời điểm đóng thầu thì bên mời thầu, tổ
chuyên gia phải xem xét đến các yếu tố về thời điểm lập tờ khai nộp thuế, thời điểm nộp tiền đóng thuế
của nhà thầu. Nếu thời điểm lập tờ khai nộp thuế, thời điểm nộp tiền đóng thuế của nhà thầu được thực
hiện trước thời điểm đóng thầu thì văn bản xác nhận việc nộp thuế của cơ quan thuế được coi là hợp lệ
để xem xét, đánh giá; ngược lại, nếu là sau thời điểm đóng thầu thì được coi là không hợp lệ.
Ngoài ra, để nâng cao tính cạnh tranh trong đấu thầu, trường hợp sau khi đóng thầu, nếu nhà thầu
không phát hiện ra HSDT của mình thiếu văn bản xác nhận của cơ quan thuế thì trong quá trình đánh
giá HSDT, bên mời thầu cần yêu cầu nhà thầu làm rõ, bổ sung tài liệu chứng minh đến trước thời điểm
đóng thầu, nhà thầu đã hoàn thành nghĩa vụ thuế theo quy định (yêu cầu nhà thầu bổ sung văn bản xác
nhận của cơ quan thuế) để làm cơ sở đánh giá về năng lực tài chính của nhà thầu.

19. Hỏi: Nhà máy in C trước đây là đơn vị hạch toán phụ thuộc Tập đoàn B. Khi đó,
Tập đoàn B tham gia đấu thầu và nếu trúng thầu thì giao một số gói thầu cho Nhà
máy in C thực hiện. Do cơ cấu lại Tập đoàn B, Nhà máy in đã được tách ra thành một
pháp nhân độc lập, sau đó tiếp tục được điều chuyển nguyên trạng, sáp nhập về Nhà
thầu A. Trong trường hợp này, khi chuẩn bị hồ sơ dự thầu (HSDT) tham gia đấu thầu,
Nhà thầu A có được kế thừa năng lực, kinh nghiệm của Nhà máy in C khi còn trực
thuộc Tập đoàn B không?
Trả lời: Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Điều 18 Khoản 1 và Khoản 3) quy định, HSDT của nhà thầu phải
bao gồm các tài liệu chứng minh năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu, đồng thời việc đánh giá HSDT
bao gồm bước đánh giá về năng lực và kinh nghiệm.
Liên quan đến việc tách, sáp nhập pháp nhân, có thể tìm hiểu quy định tại Điều 89 và Điều 91 Bộ luật
Dân sự 2015. Theo đó, sau khi tách, pháp nhân bị tách và pháp nhân được tách thực hiện quyền, nghĩa
vụ dân sự của mình phù hợp với mục đích hoạt động. Sau khi sáp nhập, pháp nhân được sáp nhập
chấm dứt tồn tại; quyền và nghĩa vụ dân sự của pháp nhân được sáp nhập được chuyển giao cho pháp
nhân sáp nhập. Ngoài ra, đối với các doanh nghiệp, việc tách, sáp nhập được quy định tại Luật Doanh
nghiệp 2014 (Điều 193 và Điều 195).
Đối với trường hợp nêu trên, Nhà máy in C trước đây trực thuộc Tập đoàn B và đã được Tập đoàn B
giao thực hiện một số hợp đồng in mà Tập đoàn trúng thầu. Vì vậy, sau khi tách ra thành pháp nhân độc
lập thì Nhà máy in C được hiểu là có kinh nghiệm thực hiện các hợp đồng mà trên thực tế nhà máy này
đã thực hiện khi còn trực thuộc Tập đoàn B. Tiếp đó, khi Nhà máy được sáp nhập vào Nhà thầu A thì
năng lực, kinh nghiệm của Nhà thầu A được hiểu là bao gồm năng lực, kinh nghiệm của Nhà máy in C
trước khi được sáp nhập. Tóm lại, khi Nhà máy in C có năng lực, kinh nghiệm thực hiện hợp đồng thì
năng lực, kinh nghiệm thực hiện hợp đồng này sẽ được tính vào năng lực, kinh nghiệm của Nhà thầu A
sau khi Nhà máy in C được sáp nhập vào nhà thầu này.

20. Hỏi: Công ty A liên danh với Công ty B để tham dự thầu gói thầu do bên mời thầu
X tổ chức và đã được trao hợp đồng vào năm 2015. Trong quá trình tham dự thầu,
thành viên liên danh A, B đều tham gia lập hồ sơ dự thầu và mỗi thành viên ký vào
phần kê khai năng lực, kinh nghiệm của mình. Trong quá trình đánh giá hồ sơ dự
11


thầu, tổ chuyên gia đấu thầu phát hiện thành viên liên danh B thuộc nhà thầu liên
danh A - B đã kê khai không trung thực nhiều thông tin, làm giả hồ sơ liên quan đến
năng lực, kinh nghiệm của mình khi tham dự thầu nên đã báo cáo bên mời thầu.
Trong trường hợp này, bên mời thầu X cần xử lý vi phạm đối với thành viên liên
danh B hay với nhà thầu liên danh A - B?
Trả lời: Luật Đấu thầu (Điều 4 Khoản 35) quy định nhà thầu chính là nhà thầu chịu trách nhiệm tham dự
thầu, đứng tên dự thầu và trực tiếp ký, thực hiện hợp đồng nếu được lựa chọn. Nhà thầu chính có thể là
nhà thầu độc lập hoặc thành viên của nhà thầu liên danh. Như vậy, khi tham gia đấu thầu thì tất cả thành
viên liên danh đều là nhà thầu chính.
Luật Đấu thầu (Điều 89) quy định một trong các hành vi bị cấm trong đấu thầu là trình bày sai một cách
cố ý hoặc làm sai lệch thông tin, hồ sơ, tài liệu của một bên trong đấu thầu nhằm thu được lợi ích tài
chính hoặc lợi ích khác hoặc nhằm trốn tránh bất kỳ một nghĩa vụ nào.
Đối với trường hợp nêu trên, nhà thầu liên danh sử dụng hồ sơ giả do thành viên liên danh B cung cấp
để làm sai lệch kết quả lựa chọn nhà thầu thì nhà thầu liên danh này bị coi là vi phạm Điều 89 Luật Đấu
thầu. Trong trường hợp này, hồ sơ dự thầu của nhà thầu bị loại và việc xử phạt phải được áp dụng với
tất cả các nhà thầu liên danh, bao gồm Công ty A và Công ty B vì (i) các thành viên liên danh đều là nhà
thầu chính khi tham gia đấu thầu và đều phải chịu trách nhiệm nếu vi phạm pháp luật về đấu thầu; (ii)
văn bản thỏa thuận liên danh thể hiện sự ràng buộc không thể tách rời của các thành viên để tham gia
đấu thầu, do vậy, hành vi vi phạm pháp luật đấu thầu của nhà thầu liên danh không thể coi là hành vi vi
phạm của riêng một thành viên nào đó trong liên danh. Do vậy, khi tìm kiếm đối tác để liên danh tham dự
thầu thì các nhà thầu phải có các thông tin chính xác về đối tác của mình, nhất là về năng lực, kinh
nghiệm để tránh các rủi ro đáng tiếc như Công ty A khi liên danh với Công ty B trong tình huống này.

21. Hỏi: Bên mời thầu X tổ chức lựa chọn nhà thầu một gói thầu thuộc phạm vi điều
chỉnh của Luật Đấu thầu. Hồ sơ mời thầu quy định hồ sơ dự thầu phải có hiệu lực
120 ngày và thời điểm đóng thầu là 9h ngày 07/9/2016. Trong quá trình đánh giá hồ
sơ dự thầu, tổ chuyên gia nhận thấy Nhà thầu A chào thời gian có hiệu lực của hồ sơ
dự thầu là 120 ngày, từ thời điểm mở thầu là 9h30 ngày 07/9/2015. Trong trường hợp
này, việc Nhà thầu A chào thời gian hiệu lực của hồ sơ dự thầu có được coi đáp ứng
yêu cầu của hồ sơ mời thầu hay không?
Trả lời: Luật Đấu thầu (Điều 4 Khoản 42) quy định thời gian có hiệu lực của hồ sơ dự thầu là số ngày
được quy định trong hồ sơ mời thầu và được tính kể từ ngày có thời điểm đóng thầu đến ngày cuối
cùng có hiệu lực theo quy định trong hồ sơ mời thầu. Từ thời điểm đóng thầu đến hết 24 giờ của ngày
đóng thầu được tính là 01 ngày.
Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Điều 18 Khoản 2 Điểm c) quy định hồ sơ dự thầu hợp lệ phải có hiệu lực
đáp ứng yêu cầu theo quy định của hồ sơ mời thầu.
Đối với trường hợp trên, nếu hồ sơ mời thầu quy định hồ sơ dự thầu phải có hiệu lực 120 ngày và thời
điểm đóng thầu là 9h ngày 07/9/2016 thì các hồ sơ dự thầu ghi thời gian có hiệu lực là 120 ngày kể từ
ngày 07/9/2016 hoặc kể từ 9h ngày 07/9/2016 được coi là đáp ứng yêu cầu về thời gian có hiệu lực.
Trường hợp hồ sơ dự thầu ghi thời gian có hiệu lực với điểm bắt đầu muộn hơn thời điểm đóng thầu (ví
dụ: 9h30 ngày 07/9/2015) bị coi là không đáp ứng yêu cầu về thời gian có hiệu lực.
Hiện nay, một trong các sai sót thường gặp khi nhà thầu chuẩn bị hồ sơ dự thầu là ghi sai hiệu lực của
hồ sơ dự thầu. Vì vậy, để hạn chế các sai sót này, nhà thầu khi chuẩn bị hồ sơ dự thầu, nên đọc kỹ
thông tin trong chỉ dẫn nhà thầu về thời điểm đóng thầu, mở thầu, ngày bắt đầu và số ngày có hiệu lực.
Ngoài ra, chỉ cần ghi ngày bắt đầu có hiệu lực (không cần ghi cụ thể thời điểm, giờ bắt đầu) và số ngày
có hiệu lực thì hồ sơ dự thầu đã được đánh giá đáp ứng yêu cầu về thời gian có hiệu lực, ví dụ: Có thể
ghi là 120 ngày kể từ ngày 07/9/2016, không nhất thiết phải ghi là 120 ngày kể từ 9h00 ngày 07/9/2016.

