Tải bản đầy đủ

Quản lý tài chính tại Bệnh viện 198 Bộ Công An

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

ĐINH ĐỨC THỌ

QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN 19-8
BỘ CÔNG AN

Chuyên ngành

: Tài chính - Ngân hàng

Mã số

: 60.34.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHẠM CÔNG ĐOÀN

HÀ NỘI, 2016



i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và
chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các
thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn

Đinh Đức Thọ


ii
LỜI CẢM ƠN !
Luận văn tốt nghiệp được hoàn thành tại Đại học Thương Mại. Có được bản
luận văn tốt nghiệp này , tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến
Ban giám hiệu trường Đại học Thương Mại , Khoa đào tạo sau đại học và đặc biệt
là PGS.TS. Phạm Công Đoàn đã trực tiếp hướng dẫn , dìu dắt , giúp đỡ tác giả với
những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn
thành đề tài “Quản lý tài chính tại Bệnh viện 198 – Bộ công an”
Xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo – Các nhà khoa học đã trực tiếp
giảng dạy truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên nghành quản lý tài chính
cho bản thân tác giả trong những năm tháng qua.
Xin gửi tới Ban giám đốc Bệnh viện 198, Lãnh đạo phòng Tài chính – Kế toán
các đồng chí , đồng nghiệp lời cảm tạ sâu sắc vì đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất
giúp tác giả thu thập số liệu cũng như tài liệu nghiên cứu cần thiết liên quan tới đề
tài tốt nghiệp.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, tập thể lớp CH20BTCNH những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình
thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp , phê bình của quý Thầy Cô, các
nhà khoa học, đọc giả và các bạn đồng nghiệp.
XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN!!!


iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BV



: Bệnh viện

KCB

: Khám chữa bệnh

CSSK

: Chăm sóc sức khỏe

BHYT

: Bảo hiểm y tế

CBCS

: Cán bộ chiến sỹ

NSNN

: Ngân sách Nhà nước

KHCN

: Khoa học công nghệ

TSCĐ

: Tài sản cố định

TCKT

: Tài chính kế toán

XHH

: Xã hội hóa

VP

: Viện phí

TCC

: Tài chính công


iv
MỤC LỤC
Trang
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp các nguồn thu bệnh viện 198.................................................................40
Bảng 2.2: Tổng hợp tình hình thu so với dự toán năm 2013 - 2015...............................................41
Bảng 2.3: Nguồn thu từ BHYT của Bênh viên 198 năm 2013 đến 2015 ........................................43
Bảng 2.4: Nguồn thu từ viện phí của Bệnh viện 198 giai đoạn 2013-2015....................................43
Bảng 2.5: Các nguồn thu khác của Bệnh viện 198 năm 2013-2015...............................................46
Bảng 2.6: Tổng hợp dự toán chi theo từng khoản mục..................................................................49
Bảng 2. 7: Nội dung và tỷ trọng các khoản chi từ nguồn NSNN.....................................................59
Bảng 2.8: Các khoản chi phí của BV 198 qua 3 năm 2013 - 2015...................................................63
Bảng 2.9: Quyết toán thu- chi BV 198 năm 2013-2015..................................................................64
Bảng 2.10: GDP và tốc độ tăng trưởng của Việt Nam qua các năm 2013-2015............................72
Bảng 2.11: Cơ cấu chi ngân sách Nhà nước....................................................................................73


v
DANH MỤC BẢNG

Trang
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp các nguồn thu bệnh viện 198.....................................................................40
Bảng 2.2: Tổng hợp tình hình thu so với dự toán năm 2013 - 2015...................................................41
Bảng 2.3: Nguồn thu từ BHYT của Bênh viên 198 năm 2013 đến 2015 ............................................43
Bảng 2.4: Nguồn thu từ viện phí của Bệnh viện 198 giai đoạn 2013-2015........................................43
Bảng 2.5: Các nguồn thu khác của Bệnh viện 198 năm 2013-2015...................................................46
Bảng 2.6: Tổng hợp dự toán chi theo từng khoản mục......................................................................49
Bảng 2. 7: Nội dung và tỷ trọng các khoản chi từ nguồn NSNN.........................................................59
Bảng 2.8: Các khoản chi phí của BV 198 qua 3 năm 2013 - 2015.......................................................63
Bảng 2.9: Quyết toán thu- chi BV 198 năm 2013-2015......................................................................64
Bảng 2.10: GDP và tốc độ tăng trưởng của Việt Nam qua các năm 2013-2015................................72
Bảng 2.11: Cơ cấu chi ngân sách Nhà nước........................................................................................73


vi
DANH MỤC HÌNH
Trang
Sơ đồ 1.1. Quản lý tài chính trong bệnh viện......................................................................................11
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Bệnh viện 198 – Bộ Công An..............................................................30
Sơ đồ 2.2 : Cơ cấu tổ chức phòng TC- KT BV 198...............................................................................31
Sơ đồ 2.3: Quy trình mua sắm TSCĐ...................................................................................................52