22. Hỏi: Bên mời thầu X tổ chức lựa chọn nhà thầu cho một gói thầu và áp dụng Mẫu
hồ sơ mời thầu (HSMT) gói thầu mua sắm hàng hóa ban hành kèm Thông tư số
05/2015/TT-BKHĐT (TT05). Trong yêu cầu về năng lực tài chính có yêu cầu giá trị tài
sản ròng của nhà thầu trong năm gần nhất phải dương. Nhà thầu A tham dự thầu gói
thầu này và chào giá thấp nhất theo kết quả ghi nhận tại lễ mở thầu. Tuy nhiên, khi
đánh giá hồ sơ dự thầu (HSDT) thì các tài liệu chứng minh năng lực tài chính thể
12


hiện nhà thầu A không đáp ứng yêu cầu về năng lực tài chính nêu trên. Trong trường
hợp này, bên mời thầu X cần đánh giá HSDT của nhà thầu A như thế nào?
Trả lời: Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (NĐ63) quy định việc đánh giá HSDT phải căn cứ vào tiêu chuẩn
đánh giá HSDT và các yêu cầu khác trong HSMT để bảo đảm lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực,
kinh nghiệm, có giải pháp khả thi để thực hiện gói thầu. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 18 NĐ63, nhà
thầu có năng lực, kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu được xem xét, đánh giá về kỹ thuật. Nội dung này đồng
thời được đưa vào quy định tại Chương I, Chương III các Mẫu HSMT gói thầu mua sắm hàng hóa ban
hành kèm TT05.
Đối với chỉ tiêu tài chính giá trị tài sản ròng, đó là sự so sánh giữa tổng tài sản và tổng nợ của doanh
nghiệp. Khi tổng tài sản ít hơn nợ phải trả thì giá trị tài sản ròng sẽ âm (giá trị tài sản ròng = tổng tài sản
– tổng nợ), chỉ tiêu giá trị tài sản ròng âm phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp là không lành
mạnh, từ đó có thể dẫn tới không bảo đảm khả năng tài chính để thực hiện gói thầu.
Đối với trường hợp trên, việc đánh giá năng lực tài chính của nhà thầu phải căn cứ vào tiêu chuẩn đánh
giá đã quy định trong HSMT. Khi HSMT quy định nhà thầu phải có giá trị tài sản ròng năm gần nhất
dương thì nhà thầu không có giá trị tài sản ròng dương trong năm gần nhất bị coi là không đáp ứng yêu
cầu của HSMT đối với nội dung này. Các nhà thầu không đáp ứng yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm
(bao gồm năng lực tài chính) thì không được xem xét ở bước tiếp theo.
Tóm lại, đấu thầu là một cuộc thi minh bạch và bình đẳng, trong đó các nhà thầu đã được thông báo rõ
thể lệ trong HSMT. Do vậy, trong trường hợp này, bên mời thầu phải tôn trọng quy định do chính mình
đưa ra, nghĩa là không được đánh giá nhà thầu A là đáp ứng yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm vì thấy
nhà thầu đó chào giá thấp nhất theo thông tin ghi nhận tại lễ mở thầu.

23. Hỏi: Nhà thầu A tham dự thầu gói thầu của một bên mời thầu (BMT) nhưng trong
đơn dự thầu nhà thầu ghi tên gói thầu từ “Mua sắm, vận chuyển các thiết bị trạm
biến áp 110kV” thành “Mua sắm, vận chuyển thiết bị trạm biến áp 110 KV”. Cũng
trong gói thầu này, nhà thầu X liên danh với nhà thầu Y để tham dự thầu gói thầu và
thống nhất tên gọi của thành viên liên danh trong văn bản thỏa thuận liên danh là
Liên danh Công ty X - Công ty Y. Tuy nhiên, đơn dự thầu của nhà thầu liên danh ghi
là Liên danh Công ty Y - Công ty X. Trong trường hợp này, đơn dự thầu của nhà thầu
A và nhà thầu liên danh Công ty X - Công ty Y có được đánh giá là hợp lệ hay
không?
Trả lời: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 15 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP, việc đánh giá hồ sơ dự thầu
(HSDT) phải căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá HSDT và các yêu cầu khác trong hồ sơ mời thầu (HSMT),
căn cứ vào HSDT đã nộp, các tài liệu giải thích, làm rõ HSDT của nhà thầu để bảo đảm lựa chọn được
nhà thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm, có giải pháp khả thi để thực hiện gói thầu. Theo quy định tại
Điểm b Khoản 2 Điều 18 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP, HSDT hợp lệ phải có đơn dự thầu được đại diện
hợp pháp của nhà thầu ký tên, đóng dấu (nếu có) theo yêu cầu của HSMT; thời gian thực hiện gói thầu
nêu trong đơn dự thầu phải phù hợp với đề xuất về kỹ thuật; giá dự thầu ghi trong đơn dự thầu phải cụ
thể, cố định bằng số, bằng chữ và phải phù hợp, logic với tổng giá dự thầu ghi trong biểu giá tổng hợp,
không đề xuất các giá dự thầu khác nhau hoặc có kèm theo điều kiện gây bất lợi cho chủ đầu tư, BMT.
Đối với nhà thầu liên danh, đơn dự thầu phải do đại diện hợp pháp của từng thành viên liên danh ký tên,
đóng dấu (nếu có) hoặc thành viên đứng đầu liên danh thay mặt liên danh ký đơn dự thầu theo phân
công trách nhiệm trong văn bản thỏa thuận liên danh. Ngoài ra, việc xác định các sai khác, đặt điều kiện
và bỏ sót nội dung (gọi chung là sai sót) cơ bản được hướng dẫn tại Chương I các Mẫu HSMT mua sắm
hàng hóa ban hành kèm Thông tư số 05/2015/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Đối với tình huống vừa nêu, việc đánh giá HSDT, trong đó bao gồm kiểm tra tính hợp lệ của đơn dự
thầu, phải căn cứ các quy định nêu trên. Đối với đơn dự thầu đã đầy đủ các nội dung nêu tại Điểm b
Khoản 2 Điều 18 Nghị định 63/2014/NĐ-CP nhưng ghi thiếu 1 chữ “các” trong tên gói thầu, nếu HSDT
của nhà thầu vẫn chào đủ số lượng thiết bị trạm biến áp 110 kV theo yêu cầu của HSMT thì đơn dự thầu
vẫn được coi là hợp lệ.
Đối với nhà thầu X, trường hợp trong văn bản thỏa thuận liên danh nhà thầu ghi tên là Liên danh Công
ty X - Công ty Y thì HSDT ghi tên nhà thầu là Liên danh Công ty Y - Công ty X vẫn thể hiện được bản

13


chất liên danh của hai nhà thầu thành viên. Do vậy, HSDT của liên danh này vẫn được tiếp tục đánh giá
theo các yêu cầu của HSMT.
Nhìn chung, trong quá trình lập HSDT, một số nhà thầu sẽ có những sai sót không mong muốn, tương
tự như các trường hợp nêu trên. Tuy nhiên, việc xem xét, đánh giá từng sai sót phải được thực hiện cẩn
trọng, không vội lấy đó làm căn cứ để loại nhà thầu. Suy cho cùng, việc tham dự của mỗi nhà thầu đều
góp phần làm tăng tính cạnh tranh, hiệu quả của gói thầu.

24. Hỏi: Bên mời thầu là đơn vị X đang thực hiện gói thầu mua sắm hàng hóa theo
hình thức chào hàng cạnh tranh. Khi lập hồ sơ yêu cầu, đơn vị X dự kiến quy định rõ
xuất xứ, nhãn hiệu và mô tả chi tiết đặc tính kỹ thuật, thiết kế công nghệ, tiêu chuẩn
công nghệ của hàng hóa để các nhà thầu làm cơ sở chào giá trong hồ sơ đề xuất.
Việc quy định cụ thể xuất xứ, nhãn hiệu hàng hóa trong hồ sơ yêu cầu chào hàng
cạnh tranh có phù hợp với quy định của pháp luật về đấu thầu hay không?
Trả lời: Luật Đấu thầu (Điều 89 Khoản 6 Điểm i) quy định một trong các hành vi bị cấm trong đấu thầu là
nêu yêu cầu cụ thể về nhãn hiệu, xuất xứ hàng hoá trong hồ sơ mời thầu đối với gói thầu mua sắm hàng
hoá, xây lắp hoặc gói thầu hỗn hợp khi áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế.
Đối với trường hợp của đơn vị X, việc nêu nhãn hiệu hàng hóa khi lập hồ sơ yêu cầu chào hàng cạnh
tranh không thuộc sự điều chỉnh của quy định nêu trên. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 4 Thông tư số
11/2015/TT-BKHĐT quy định chi tiết lập hồ sơ yêu cầu chỉ định thầu, chào hàng cạnh tranh, đối với gói
thầu áp dụng hình thức chào hàng cạnh tranh, khi đưa ra yêu cầu đối với hàng hóa cần quy định đặc
tính kỹ thuật, tiêu chuẩn sản xuất, tiêu chuẩn chế tạo, công nghệ mang tính chất trung tính, không đưa
ra các đặc tính kỹ thuật, tiêu chuẩn mang tính cá biệt hóa mà không phải là đặc tính cơ bản của sản
phẩm để chỉ một hoặc một số ít nhà thầu đáp ứng yêu cầu, làm hạn chế sự tham gia của các nhà thầu,
gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng. Trường hợp không thể mô tả được hàng hóa cần mua theo đặc
tính kỹ thuật, thiết kế công nghệ, tiêu chuẩn công nghệ thì mới được phép nêu nhãn hiệu, catalô của
một sản phẩm cụ thể để tham khảo, minh họa cho yêu cầu về kỹ thuật của hàng hóa nhưng phải ghi
kèm theo cụm từ “hoặc tương đương” sau nhãn hiệu, catalô, đồng thời quy định rõ nội hàm tương
đương với hàng hóa đó về đặc tính kỹ thuật, tính năng sử dụng, tiêu chuẩn công nghệ và các nội dung
khác (nếu có) mà không quy định tương đương về xuất xứ.
Như vậy, khi bên mời thầu X đã mô tả được hàng hóa cần mua theo đặc tính kỹ thuật, thiết kế công
nghệ, tiêu chuẩn công nghệ thì việc quy định nội dung xuất xứ, nhãn hiệu trong hồ sơ yêu cầu là không
phù hợp với quy định của pháp luật đấu thầu. Ngoài ra, cần lưu ý việc mô tả hàng hóa cần mua phải bảo
đảm không mang tính cá biệt hóa, làm cho chỉ một hoặc một số ít sản phẩm đáp ứng yêu cầu, làm hạn
chế sự tham gia của các nhà thầu khác.

25. Hỏi: Sở Y tế tỉnh X đang tổ chức lựa chọn nhà thầu gói thầu mua sắm hàng hóa
thuộc dự án xây dựng một bệnh viện đa khoa huyện. Trong tiêu chí yêu cầu về
nguồn lực tài chính cho gói thầu, hồ sơ mời thầu (HSMT) có quy định nhà thầu phải
chứng minh khả năng tài chính cho gói thầu với số tiền 5,5 tỷ đồng và một trong các
cách chứng minh là nộp cam kết tín dụng của ngân hàng, tổ chức tín dụng hợp
pháp. Nhà thầu A tham dự thầu gói thầu nêu trên và chứng minh nguồn lực tài chính
của mình bằng cam kết tín dụng từ ngân hàng và hạn mức tín dụng đúng bằng số
tiền yêu cầu trong HSMT. Tuy nhiên, cam kết tín dụng có ghi nội dung sau: Ngân
hàng cam kết cấp tín dụng nếu nhà thầu đáp ứng đầy đủ các điều kiện về cấp tín
dụng theo quy định của pháp luật và quy định của ngân hàng. Trong trường hợp này,
cam kết tín dụng mà nhà thầu đã nộp có được coi là hợp lệ hay không?
Trả lời: Theo hướng dẫn tại Mục 2.1 Chương III Mẫu HSMT gói thầu mua sắm hàng hóa một giai đoạn
một túi hồ sơ ban hành kèm Thông tư số 05/2015/TT-BKHĐT ngày 16/6/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư, khi tham dự thầu, nhà thầu phải chứng minh có các tài sản có khả năng thanh khoản cao hoặc có
khả năng tiếp cận với tài sản có khả năng thanh khoản cao sẵn có, các khoản tín dụng hoặc các nguồn
tài chính khác (không kể các khoản tạm ứng thanh toán theo hợp đồng) để đáp ứng yêu cầu về nguồn
lực tài chính thực hiện gói thầu theo quy định của HSMT.

14


Theo hướng dẫn tại Mẫu số 15 mẫu HSMT nêu trên, trường hợp trong hồ sơ dự thầu nhà thầu có nộp
kèm theo bản cam kết tín dụng của tổ chức tín dụng hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, trong đó cam kết
sẽ cung cấp tín dụng cho nhà thầu để thực hiện gói thầu đang xét với hạn mức tối thiểu bằng giá trị yêu
cầu quy định tại tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng thì nhà thầu
được đánh giá là đáp ứng yêu cầu về nguồn lực tài chính cho gói thầu.
Đối với trường hợp trên, khi tham dự thầu, nếu nhà thầu cung cấp cam kết tín dụng của tổ chức tín dụng
hoạt động hợp pháp tại Việt Nam với giá trị đáp ứng yêu cầu của HSMT thì được đánh giá là đạt đối với
nội dung này. Một thực tế hiển nhiên là việc thực hiện cam kết tín dụng của ngân hàng cho nhà thầu
phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về tín dụng, trong đó có sự ràng buộc và điều kiện giữa hai
bên. Do vậy, trên thực tế thì các ngân hàng sẽ không cấp cam kết tín dụng vô điều kiện cho nhà thầu
nộp cùng với hồ sơ dự thầu.

26. Hỏi: Theo quy định tại Khoản 4 Điều 11 Luật Đấu thầu, thời gian có hiệu lực của
bảo đảm dự thầu được quy định trong hồ sơ mời thầu (HSMT), hồ sơ yêu cầu bằng
thời gian có hiệu lực của hồ sơ dự thầu (HSDT), hồ sơ đề xuất cộng thêm 30 ngày.
Như vậy, trường hợp nhà thầu chào hiệu lực bảo đảm dự thầu bằng hiệu lực HSDT
thì cần được xem xét như thế nào? Tổ chuyên gia đang đánh giá HSDT một gói thầu
thuộc dự án điện lực. HSMT quy định HSDT của nhà thầu phải có hiệu lực tối thiểu
40 ngày kể từ ngày có thời điểm đóng thầu (ngày 22/12/2016). Bảo đảm dự thầu của
nhà thầu phải có hiệu lực không ít hơn 70 ngày kể từ ngày 22/12/2016. Trong HSDT
nhà thầu ghi thời gian có hiệu lực của HSDT là 60 ngày kể từ ngày có thời điểm đóng
thầu. Bảo đảm dự thầu đính kèm HSDT của nhà thầu ghi thời gian có hiệu lực của
bảo đảm dự thầu là 70 ngày kể từ ngày 22/12/2016. Trong trường hợp này, hiệu lực
của HSDT và bảo đảm dự thầu có được coi là đáp ứng yêu cầu của HSMT hay
không?
Trả lời: Nội dung hiệu lực HSDT và bảo đảm dự thầu được quy định tại Khoản 42 Điều 4 và Khoản 4
Điều 11 Luật Đấu thầu. Theo đó, thời gian có hiệu lực của HSDT là số ngày được quy định trong HSMT
và được tính kể từ ngày có thời điểm đóng thầu đến ngày cuối cùng có hiệu lực theo quy định trong
HSMT. Từ thời điểm đóng thầu đến hết 24 giờ của ngày đóng thầu được tính là 01 ngày. Thời gian có
hiệu lực của bảo đảm dự thầu được quy định trong HSMT bằng thời gian có hiệu lực của HSDT cộng
thêm 30 ngày. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 18 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP, trường hợp hiệu lực của
HSDT, hiệu lực của bảo đảm dự thầu không đáp ứng yêu cầu của HSMT thì HSDT sẽ bị đánh giá là
không hợp lệ.
Đối với tình huống trên, khi HSMT quy định thời gian có hiệu lực của HSDT tối thiểu 40 ngày và thời
gian có hiệu lực của bảo đảm dự thầu không ít hơn 70 ngày kể từ ngày có thời điểm đóng thầu thì việc
nhà thầu chào thời gian có hiệu lực của HSDT 60 ngày và thời gian hiệu lực của bảo đảm dự thầu 70
ngày kể từ ngày có thời điểm đóng thầu phải được đánh giá đáp ứng yêu cầu của HSMT về thời gian có
hiệu lực của HSDT và bảo đảm dự thầu.
Trở lại quy định tại Khoản 4 Điều 11 Luật Đấu thầu, quy định này được hiểu là áp dụng cho bên mời
thầu, chủ đầu tư khi xây dựng HSMT. Chẳng hạn, khi đã quy định hiệu lực HSDT là 40 ngày kể từ ngày
có thời điểm đóng thầu thì cần quy định hiệu lực của bảo đảm dự thầu là 70 ngày kể từ ngày có thời
điểm đóng thầu. Các yêu cầu về hiệu lực nêu trong HSMT sẽ được đem ra đối chiếu khi đánh giá HSDT;
theo đó, hiệu lực HSDT, bảo đảm dự thầu được coi là đáp ứng yêu cầu nếu không ngắn hơn quy định
ghi trong HSMT mà không xét đến việc cái này phải dài hơn cái khác 30 ngày.

27. Hỏi: Đơn giá tại hạng mục X trong HSDT của nhà thầu A có phải hiệu chỉnh lại
theo đơn giá dự toán được duyệt hay không? Nếu qua quá trình đánh giá, nhà thầu A
được xếp hạng thứ nhất thì khi mời vào thương thảo hợp đồng có thể thương thảo
để giảm giá tại hạng mục X này hay không?
Trả lời: Theo quy định tại Khoản 17 Điều 4 Luật Đấu thầu năm 2013, giá dự thầu là giá do nhà thầu ghi
trong đơn dự thầu, bao gồm toàn bộ các chi phí để thực hiện gói thầu theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu
(HSMT). Khi tham gia dự thầu, nhà thầu có quyền chào đơn giá đối với các hạng mục công việc trong
gói thầu khác với giá dự toán. Việc tính toán giá dự thầu trong HSDT là do nhà thầu tự quyết định để
đảm bảo cạnh tranh về giá với các nhà thầu khác, đồng thời đảm bảo thực hiện gói thầu hiệu quả, chất

15


lượng theo yêu cầu. Trong tình huống này, việc nhà thầu tham gia đấu thầu rộng rãi và được xếp thứ
nhất nghĩa là mặc dù có một số đơn giá cao bất thường nhưng giá dự thầu của nhà thầu vẫn bảo đảm
cạnh tranh về giá so với các nhà thầu còn lại.
Khoản 3 Điều 19 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP quy định nguyên tắc thương thảo hợp đồng là không tiến
hành thương thảo đối với các nội dung mà nhà thầu đã chào đúng yêu cầu của HSMT. Việc thương thảo
hợp đồng không được làm thay đổi đơn giá dự thầu của nhà thầu sau khi sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch và
trừ đi giá trị giảm giá (nếu có). Do vậy, trường hợp nhà thầu chào hạng mục, công việc đúng theo yêu
cầu của HSMT (mặc dù đơn giá nhà thầu chào cho hạng mục, công việc này cao bất thường) thì không
tiến hành thương thảo về giá đối với nội dung này.