1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian dài trước đây chúng ta quan niệm y tế, giáo dục … là các lĩnh
vực “ phi sản xuất vật chất”, có nghĩa đối lập với lĩnh vực sản xuất vật chất như
nông nghiệp, công nghiệp. Chính quan điểm sai lầm này đã kéo theo sự đầu tư thấp
vì xem như đầu tư vào các lĩnh vực này là tiêu tốn nguồn lực của Nhà nước mà
không sáng tạo ra giá trị và giá trị sử dụng. Các bệnh viện, cơ sở y tế chỉ đơn thuần
là cơ quan hành chính sự nghiệp thu đủ, chi đủ.
Chuyển sang kinh tế thị trường chúng ta đã có những thay đổi căn bản trong
nhận thức, quan điểm về ngành y tế. Ngành y tế được coi là một ngành trong hệ
thống kinh tế quốc dân và thuộc nhóm ngành dịch vụ phục vụ các nhu cầu có tính
chất phúc lợi xã hội. Nói cách khác, ngành y tế có đóng góp vào GDP của đất nước.
Đầu tư cho y tế không phải là tiêu phí mà là đầu tư cơ bản, đầu tư cho phát triển.
Theo quan điểm mới, bệnh viện là một đơn vị kinh tế dịch vụ nhưng khác với các
đơn vị kinh doanh dịch vụ bởi hoạt động cung cấp dịch vụ của bệnh viện không đặt
mục tiêu lợi nhuận làm mục tiêu quan trọng nhất. Đơn vị kinh tế dịch vụ thông qua
các hoạt động dịch vụ của mình để có thu nhập và tích cực hoạt động không vì
doanh lợi.
Xuất phát từ quan niệm mới trên, Đảng và Nhà nước ta đã có những thay đổi
căn bản trong cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu trong
chương trình nghị sự cải cách tài chính công. Đó là:
Thứ nhất, thay cho việc cấp kinh phí theo số lượng biên chế như hiện nay
bằng việc tính toán kinh phí căn cứ vào kết quả và chất lượng hoạt động, hướng vào
kiểm soát đầu ra, chất lượng chi tiêu theo mục tiêu cho đơn giản hơn, tăng quyền
chủ động cho đơn vị sử dụng ngân sách.
Thứ hai, xoá bỏ cơ chế cấp phát theo kiểu “ Xin- Cho”, thực hiện chế độ tự
chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp trên cơ sở xác định nhiệm vụ phải thực hiện,
mức hỗ trợ tài chính từ ngân sách và phần còn lại do đơn vị tự trang trải.


2

Thứ ba, khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước phát triển trong các
lĩnh vực giáo dục, y tế . Khuyến khích liên doanh và đầu tư trực tiếp của nước ngoài
vào lĩnh vực này.
Thực tế trên đòi hỏi quản lý tài chính trong bệnh viện vừa phải đảm bảo các mục
tiêu tài chính vừa đảm bảo tính hiệu quả, công bằng trong chăm sóc sức khoẻ. Quản lý
tài chính bệnh viện trở thành chìa khoá quyết định sự thành công hay thất bại trong
việc quản lý bệnh viện; quyết định sự tụt hậu cũng như phát triển của bệnh viện.
Đề tài “Quản lý tài chính tại Bệnh viện 198- Bộ Công An ” được lựa chọn
nghiên cứu nhằm tìm ra hướng thực hiện hữu hiệu hoạt động tài chính bệnh viện tại
Bệnh viện 198 - Bộ Công An đáp ứng yêu cầu của thực tiễn này.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Các vấn đề về quản lý tài chính bệnh viện đã nhận được sự quan tâm của nhiều
nghiên cứu khác nhau của các tác giả. Liên quan đến vấn đề này đã có một số công
trình nghiên cứu và các hội thảo khoa học như :
- Hội thảo “Quản lý ngân sách nhà nước và các nguồn tài chính bệnh viện”
diễn ra ngày 29/11 – 3/12 /2010 , tại thành phố Hà Nội.
Hội thảo tổ chức nhằm tổng hợp ý kiến trao đổi, đề xuất và chia sẻ kinh nghiệm
quản lý ,sử dụng ngân sách , kinh phí và tài sản được giao cho đơn vị sự nghiệp
cũng như những nhận định sắc bén của các chuyên gia kinh tế có nhiều kinh nghiệm
về xây dựng và phát triển bệnh viện.
- Hội thảo “Xây dựng , thực hiện bản quy hoạch tổng thể bệnh viện và Cải
thiện chất lượng” diễn ra ngày 04/4/2012 tại Tp. Tuy Hòa , Tỉnh Phú Yên.
Hội thảo này do Bộ Y Tế và Quỹ hỗ trợ GIZ tổ chức tại Tp. Tuy Hòa với nhiều ý
kiến xoay quanh vấn đề : Làm thế nào để quản lý tổng thể bệnh viện đạt hiệu quả
tối đa trong đó có quản lý tài chính bệnh viện.
Tuy nhiên , những hội thảo này chỉ xoay quanh vấn đề lý luận về quản lý
bệnh viện nói chung mà chưa đi vào một thực tế một bệnh viện cụ thể nào , đặc biệt
là quản lý tài chính bệnh viện đối với các bệnh viện công lập.