28. Chủ đầu tư có Kế hoạch lựa chọn nhà thầu cho một dự án A, trong đó có Gói
thầu số 1: Cung cấp vật tư thiết bị điện với giá trị khoảng 40 tỷ đồng. Chủ đầu tư ký
hợp đồng với nhà thầu X là nhà thầu trúng thầu Gói thầu số 1 với giá trị 36 tỷ đồng.
Nhà thầu X lại ký hợp đồng mua bán thiết bị giá trị 34 tỷ đồng cho đúng Gói thầu số 1
của dự án A với một nhà thầu Y. Hỏi: Trường hợp nêu trên có phải là hành vi chuyển
nhượng thầu?
Sau đó, nhà thầu X và nhà thầu Y nêu trên lại sử dụng hợp đồng
thực hiện Gói thầu số 1 của dự án A để làm hợp đồng tương tự khi tham gia dự thầu
một gói thầu khác. Trong trường hợp này, chủ đầu tư phải đánh giá 2 hợp đồng của
2 nhà thầu này như thế nào?
Trả lời: Trường hợp bạn Hoàng Long nêu trên đây liên quan đến nhà thầu chính và nhà thầu phụ. Do
đó, trước hết phải làm rõ khái niệm nhà thầu chính và nhà thầu phụ. Theo quy định tại Khoản 35 Điều 4
Luật Đấu thầu 2013, nhà thầu chính là nhà thầu chịu trách nhiệm tham dự thầu, đứng tên dự thầu và
trực tiếp ký, thực hiện hợp đồng nếu được lựa chọn.
Khoản 36 Điều 4 Luật Đấu thầu 2013 quy định nhà thầu phụ là nhà thầu tham gia thực hiện gói thầu
theo hợp đồng được ký với nhà thầu chính. Theo câu hỏi của bạn thì nhà thầu X là nhà thầu chính.
Hiện nay pháp luật về đấu thầu không quy định một mức tỷ lệ cụ thể về việc tham gia thực hiện hợp
đồng giữa nhà thầu phụ và nhà thầu chính; tỷ lệ này có thể quy định theo các pháp luật liên quan (nếu
có). Trường hợp pháp luật liên quan không quy định thì sẽ do chủ đầu tư tự quyết định.
Trường hợp khi tham gia dự thầu nhà thầu chính được phép sử dụng nhà thầu phụ theo một tỷ lệ nhất
định quy định trong hồ sơ mời thầu thì nhà thầu phụ này phải được nêu tên, giá trị thực hiện trong hồ sơ
dự thầu. Chủ đầu tư phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu cho nhà thầu chính X được hiểu là đã chấp
thuận nhà thầu phụ thực hiện gói thầu này. Ngoài ra, nhà thầu chính X được phép sử dụng nhà thầu phụ
khác (gọi là nhà thầu phụ Z) ngoài nhà thầu phụ đã kê khai và phải được chủ đầu tư chấp thuận. Giá trị
phần công việc dành cho nhà thầu phụ Z này phải đảm bảo không quá 10% (hoặc không quá 50 tỷ
đồng) giá trị sau khi trừ phần công việc thuộc trách nhiệm của nhà thầu phụ đã kê khai trong hồ sơ dự
thầu.
Đối chiếu quy định tại Điểm a Khoản 8 Điều 89 của Luật Đấu thầu 2013 về các hành vi bị cấm trong đấu
thầu, trường hợp nhà thầu chính không kê khai nhà thầu phụ trong hồ sơ dự thầu, sau đó chuyển
nhượng cho nhà thầu khác phần công việc thuộc gói thầu có giá trị từ 10% trở lên hoặc dưới 10%
nhưng trên 50 tỷ đồng (sau khi trừ phần công việc thuộc trách nhiệm của nhà thầu phụ) tính trên giá trị
hợp đồng đã ký kết thì bị coi là vi phạm quy định của Luật (hành vi chuyển nhượng thầu).
Sau khi thực hiện hợp đồng, nhà thầu chính và nhà thầu phụ được kê khai năng lực khi tham gia dự
thầu một gói thầu khác tùy và theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu mà được đánh giá là đạt hay không đạt.

29. Hỏi: Dự án xây lắp A thuộc ngành nông nghiệp, cần hoàn thành trong năm. Các
hạng mục công việc được thực hiện rải rác trong phạm vi địa lý rộng nên để bảo
đảm việc hoàn thành trong năm, chủ đầu tư đã tiến hành chia dự án làm 2 gói thầu.
Các gói thầu có nội dung, quy mô, tính chất như nhau và thời gian phải hoàn thành
là giống nhau. Nhà thầu X tham dự cả 02 gói thầu thuộc dự án nêu trên. Khi đánh giá
hồ sơ dự thầu (HSDT) của nhà thầu, tổ chuyên gia nhận thấy trong cả 02 HSDT, các
nhân sự chủ chốt mà nhà thầu đề xuất đều giống nhau. Tuy nhiên, nếu nhà thầu
trúng thầu cả 02 gói thì khó có thể bố trí nhân sự, từ đó không bảo đảm tiến độ dự
16


án. Trong trường hợp này, tổ chuyên gia cần xem xét HSDT của nhà thầu X như thế
nào?
Trả lời: Theo hướng dẫn tại các Mẫu hồ sơ mời thầu (HSMT) xây lắp ban hành kèm Thông tư số
03/2015/TT-BKHĐT ngày 06/5/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nhà thầu phải đề xuất một số vị trí
nhân sự chủ chốt tham gia thực hiện gói thầu theo yêu cầu của HSMT. Theo đó, nhà thầu phải kê khai
những nhân sự chủ chốt có năng lực phù hợp, đáp ứng các yêu cầu quy định tại HSMT và có thể sẵn
sàng huy động cho gói thầu; không được kê khai những nhân sự đã huy động cho gói thầu khác có thời
gian làm việc trùng với thời gian thực hiện gói thầu này. Trường hợp kê khai không trung thực thì nhà
thầu sẽ bị đánh giá là gian lận.
Nghị định số 63/2014/NĐ-CP quy định việc đánh giá HSDT phải căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá HSDT
và các yêu cầu khác trong HSMT, căn cứ vào HSDT đã nộp, các tài liệu giải thích, làm rõ HSDT của nhà
thầu để bảo đảm lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm, có giải pháp khả thi để thực
hiện gói thầu.
Đối với các gói thầu trên, việc đánh giá HSDT (trong đó có nội dung nhân sự chủ chốt) vẫn thực hiện
theo tiêu chuẩn đánh giá quy định trong HSMT. Trường hợp nhà thầu được xếp hạng thứ nhất trong cả
hai gói thầu với đề xuất về nhân sự chủ chốt giống nhau, trong quá trình thương thảo hợp đồng, bên
mời thầu cần yêu cầu nhà thầu làm rõ về khả năng huy động nhân sự cùng lúc thực hiện cả hai gói
thầu. Theo đó:
- Nếu thời gian làm việc của từng nhân sự chủ chốt cho các gói thầu không trùng lặp, bảo đảm việc huy
động đầy đủ nhân sự chủ chốt để thực hiện cả hai gói thầu theo tiến độ thì nhà thầu được đề xuất trúng
thầu các gói thầu này;
- Nếu thời gian làm việc của từng nhân sự chủ chốt cho các gói thầu có sự trùng lặp, dẫn tới không huy
động được đầy đủ nhân sự chủ chốt để thực hiện các gói thầu theo tiến độ thì nhà thầu được lựa chọn
trúng thầu một trong hai gói thầu.
Nhìn chung, khi tham dự thầu, các nhà thầu thường kê khai các nhân sự đáp ứng tốt nhất HSMT nhằm
được trúng thầu. Trong tình huống trên, do 02 gói thầu có nội dung, quy mô, tính chất giống nhau nên
việc đề xuất nhân sự giống nhau là dễ hiểu và không vi phạm nguyên tắc kê khai nhân sự đã đề cập.
Tuy nhiên, đối với mọi gói thầu thì việc đánh giá tính đáp ứng của nhân sự mới chỉ là bước đầu, điều
quan trọng là cần làm rõ khả năng huy động nhân sự đó trong bước thương thảo hợp đồng (nếu nhà
thầu được xếp hạng thứ nhất). Thêm nữa, để bảo đảm tiến độ, chất lượng gói thầu thì việc giám sát tình
hình huy động của các nhân sự chủ chốt mà nhà thầu đề cập trước đây cũng rất quan trọng.

30. Cách tính điểm ưu đãi đối với hồ sơ dự thầu của nhà thầu thuộc đối tượng ưu
đãi khi áp dụng phương pháp kết hợp giữa kỹ thuật và giá như sau...Theo hướng
dẫn tại Mục Chỉ dẫn nhà thầu 31.3 Chương II Bảng Dữ liệu đấu thầu thuộc Mẫu Hồ sơ
mời thầu mua sắm hàng hóa áp dụng phương thức 1 giai đoạn 2 túi hồ sơ ban hành
kèm Thông tư số 05/2016/TT-BKHĐT ngày 16/6/2016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
cách tính điểm ưu đãi đối với hồ sơ dự thầu của nhà thầu thuộc đối tượng ưu đãi khi
áp dụng phương pháp kết hợp giữa kỹ thuật và giá như sau:
Điểm ưu đãi = 0,075 x (giá hàng hóa ưu đãi/giá gói thầu) x điểm tổng hợp [1]
Trong đó: Giá hàng hóa ưu đãi là giá dự thầu sau sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch, trừ đi
giá trị giảm giá của hàng hóa thuộc đối tượng ưu đãi.
Trong khi đó, tại Chương III Tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu của gói thầu nêu trên
có quy định cách xác định điểm tổng hợp như sau:
Điểm tổng hợpđang xét= (K x Điểm kỹ thuậtđang xét+ G x Điểm giáđang xét) + ∆ưu đãi [2]
Trong đó: Điểm kỹ thuậtđang xét là số điểm được xác định tại bước đánh giá về kỹ
thuật;
17


Điểm giáđang xét là số điểm được xác định tại bước đánh giá về giá;
K, G lần lượt là tỷ trọng điểm về kỹ thuật và về giá quy định trong thang điểm tổng
hợp;
∆ưu đãi là điểm giá trị được cộng thêm đối với đối tượng được hưởng ưu đãi theo Mục
31.3 của Chỉ dẫn nhà thầu.
Hỏi: Vậy, điểm tổng hợp trong công thức [1] và [2] có phải là một hay không? Nếu
có, tổ chuyên gia phải bắt đầu từ công thức nào?
Trả lời: Nghị định số 63/2014/NĐ-CP (Điều 24 Khoản 2 Điểm d) quy định công thức tính điểm tổng hợp
đối với phương pháp kết hợp giữa kỹ thuật và giá như sau:
Điểm tổng hợpđang xét = K x Điểm kỹ thuật đang xét + G x Điểm giá đang xét (*)
Trong đó: Điểm kỹ thuật đang xét là số điểm được xác định tại bước đánh giá về kỹ thuật; điểm giá
đang xét là số điểm được xác định tại bước đánh giá về giá.
K, G lần lượt là tỷ trọng điểm về kỹ thuật và về giá quy định trong thang điểm tổng hợp; K + G = 100%.
Tỷ trọng điểm về kỹ thuật (K) và về giá (G) phải được xác định cụ thể trong hồ sơ mời thầu.
Đối với trường hợp trên, nếu gói thầu áp dụng phương pháp kết hợp giữa kỹ thuật và giá thì trước hết
cần xác định điểm tổng hợp của nhà thầu theo công thức (*) vừa nêu. Trường hợp hàng hóa do nhà
thầu chào thuộc đối tượng ưu đãi thì việc tính điểm ưu đãi cho hàng hóa đó thực hiện theo công thức
[1]. Sau đó, điểm tổng hợp để làm cơ sở so sánh, xếp hạng nhà thầu được tính theo công thức số [2].
Ngoài ra, cũng cần lưu ý là điểm ưu đãi nêu tại công thức [1] là điểm ưu đãi tính cho một loại hàng hóa
cụ thể, ∆ƯĐ nêu tại công thức số [2] là tổng số điểm ưu đãi của tất cả các loại hàng hóa thuộc đối tượng
ưu đãi.
Đối với tình huống trên, thoạt nhìn thì có thể có thành viên tổ chuyên gia đấu thầu lúng túng đối với các
công thức tính điểm tổng hợp và điểm ưu đãi (công thức [1] và công thức [2]) vì công thức nào cũng bao
gồm nội dung điểm tổng hợp, điểm ưu đãi. Tuy nhiên, nếu áp dụng đúng nguyên tắc xác định điểm tổng
hợp nêu tại Điều 24 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP thì sẽ dễ dàng cho ra điểm của từng nhà thầu sau khi
đã xét đến yếu tố ưu đãi bằng đúng các công thức nêu trong Mẫu Hồ sơ mời thầu.

31. Ban Quản lý dự án tỉnh X mời thầu Gói thầu Xây lắp. Tại trang 33 của hồ sơ mời
thầu (HSMT) gói thầu này, mục Chỉ dẫn nhà thầu 20.1 đưa ra quy định: “Số lượng
bản chụp HSDT là 3 bản. Trường hợp sửa đổi, thay thế HSDT thì nhà thầu phải nộp
các bản chụp hồ sơ sửa đổi, thay thế với số lượng bằng số lượng bản chụp HSDT”.
Nhưng ở trang 36 của HSMT (mục điều kiện tiên quyết) thì yêu cầu nhà thầu phải nộp
4 bản chụp HSDT. 2 trong số 3 nhà thầu tham dự thầu đã nộp 4 bản chụp HSDT, nhà
thầu còn lại chỉ nộp 3 bản chụp HSDT (nhà thầu A). Hỏi: Liệu nhà thầu A có bị loại vì
chỉ nộp 3 bản chụp HSDT? Cách xử lý tình huống của bên mời thầu như thế nào để
đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật về đấu thầu?
Trả lời: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 15 Nghị định 63/2014/NĐ-CP, việc đánh giá HSDT cần tuân thủ
theo quy định tại Tiêu chuẩn đánh giá HSDT và các yêu cầu của HSMT.
Tại Điểm a Khoản 2 Điều 18 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP và Điểm 1.2 Mục 1 Kiểm tra và đánh giá tính
hợp lệ của HSDT thuộc Chương III Tiêu chuẩn đánh giá HSDT của Thông tư số 03/2015/TT-BKH ngày
6/5/2015 quy định về việc kiểm tra và đánh giá tính hợp lệ của HSDT. Theo đó, Tổ chuyên gia sẽ kiểm
tra việc có bản gốc HSDT hay không. Việc thiếu số lượng bản chụp HSDT không bị đánh giá là HSDT
không hợp lệ, do đó không loại nhà thầu vì việc nộp không đủ số lượng bản chụp HSDT.
Do đó, đối với tình huống nêu trên, các nhà thầu nộp thiếu số lượng HSDT vẫn được tiếp tục đánh giá
mà không bị loại vì thiếu số lượng bản chụp HSDT.
Mặt khác, theo quy định tại Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, Nghị định số 63/2014/NĐ-CP và Thông tư
số 03/2015/TT-BKH ngày 06 tháng 5 năm 2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định chi tiết lập HSMT
gói thầu xây lắp thì không được quy định về điều kiện tiên quyết đối với bản chụp HSDT. Việc Ban Quản
18


lý dự án tỉnh X đưa yêu cầu về số lượng bản chụp HSDT vào mục điều kiện tiên quyết trong HSMT là
không phù hợp.

32. Ban Quản lý dự án X (bên mời thầu) tổ chức lựa chọn nhà thầu gói thầu mua sắm
hàng hóa, áp dụng đấu thầu điện tử trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia (dưới đây
viết tắt là Hệ thống). Bên mời thầu đã phát hành hồ sơ mời thầu (HSMT) và đang
trong giai đoạn đánh giá hồ sơ dự thầu (HSDT). Tổ chuyên gia phát hiện HSMT tải lên
Hệ thống thiếu Chương III - Tiêu chuẩn đánh giá HSDT và Chương V - Phạm vi cung
cấp, do đó HSDT của các nhà thầu không đáp ứng đầy đủ yêu cầu đặt ra ban đầu và
nếu lựa chọn nhà thầu trong trường hợp này sẽ không đáp ứng yêu cầu để thực
hiện gói thầu, ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án. Hỏi: Trong trường hợp này, Bên
mời thầu phải xử lý như thế nào để phù hợp quy định của pháp luật về đấu thầu?
Trả lời: Thông tư số 07/2016/TT-BKHĐT ngày 29/6/2016 của Bộ KH&ĐT (TT07/2016) có quy định về
tính hợp lệ của HSMT, hồ sơ yêu cầu, HSDT, hồ sơ đề xuất mua sắm hàng hóa đối với đấu thầu qua
mạng. Theo đó, tại Khoản 1 Điều 7 TT07/2016 quy định: “Các thông tin và các file đính kèm của HSMT,
hồ sơ yêu cầu được coi là có giá trị pháp lý khi được bên mời thầu đăng tải thành công trên Hệ thống
thông qua chứng thư số của bên mời thầu. Bên mời thầu chịu trách nhiệm về tính chính xác giữa nội
dung HSMT, hồ sơ yêu cầu đăng tải trên Hệ thống và nội dung HSMT, hồ sơ yêu cầu được chủ đầu tư
phê duyệt”.
Khoản 1 Điều 10 Thông tư liên tịch số 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC (TT07/2015) quy định: “Thông tin
không hợp lệ trong việc cung cấp, đăng tải thông tin về đấu thầu trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia
là thông tin do bên mời thầu tự đăng tải trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia không tuân thủ các quy
định của pháp luật về đấu thầu”.
Đối với trường hợp nêu trên, gói thầu được tổ chức đấu thầu trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia,
nhưng HSMT tải lên Hệ thống thiếu Chương III - Tiêu chuẩn đánh giá HSDT và Chương V - Phạm vi
cung cấp, theo quy định tại Khoản 1 Điều 10 TT07/2015 và Khoản 1 Điều 7 TT07/2016 thì HSMT gói
thầu nêu trên được coi là không hợp lệ, không đủ cơ sở để lựa chọn nhà thầu.
Về giải pháp xử lý tình huống nêu trên, theo quy định tại Khoản 3 Điều 17 Luật Đấu thầu 2013, hủy thầu
được áp dụng trong trường hợp HSMT không tuân thủ quy định của pháp luật về đấu thầu hoặc quy
định khác của pháp luật có liên quan dẫn đến nhà thầu, nhà đầu tư được lựa chọn không đáp ứng yêu
cầu để thực hiện gói thầu, dự án.
Còn tại Điều 18 Luật Đấu thầu 2013 quy định: Tổ chức, cá nhân vi phạm quy định pháp luật về đấu thầu
dẫn đến hủy thầu theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 17 luật này phải đền bù chi phí cho các
bên liên quan và bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Để khắc phục sai sót trong tình huống nêu trên, chủ đầu tư báo cáo người có thẩm quyền để người có
thẩm quyền ban hành quyết định hủy thầu. Ngoài việc khắc phục sai sót, chủ đầu tư lưu ý cần nghiêm
túc nhắc nhở bên mời thầu rà soát kỹ trong việc lập HSMT, rà soát trước khi đăng tải HSMT lên Hệ
thống cho các gói thầu tiếp theo.

33. Bên mời thầu tổ chức lựa chọn nhà thầu Gói thầu X. Trong hồ sơ mời thầu
(HSMT) có ghi rõ số lượng vật tư do bên A cung cấp, nhưng nhà thầu vẫn tính đơn
giá vật tư và quy thành tiền. Tổ chuyên gia đấu thầu cho rằng căn cứ vào Điểm a
Khoản 2 Điều 17 Nghị định 63/2014/NĐ-CP, bên mời thầu sẽ tự quyết định trừ đi giá
trị phần chào thừa theo mức đơn giá tương ứng trong hồ sơ dự thầu (HSDT) của
nhà thầu theo quy định về sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch. Sau đó, cần tiến hành đánh
giá xếp hạng nhà thầu. Tuy nhiên, khi bên mời thầu có văn bản xác nhận sai lệch với
nhà thầu về việc vật tư do bên A cung cấp mà nhà thầu vẫn tính đơn giá vật tư và
quy thành tiền, nhà thầu trả lời như sau: “Về hiệu chỉnh sai lệch, đề nghị giữ nguyên
theo giá đã chào do công ty chúng tôi đã tính toán giảm để tham dự cho gói thầu
theo hình thức trọn gói”. Tiếp đó, bên mời thầu từ chối và loại nhà thầu. Với cách
giải quyết như vậy, sẽ không có đánh giá xếp hạng nhà thầu này. Hỏi: Trường hợp
19


nêu trên, theo quy định hiện hành, bên mời thầu có cần gửi văn bản làm rõ với nhà
thầu không? Nhà thầu nêu trên có được đưa vào đánh giá xếp hạng không?
Trả lời: Theo quy định tại Mục 14 Chương I - Chỉ dẫn cho nhà thầu của Thông tư 03/2015/TT-BKHĐT thì
nhà thầu phải nộp HSDT cho toàn bộ công việc được mô tả trong Mục 1.1 Chỉ dẫn cho nhà thầu và ghi
đơn giá dự thầu, thành tiền cho tất cả các công việc nêu trong cột “Mô tả công việc mời thầu” tại Bảng
tổng hợp giá dự thầu theo quy định tại Mẫu số 05 Chương IV – Biểu mẫu dự thầu.
Theo đó, nhà thầu sẽ chỉ được chào cho những phần công việc được mời thầu. Việc nhà thầu chào
thừa, thiếu khối lượng, số lượng sẽ được hiệu chỉnh sai lệch theo quy định tại Khoản 2 Điều 17 Nghị
định 63/2014/NĐ-CP. Trường hợp nhà thầu không chấp thuận với kết quả sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch
theo thông báo của bên mời thầu thì HSDT của nhà thầu đó sẽ bị loại theo quy định tại Khoản 3 Điều 17
Nghị định 63/2014/NĐ-CP.
Nhà thầu bị loại tại bước đánh giá về giá sẽ không được tiếp tục đánh giá để xếp hạng.