3

- “Xã hội hóa Y tế tại Việt Nam : Lý luận – thực tiễn và giải pháp” Đặng Thị
Lệ Xuân (2011) – Luận án Tiến sĩ.
Nghiên cứu đã tập trung phân tích , đánh giá các phương thức xã hội hóa y tế
cơ bản hiện nay và đánh giá toàn hệ thống y tế hay các bộ phận cấu thành của nó
đặc biệt là tài chính y tế, từ đó chỉ ra được những hạn chế của phương thức xã hội
hóa y tế .Qua nghiên cứu tác giả đã đề xuất bảo hiểm y tế là phương thức ưu việt
nhất cần tập trung phát triển .
- “Các giải pháp tài chính thúc đẩy phát triển sự nghiệp y tế ở Việt Nam”
Hoàng Thị Thúy Nguyệt (2006) – Luận án Tiến sĩ.
Nghiên cứu tập trung phân tích và đánh giá thực trạng phát triển sự nghiệp y tế ở
Việt Nam, từ đó chỉ ra những tồn tại , hạn chế và đề ra những giải pháp thúc đẩy
phát triển sự nghiệp y tế ở Việt Nam.
- “ Đổi mới cơ chế quản lý kinh phí Ngân sách nhà nước trong lĩnh vực y tế
Việt Nam trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước” Nguyễn Trường Giang (2003) – Luận án Tiến sĩ.
Tác giả đã đi sâu và nghiên cứu cơ chế quản lý kinh phí Ngân sách nhà nước
trong lĩnh vực y tế Việt Nam trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước. Tác giả đã đánh giá thực trạng quản lý kinh phí Ngân sách nhà
nước trong lĩnh vực y tế Việt Nam và đưa ra được các quan điểm , giải pháp nhằm
quản lý kinh phí Ngân sách nhà nước trong lĩnh vực y tế Việt Nam được tốt hơn.
- “ Một số giải pháp đổi mới phương thức chi trả dịch vụ y tế cho hệ thống
khám chữa bệnh Việt Nam” Kiều Quang Tuân (2011) – Luận văn Thạc sĩ.
Luận văn đã xem xét những vẫn đề lý luận và thực tiễn các phương thức chi
trả dịch vụ y tế ở Việt Nam . Tiếp đó đánh giá được thực trạng các phương thức chi
trả và đưa ra được những giải pháp nhằm đổi mới phương thức chi trả dịch vụ y tế
cho hệ thống khám chữa bệnh Việt Nam .
Nhìn chung các nghiên cứu trên đã khái quát và phân tích , đánh giá được
các điểm chung trong công tác quản lý bệnh viện từ đó đã đưa ra được các giải pháp
nhằm hoàn thiện từng lĩnh vực trong quản lý tài chính.


4

3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý tài chính bệnh viện và thực tiễn hoạt
động quản lý tài chính tại Bệnh viện 198:
* Luận vănđề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại
Bệnh viện 198 cho giai đoạn đến năm 2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
a) Đối tượng nghiên cứu : Lý luận và thực tiễn quản lý tài chính tại Bệnh viện 198.
b) Phạm vi nghiên cứu :
- Về không gian : nghiên cứu tại Bệnh viện 198 – Bộ công an
- Về thời gian : Từ năm 2013 đến nay để tiện phục vụ nghiên cứu giải pháp
đề xuất cho giai đoan đến năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu tài liệu, quan sát phân tích hoạt động quản lý tài chính
theo cách tiếp cận hệ thống, cách tiếp cận định tính và định lượng và cách tiếp cận
lịch sử, logic để thu thập thông tin. Đồng thời luận văn sử dụng kỹ thuật thống kê,
tổng hợp, phân tích , sơ đồ, biều đồ, đồ thị, bảng biểu để phân tích xử lý số liệu.
Ngoài ra thông qua việc phân tích, xử lý thông tin, trên cơ sở tham khảo ý kiến
của các nhà khoa học kinh tế, các nhà quản lý tài chính trong ngành y tế và bệnh
viện 198 với kiến thức của bản thân để đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quản
lý tài chính tại Bệnh viện 198 .
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý tài chính bệnh viện công
ở nước ta
Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính tại Bệnh viện 198 – Bộ Công an
Chương3: Một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện quản lý tài chính tại Bệnh
viện 198.