34. Đơn vị A được UBND tỉnh X giao nhiệm vụ làm đầu mối tổ chức thực hiện mua
sắm tập trung trên địa bàn Tỉnh. Một gói thầu mua sắm có giá khoảng 8 tỷ đồng
được Đơn vị A trình trong kế hoạch mua sắm tập trung, trong đó đề xuất áp dụng
hình thức mua sắm trực tiếp cho gói thầu này. Hỏi: Trường hợp nêu trên có được áp
dụng mua sắm tập trung theo hình thức mua sắm trực tiếp hay không?
Trả lời: Mua sắm tập trung được áp dụng trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ cần mua sắm đối với số
lượng nhiều, chủng loại tương tự ở một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hoặc chủ đầu tư.
Mục đích của việc mua sắm tập trung thông qua đơn vị mua sắm tập trung là nhằm giảm chi phí, thời
gian, đầu mối tổ chức đấu thầu, tăng cường tính chuyên nghiệp trong đấu thầu, góp phần tăng hiệu quả
kinh tế.
Khoản 1 Điều 44 Luật Đấu thầu quy định: “Mua sắm tập trung là cách tổ chức đấu thầu rộng rãi để lựa
chọn nhà thầu”. Do vậy, trường hợp nêu trên, Đơn vị A đề xuất phương án mua sắm trực tiếp là chưa
phù hợp với quy định của pháp luật về đấu thầu. Hay nói cách khác, khi tổ chức lựa chọn nhà thầu theo
phương án mua sắm tập trung thì hình thức lựa chọn nhà thầu luôn luôn là đấu thầu rộng rãi.

35. Bên mời thầu – Ban Quản lý dự án X tổ chức lựa chọn nhà thầu Gói thầu mua
sắm thiết bị Y, áp dụng lựa chọn nhà thầu qua mạng. Gói thầu mua sắm thiết bị Y có
thời điểm đóng thầu, mở thầu nằm trong khoảng thời gian Hệ thống mạng đấu thầu
quốc gia gặp sự cố ngoài khả năng kiểm soát. Hỏi: Thời gian đóng, mở thầu và các
mốc thời gian liên quan đến hiệu lực của hồ sơ dự thầu và bảo đảm dự thầu trong
trường hợp nêu trên được tính như thế nào?
Trả lời: Việc xử lý kỹ thuật trong trường hợp Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia gặp sự cố ngoài khả
năng kiểm soát được quy định tại Điều 16 Thông tư liên tịch số 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC ngày
08/9/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Bộ Tài chính quy định chi tiết việc cung cấp, đăng tải thông tin
về đấu thầu và lựa chọn nhà thầu qua mạng (TT07).
Theo đó, Khoản 2 Điều 16 TT07 quy định, trường hợp Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia tạm ngừng
cung cấp dịch vụ tại thời điểm đóng thầu, mở thầu thì thời điểm đóng thầu, mở thầu mới sẽ được lùi đến
sau 3 giờ kể từ thời điểm Hệ thống tiếp tục cung cấp dịch vụ theo thông báo của Tổ chức vận hành Hệ
thống.
Hiện tại, Tổ chức vận hành Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia có trách nhiệm thông báo cho các đơn vị
có gói thầu đang đóng thầu, mở thầu biết ngay sau khi Hệ thống hoạt động trở lại bình thường qua tổng
đài hỗ trợ người dùng 1900 6126.
Điều 16 TT07 cũng quy định, nếu thời điểm đóng thầu, mở thầu mới vượt quá thời gian làm việc trong
ngày thì thời gian đóng thầu, mở thầu sẽ được gia hạn đến 09 giờ sáng của ngày làm việc tiếp theo.

20


Nếu thời điểm đóng thầu, mở thầu cách sau thời điểm thông báo Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia tiếp
tục cung cấp dịch vụ không quá 03 giờ thì thời điểm đóng thầu, mở thầu mới sẽ được kéo dài thêm 03
giờ.
Khoản 3 Điều 16 TT07 quy định, trường hợp phải gia hạn thời điểm đóng thầu vì lý do Hệ thống mạng
đấu thầu quốc gia tạm ngừng cung cấp dịch vụ, các nhà thầu không cần gia hạn thời hạn hiệu lực của
hồ sơ dự thầu và bảo đảm dự thầu nếu các thời hạn hiệu lực này đã đáp ứng yêu cầu trong hồ sơ mời
thầu.

36. Một bạn đọc có thư hỏi Báo Đấu thầu như sau: “Đơn vị tôi đang tiến hành sơn
vôi lại khối nhà làm việc với tổng dự toán được duyệt là 670 triệu đồng. Theo các
văn bản hiện hành thì chúng tôi có quyền áp dụng quy trình chỉ định thầu rút gọn và
áp dụng theo Mẫu 06 của Thông tư 11/2015/TT-BKHĐT ngày 27/10/2015 của Bộ Kế
hoạch và Đầu tư quy định chi tiết lập hồ sơ yêu cầu chỉ định thầu, chào hàng cạnh
tranh. Tuy nhiên, khi liên lạc hỏi lại người có trách nhiệm ở Vụ Tài chính của bộ chủ
quản (đơn vị sẽ quyết toán dự án) thì được trả lời là phải áp dụng chỉ định thầu
thông thường cho an toàn!”. Hỏi: Ý kiến của đơn vị quyết toán nêu trên có đúng
không? Trong trường hợp này, căn cứ pháp lý nào có thể giúp thực hiện được quyết
toán với quy trình chỉ định thầu rút gọn?
Trả lời: Hạn mức chỉ định thầu được quy định tại Điều 54 Nghị định 63/2014/NĐ-CP ngày 26/06/2014
của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu. Theo đó,
gói thầu có giá trị trong hạn mức được áp dụng chỉ định thầu theo quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 22
của Luật Đấu thầu bao gồm: Không quá 500 triệu đồng đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ
phi tư vấn, dịch vụ công; không quá 01 tỷ đồng đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp,
mua thuốc, vật tư y tế, sản phẩm công; không quá 100 triệu đồng đối với gói thầu thuộc dự toán mua
sắm thường xuyên.
Trường hợp bạn đọc nêu, gói thầu thuộc hạn mức chỉ định thầu thì theo quy định tại Khoản 2 Điều 56
Nghị định 63/2014/NĐ-CP, các gói thầu trong hạn mức chỉ định thầu theo quy định tại Điều 54 được áp
dụng theo quy trình chỉ định thầu rút gọn.
Quy trình chỉ định thầu rút gọn đối với gói thầu trong hạn mức chỉ định thầu được quy định tại Khoản 2
Điều 56 Nghị định 63/2014/NĐ-CP. Cụ thể, bên mời thầu căn cứ vào mục tiêu, phạm vi công việc, dự
toán được duyệt để chuẩn bị và gửi dự thảo hợp đồng cho nhà thầu được chủ đầu tư xác định có đủ
năng lực và kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu của gói thầu. Nội dung dự thảo hợp đồng bao gồm các yêu
cầu về phạm vi, nội dung công việc cần thực hiện, thời gian thực hiện, chất lượng công việc cần đạt
được, giá trị tương ứng và các nội dung cần thiết khác. Trên cơ sở dự thảo hợp đồng, bên mời thầu và
nhà thầu được đề nghị chỉ định thầu tiến hành thương thảo, hoàn thiện hợp đồng làm cơ sở để phê
duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng. Tiếp đó, hai bên tiến hành ký kết hợp đồng. Hợp
đồng ký kết giữa các bên phải phù hợp với quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu, biên bản
thương thảo hợp đồng và các tài liệu liên quan khác.
Trường hợp cần thiết, bên mời thầu vẫn có thể áp dụng quy trình chỉ định thầu thông thường đối với các
gói thầu nằm trong hạn mức được chỉ định thầu rút gọn.
Để thuận tiện trong quá trình thực hiện, khi lập tờ trình Kế hoạch lựa chọn nhà thầu, chủ đầu tư nên ghi
rõ hình thức lựa chọn nhà thầu là chỉ định thầu rút gọn hay chỉ định thầu thông thường và nêu rõ lý do
để người có thẩm quyền phê duyệt.

37. Ban Quản lý dự án X tổ chức đấu thầu rộng rãi Gói thầu Thi công công trình. Hồ
sơ mời thầu (HSMT) có nêu yêu cầu về thời gian thực hiện hợp đồng là 60 ngày. Hồ
sơ dự thầu (HSDT) của nhà thầu A có giá dự thầu thấp nhất. Kết quả đánh giá HSDT
cho thấy nhà thầu A đáp ứng yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm. HSDT của nhà thầu
A cũng có đề xuất thời gian thực hiện hợp đồng là 60 ngày, đúng theo yêu cầu của
HSMT. Tuy nhiên, trong HSDT của nhà thầu A không có phần tính toán diễn giải chi
tiết về tiến độ thi công. Tổ chuyên gia xét thầu đã tự tính toán thời gian thi công của
nhà thầu này là 70 ngày, vượt 10 ngày so với quy định của HSMT. Từ đó, Tổ chuyên
21


gia cho rằng thời gian thực hiện hợp đồng của nhà thầu này không đáp ứng yêu cầu
nêu trong HSMT và quyết định loại HSDT của nhà thầu A. Hỏi: Việc làm trên của tổ
chuyên gia xét thầu có phù hợp với quy định của Luật Đấu thầu không?
Trả lời: Việc đánh giá HSDT phải tuân thủ theo nguyên tắc đánh giá quy định tại Điều 15 Luật Đấu thầu
2013. Theo đó, việc đánh giá HSDT phải căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá HSDT và các yêu cầu khác
nêu trong HSMT. Thời gian thực hiện hợp đồng được đề xuất trong đơn dự thầu và tiêu chuẩn đánh giá
về kỹ thuật (nếu có). Do đó, Tổ chuyên gia khi đánh giá thì phải căn cứ vào HSDT của nhà thầu và
HSMT để đánh giá, trường hợp không rõ thì yêu cầu nhà thầu giải thích làm rõ trên cơ sở không làm
thay đổi nội dung cơ bản của HSDT đã nộp.
Trong trường hợp nêu trên, nhà thầu A đã đề xuất thời gian thực hiện hợp đồng là 60 ngày đúng theo
yêu cầu của HSMT thì yêu cầu nhà thầu làm rõ việc thi công trong 60 ngày đó ở những tiêu chí đánh giá
kỹ thuật chưa rõ ràng.
Việc Tổ chuyên gia tự tính toán thời gian thi công của nhà thầu như trên để loại nhà thầu là chưa phù
hợp với quy định của pháp luật.

38. Bên mời thầu X đang đánh giá hồ sơ dự thầu Gói thầu Xây lắp có giá gói thầu 4,5
tỷ đồng. Trong hồ sơ mời thầu (HSMT) quy định một trong các điều kiện để được
tham gia đấu thầu là nhà thầu phải là doanh nghiệp cấp nhỏ, siêu nhỏ theo quy định
của pháp luật về doanh nghiệp. Hỏi: Nhà thầu nào sau đây được coi là đáp ứng điều
kiện về cấp doanh nghiệp khi tham gia đấu thầu gói thầu vừa nêu:
- Nhà thầu A có tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng và có số lao động bình quân
năm không quá 200 người
- Nhà thầu B có tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng nhưng có số lao động bình
quân năm trên 200 người
- Nhà thầu C có tổng nguồn trên 20 tỷ đồng nhưng có số lao động bình quân năm
không quá 200 người.
Trả lời: Một trong các nội dung về ưu đãi doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ trong đấu thầu là đối với gói thầu
xây lắp có giá gói thầu không quá 5 tỷ đồng chỉ cho phép nhà thầu là doanh nghiệp cấp nhỏ và siêu nhỏ
theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp tham gia đấu thầu.
Việc xác định cấp doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp được thực hiện theo
Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP. Theo đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh
đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo
quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế
toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên). Doanh
nghiệp nhỏ thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng
trở xuống hoặc có số lao động từ 10 người đến 200 người.
Quay trở lại việc đánh giá điều kiện tham dự thầu của các nhà thầu trên, cả 3 nhà thầu A, B, C đều được
coi là đáp ứng điều kiện về cấp doanh nghiệp khi tham dự thầu gói thầu xây lắp có giá 4,5 tỷ đồng.
Trong đó, nhà thầu A đáp ứng cả tiêu chí về tổng nguồn vốn và số lao động bình quân, nhà thầu B đáp
ứng tiêu chí về tổng nguồn vốn, nhà thầu C đáp ứng tiêu chí về lao động bình quân năm.
Trong trường hợp này, cần lưu ý là nhà thầu chỉ cần đáp ứng một trong hai tiêu chí tổng nguồn vốn
(trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc tổng số lao động bình quân năm đối với doanh
nghiệp nhỏ, siêu nhỏ thì được coi là đáp ứng điều kiện về cấp doanh nghiệp khi tham dự gói thầu xây
lắp có giá không quá 5 tỷ đồng.

39. Bệnh viện A tổ chức lựa chọn nhà thầu gói thầu gồm 30 hạng mục hàng hóa là đồ
dùng cho khu hành chính và khu điều trị nội trú thông qua hình thức đấu thầu rộng
rãi trong nước. Nhà thầu B là nhà thầu chào giá thấp nhất trong số 3 nhà thầu được
22


đánh giá là đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật. Tuy nhiên, hồ sơ dự thầu của nhà thầu B có
chào 5 trong tổng số 30 hạng mục hàng hóa cao hơn đơn giá của hạng mục đó trong
phụ lục tính giá gói thầu đính kèm kế hoạch lựa chọn nhà thầu. Hỏi: Trong trường
hợp này, bệnh viện A có thể lựa chọn nhà thầu B trúng thầu không hay phải lựa chọn
nhà thầu khác chào giá tất cả các hạng mục thấp hơn đơn giá trong phụ lục kế
hoạch lựa chọn nhà thầu được duyệt?
Trả lời: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 43 Luật Đấu thầu, một trong các điều kiện để nhà thầu được đề
nghị trúng thầu là có giá đề nghị trúng thầu (giá dự thầu sau sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch trừ đi giá trị
giảm giá (nếu có) của nhà thầu xếp hạng thứ nhất) không vượt giá gói thầu được phê duyệt. Trường
hợp dự toán của gói thầu được phê duyệt thấp hơn hoặc cao hơn giá gói thầu được phê duyệt thì dự
toán này sẽ thay thế giá gói thầu để làm cơ sở xét duyệt trúng thầu.
Đối với trường hợp của bệnh viện A, nếu nhà thầu B có giá dự thầu sau sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch trừ
đi giá trị giảm giá (nếu có) không vượt giá gói thầu được duyệt thì được coi là đáp ứng yêu cầu xét
duyệt trúng thầu ở trên mà không phụ thuộc vào việc nhà thầu chào giá một số mặt hàng cao hơn giá
của mặt hàng đó trong phụ lục kế hoạch lựa chọn nhà thầu. Có thể hiểu phụ lục này gồm đơn giá cho
từng mặt hàng, giúp tính toán để hình thành giá gói thầu.
Tuy nhiên, việc lựa chọn nhà thầu được thực hiện đối với gói thầu trong khoản ngân sách là giá gói
thầu, nên bệnh viện A chỉ cần so sánh giá chào sau sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch trừ đi giá trị giảm giá
(nếu có) của nhà thầu B với giá gói thầu, mà không cần quá quan tâm tới các đơn giá từng mặt hàng so
với đơn giá dự trù ban đầu. Trong trường hợp này, việc đề nghị cho nhà thầu khác chào giá cao hơn
trúng thầu chỉ vì đơn giá từng hạng mục không cao hơn đơn giá ước tính trong phụ lục kế hoạch lựa
chọn nhà thầu rõ ràng là không hiệu quả và không phù hợp với quy định của pháp luật về đấu thầu.

40. Bệnh viện chuyên khoa mắt thành phố X tổ chức lựa chọn nhà thầu một số gói
thầu mua sắm vật tư y tế phục vụ công tác khám chữa bệnh trong năm. Trong đó,
đối với nội dung hợp đồng tương tự, Bệnh viện nhận thấy nếu quy định nhà thầu
phải có 03 hợp đồng và mỗi hợp đồng có giá trị tối thiểu 70% giá trị gói thầu đang
xét thì các nhà cung cấp rất khó có thể đáp ứng do vật tư cần mua phục vụ khám
chữa bệnh chuyên khoa và số lượng hàng hóa dự kiến mua khá lớn. Hỏi: Trong
trường hợp này, Bệnh viện có thể quy định trong hồ sơ mời thầu (HSMT) về việc
cộng gộp hợp đồng đã thực hiện của nhà thầu khi xem xét hợp đồng tương tự được
hay không?
Trả lời: Kinh nghiệm thực hiện hợp đồng tương tự là một trong những nội dung cơ bản khi đánh giá hồ
sơ dự thầu (HSDT) của nhà thầu.
Theo hướng dẫn tại Mục 2.1 Chương III các mẫu HSMT hàng hóa ban hành kèm theo Thông tư số
05/2015/TT-BKHĐT ngày 16/6/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đối với tiêu chí đánh giá kinh nghiệm
thực hiện hợp đồng tương tự, nhà thầu phải hoàn thành toàn bộ hoặc phần lớn N hợp đồng tương tự
với mỗi hợp đồng có giá trị tối thiểu là V (N x V = X) hoặc số lượng hợp đồng ít hơn hoặc bằng N, mỗi
hợp đồng có giá trị tối thiểu là V và tổng giá trị tất cả các hợp đồng X. Trường hợp trong HSMT yêu cầu
nhà thầu đã thực hiện từ hai hợp đồng tương tự trở lên thì nhà thầu phải đáp ứng tối thiểu một hợp
đồng với quy mô, tính chất tương tự gói thầu đang xét. Quy mô của các hợp đồng tương tự tiếp theo
được xác định bằng cách cộng các hợp đồng có quy mô nhỏ hơn nhưng phải bảo đảm các hợp đồng đó
có tính chất tương tự với các hạng mục cơ bản của gói thầu đang xét.
Đối với trường hợp trên, việc quy định về cộng gộp hợp đồng tương tự là phù hợp với hướng dẫn tại
các mẫu HSMT nói trên. Theo đó, nếu yêu cầu nhà thầu phải có kinh nghiệm thực hiện 03 hợp đồng
tương tự với giá trị tối thiểu là V thì tiếp tục quy định rõ nội dung nhà thầu phải đáp ứng tối thiểu một
hợp đồng với tính chất tương tự và giá trị là V. Với hợp đồng tương tự thứ hai, thứ ba, quy mô của các
hợp đồng này có thể được xác định trên cơ sở cộng các hợp đồng có quy mô nhỏ hơn nếu các hợp
đồng quy mô nhỏ hơn này vẫn có tính chất tương tự với hạng mục cơ bản của gói thầu đang xét. Như
vậy, với quy định này thì các nhà thầu thực hiện nhiều hợp đồng giá trị nhỏ hơn V nhưng có tính chất
tương tự với các hạng mục cơ bản của gói thầu đang xét vẫn có cơ hội đáp ứng yêu cầu của HSMT.

23


Ngoài ra, theo hướng dẫn tại Mẫu HSMT đã nêu, đối với các gói thầu có tính chất đặc thù hoặc ở các
địa phương mà năng lực của nhà thầu trên địa bàn còn hạn chế, có thể yêu cầu giá trị của hợp đồng
tương tự trong khoảng 50% đến 70% giá trị của gói thầu đang xét, đồng thời vẫn phải yêu cầu nhà thầu
bảo đảm có hợp đồng cung cấp hàng hóa tương tự về chủng loại và tính chất với hàng hóa của gói
thầu. Như vậy, hướng dẫn về giá trị của hợp đồng tương tự tương đối linh hoạt và không phải bất kì gói
thầu nào, nơi nào, lúc nào cũng phải là 70%. Trong một số trường hợp với lý do xác đáng, hợp lý về tính
chất gói thầu, nhà cung cấp tiềm năng, con số khác 70% vẫn có thể được sử dụng.

41. Gói thầu Xây lắp 01 thuộc Dự án X do liên danh Công ty A và Công ty B thi công.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty A đã hoàn thành công việc theo phân
công trong thỏa thuận liên danh, Công ty B không hoàn thành phần việc của mình,
để ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng Gói thầu. Hợp đồng bị chủ đầu tư tuyên bố
không hoàn thành và thực hiện chấm dứt trong năm 2015. Hiện tại, chủ đầu tư đang
tổ chức lựa chọn nhà thầu Gói thầu xây lắp số 05 cùng thuộc Dự án và Công ty A
tham dự thầu với tư cách nhà thầu độc lập. Hỏi: Trong trường hợp này, Công ty A có
bị coi là vi phạm tiêu chí “lịch sử không hoàn thành hợp đồng quy định trong hồ sơ
mời thầu (HSMT)” hay không?
Trả lời: Theo hướng dẫn tại các mẫu HSMT xây lắp ban hành kèm Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT
ngày 06/5/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nội dung đánh giá năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu bao
gồm tiêu chí lịch sử không hoàn thành hợp đồng. Theo đó, trong một số năm (thông thường từ 03 - 05
năm) gần năm có thời điểm đóng thầu, nhà thầu phải bảo đảm không có hợp đồng không hoàn thành.
Về vai trò của Công ty A trong liên danh Công ty A - Công ty B, theo quy định của Luật Đấu thầu (Điều 4
Khoản 35), khi tham gia đấu thầu thì tất cả thành viên liên danh đều là nhà thầu chính. Trường hợp nhà
thầu trúng thầu thì khi ký kết hợp đồng, các thành viên liên danh là một bên của hợp đồng.
Về vấn đề không hoàn thành hợp đồng, khi nhà thầu liên danh A + B đã bị chủ đầu tư kết luận không
hoàn thành hợp đồng thì tất cả thành viên liên danh đều bị coi là vi phạm tiêu chí này khi tham gia đấu
thầu gói thầu tiếp theo vì: (i) các thành viên liên danh đều là nhà thầu chính khi tham gia đấu thầu theo
quy định tại Khoản 35 Điều 4 Luật Đấu thầu, tất cả nhà thầu chính tham gia đấu thầu đều phải chịu trách
nhiệm nếu không hoàn thành hợp đồng theo quy định của hợp đồng; (ii) các thành viên liên danh đều
phải chịu trách nhiệm chung, trách nhiệm riêng theo văn bản thỏa thuận liên danh nêu tại Khoản 3 Điều
5 Luật Đấu thầu; (iii) văn bản thỏa thuận liên danh thể hiện sự ràng buộc không thể tách rời của các
thành viên để tham gia đấu thầu và thực hiện hợp đồng, do vậy, việc không hoàn thành hợp đồng của
nhà thầu liên danh không thể coi là hành vi vi phạm của riêng một thành viên nào đó trong liên danh.
Tóm lại, khi một nhà thầu liên danh với nhà thầu khác để tham dự thầu thì mặc dù nhà thầu đó hoàn
thành tốt công việc theo phân công trong nội bộ liên danh nhưng cuối cùng vì lý do nào đó, liên danh
vẫn bị tuyên bố không hoàn thành hợp đồng thì tất cả các nhà thầu trong liên danh đều bị coi là có hợp
đồng không hoàn thành, giảm đi cơ hội khi tham dự thầu các gói thầu tiếp theo.

42. Nhà máy in tổ chức lựa chọn nhà thầu Gói thầu Cung cấp và lắp đặt máy in
chuyên dùng. Hồ sơ mời thầu (HSMT) được phát hành từ ngày 16/05/2017; ngày
24/6/2017 sẽ đóng thầu và mở thầu. Ngày 25/5/2017, một nhà thầu đã gửi fax cho Nhà
máy đề nghị cho phép được chào hai loại máy khác nhau về ý tưởng thiết kế, nhưng
đáp ứng được các tính năng và các yêu cầu kỹ thuật in nêu tại HSMT bằng hai bản
chào riêng. Hỏi: Với tình huống như trên thì Nhà máy nên xử lý như thế nào?
Trả lời: Đây là một tình huống liên quan đến phương án thay thế trong hồ sơ dự thầu (HSDT).
Về nguyên tắc, trong trường hợp nếu HSMT yêu cầu nhà thầu đề xuất các phương án thay thế thì nhà
thầu mới được đề xuất phương án thay thế. Bên cạnh đó, nhà thầu vẫn phải chuẩn bị một HSDT theo
phương án chính đáp ứng yêu cầu của HSMT. Khi đề xuất các phương án thì phải nêu rõ phương án
nào là phương án chính, phương án nào là phương án thay thế. Nếu trong HSMT không yêu cầu nhà
thầu đề xuất phương án thay thế, việc đề xuất phương án thay thế trong HSDT cho phương án nêu
trong HSMT sẽ không được xem xét, mà chỉ xem xét phương án chính.

24


Tuy nhiên, đối với tình huống nêu trên, do thời điểm đóng thầu là ngày 24/6/2017, trong khi bên mời
thầu nhận được thông báo đề xuất phương án thay thế của nhà thầu vào ngày 25/5/2017 (chưa đến
ngày đóng thầu) nên chủ đầu tư hoàn toàn có thể xem xét đề xuất trên của nhà thầu.
Nếu chủ đầu tư xét thấy đề xuất của nhà thầu hợp lý, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho gói thầu thì cần
đề nghị người phê duyệt HSMT xem xét việc sửa đổi HSMT theo hướng cho phép nhà thầu chào
phương án thay thế. Phương án thay thế chỉ được xem xét trong trường hợp nhà thầu được xếp hạng
thứ nhất và được mời vào thương thảo, tại bước thương thảo mới xem xét đến phương án thay thế.
Trường hợp phương án thay thế được chấp nhận thì bên mời thầu không sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch
như HSMT mà lấy giá chào theo phương án thay thế của nhà thầu chào.
Như vậy, trong trường hợp nói trên chủ đầu tư cần khách quan xem xét các đề nghị của nhà thầu,
trường hợp cần thiết thì sửa đổi lại nội dung HSMT theo hướng cho phép chào phương án thay thế để
đảm bảo hoạt động đấu thầu cạnh tranh, công bằng và hiệu quả kinh tế.

43. Hỏi: Trường hợp Nhà nước thuê công ty tư nhân thực hiện thì dự án áp dụng gói
thầu EPC như trên có được coi là dự án PPP không?
Trả lời: Gói thầu EPC là gói thầu hỗn hợp. EPC là các chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh: Engineering Procurement of goods - Construction. Khái niệm này được hiểu là trong cùng một gói thầu, một hợp
đồng, nhà thầu được giao thực hiện cả ba nội dung công việc: tư vấn (ví dụ: khảo sát, thiết kế, giám
sát); mua sắm hàng hóa mà cụ thể là vật tư, thiết bị cho dự án; và thi công xây lắp công trình.
Trong khi đó, đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở
hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện,
quản lý, vận hành dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp các dịch vụ công.
Trong các dự án áp dụng gói thầu EPC, nhà thầu thực hiện xây dựng công trình, khi hoàn thành, công
trình được giao cho Nhà nước quản lý, vận hành và nhà thầu được thanh toán các chi phí và lợi nhuận
hợp lý. Nhà thầu không chia sẻ các rủi ro xảy ra trong quá trình quản lý, vận hành dự án với Nhà nước
sau khi đã hết thời gian bảo trì công trình. Bên cạnh đó, thời gian thực hiện các dự án này chỉ bao gồm
thời gian chuẩn bị dự án và xây dựng công trình, ngắn hơn rất nhiều so với thời hạn thực hiện của một
dự án PPP.
Về tài chính, việc huy động tài chính cho dự án EPC thường đơn giản hơn so với một dự án PPP. Trong
các dự án áp dụng gói thầu EPC, nhà thầu chỉ có trách nhiệm huy động vốn để đảm bảo việc hoàn
thành công trình xây dựng và thường nhận được ngay khoản thanh toán sau khi chuyển giao công trình.
Trong khi đó, đối với dự án PPP, nhà đầu tư phải đàm phán với các tổ chức tài chính để có được những
khoản vay dài hạn và được hoàn trả từ nguồn thu của dự án trong suốt thời hạn hợp đồng.
Vì vậy, trường hợp Nhà nước thuê công ty tư nhân thực hiện dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng áp
dụng gói thầu EPC thì không được coi là dự án PPP.

44. Hỏi: Đối với gói thầu di dời công trình hạ tầng kỹ thuật thì có thể chỉ định thầu
cho đơn vị không trực tiếp quản lý công trình nhưng đáp ứng các điều kiện về năng
lực, kinh nghiệm được hay không?
Trả lời: Một trong các trường hợp được áp dụng chỉ định thầu quy định tại Khoản 1 Điều 22 Luật Đấu
thầu là gói thầu di dời các công trình hạ tầng kỹ thuật do một đơn vị chuyên ngành trực tiếp quản lý để
phục vụ công tác giải phóng mặt bằng. Việc chỉ định thầu trong trường hợp này không cần căn cứ hạn
mức chỉ định thầu quy định tại Điểm e Khoản này. Theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 55 Nghị định
số 63/2014/NĐ-CP, nhà thầu được xác định để nhận hồ sơ yêu cầu khi có tư cách hợp lệ theo quy định
tại các điểm a, b, c, d, e và h Khoản 1 Điều 5 Luật Đấu thầu và có đủ năng lực, kinh nghiệm thực hiện
gói thầu.
Đối với câu hỏi trên, nếu đơn vị chuyên ngành trực tiếp quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật (gọi tắt là
đơn vị chuyên ngành) có đủ năng lực, kinh nghiệm để thực hiện gói thầu di dời công trình hạ tầng kỹ
thuật phục vụ giải phóng mặt bằng thì được phép áp dụng hình thức chỉ định thầu. Trong đó, đơn vị
chuyên ngành cần được hiểu là đơn vị quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật, đồng thời được giao quản lý,
lưu giữ các hồ sơ, tài liệu kỹ thuật liên quan đến công trình, từ đó bảo đảm tính thống nhất khi đấu nối

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×