5

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
BỆNH VIỆN CÔNG Ở NƯỚC TA
1.1. Tổng quan về bệnh viện công và quản lý tài chính bệnh viện công
1.1.1. Khái niệm và đặc trưng của bệnh viện công:
Từ trước đến nay, có rất nhiều quan điểm về bệnh viện công. Theo quan điểm
hiện đại, bệnh viện công là một tổ chức y tế của Nhà nước với các đặc trưng sau:
- Bệnh viện là một hệ thống lớn bao gồm rất nhiều yếu tố và nhiều khâu liên
quan chặt chẽ nhau từ khám bệnh, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc.
- Bệnh viện là một tổ chức y tế có chức năng hoạt động chính là khám chữa
bệnh, bao gồm các yếu tố đầu vào là người bệnh, cán bộ y tế, nguồn tài chính, trang
thiết bị, thuốc cần có để chẩn đoán và điều trị. Đầu ra là người bệnh khỏi bệnh ra
viện hoặc phục hồi sức khỏe; hoặc người bệnh tử vong.
- Ngoài chức năng chủ yếu là khám chữa bệnh cho nhân dân, bệnh viện công
còn có chức năng đào tạo và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y tế.
- Nguồn tài chính đề bệnh viện hoạt động chủ yếu từ NSNN.
- Mục tiêu chủ yếu của bệnh viện công mang tính chất phúc lợi, phi lợi
nhuận, nhằm bảo đảm sức khỏe cho nhân dân.
Tổng hợp lại, có thể đưa ra khái niệm như sau: Bệnh viện công là cơ sở y tế
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, hoạt động chủ yếu bằng nguồn
ngân sách nhà nước, có chức năng khám chữa bệnh, cung cấp các dịch vụ y tế
nhằm mục tiêu bảo đảm sức khỏe cho nhân dân.
1.1.2. Vai trò của bệnh viện công :
Hệ thống các bệnh viện công được xem như xương sống của hệ thống y tế ở
nước ta, giữ vai trò quan trọng trong hệ thống y tế quốc gia, đáp ứng một phần lớn
dịch vụ y tế cho người dân: khám chữa bệnh, cung cấp thuốc, các dịch vụ y tế khác,
đảm bảo cho mọi người đều được chăm sóc sức khỏe cơ bản có chất lượng phù hợp
với khả năng kinh tế xã hội của đất nước. Nhờ đó làm giảm đi sự thiếu hụt lao động


6

vì đau ốm, giúp phục hồi sức khỏe và chữa bệnh, góp phần thực hiện mục tiêu phát
triển con người toàn diện.
Bệnh viện công là một tổ chức y tế có nhiệm vụ phục vụ các nhu cầu có tính
chất phúc lợi xã hội về y tế. Trong điều kiện kinh tế thị trường và trong bối cảnh xã
hội vẫn còn nhiều người nghèo, nhiều đối tượng chính sách cần được trợ giúp y tế
thì bệnh viện công có vai trò trực tiếp và không thể thiếu được trong việc bảo đảm
tính công bằng về chăm sóc sức khỏe, cho dù có rất nhiều bệnh viện tư đi chăng
nữa. Đây vừa là đặc điểm vừa là ưu việt của bệnh viện công so với bệnh viện tư,
song chính điều này dẫn đến khó khăn về mặt tài chính cho bệnh viện công.
Trong xu thế xã hội hóa dịch vụ công nói chung và dịch vụ y tế nói riêng, các
bệnh viện công ở Việt Nam còn có vai trò nòng cốt và tiên phong về nhiều mặt
trong hệ thống các bệnh viện thuộc mọi thành phần kinh tế và góp phần quan trong
đối với sự phát triển của nền y học nước nhà. Cụ thể là: bệnh viện là trung tâm chẩn
đoán và điều trị với kỹ thuật cao cho người bệnh khó mà tuyến chăm sóc sức khỏe
ban đầu không xử lý được; là trung tâm nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y học;
là trung tâm đào tạo đội ngũ cán bộ y tế từ sơ cấp đến sau đại học, là cơ sở thực
hành trong giảng dạy; là chỗ dựa về kỹ thuật, về phòng bệnh chăm sóc sức khỏe ban
đầu cho cộng đồng, là tuyến trên của y tế cộng đồng.
Hoạt động theo cơ chế tự chủ tài chính, các bệnh viện công trở thành các đơn vị
sự nghiệp có thu của Nhà nước. Thông qua hoạt động khám chữa bệnh, cung cấp các
dịch vụ y tế, bệnh viện công không chỉ góp phần thực hiện mục tiêu phúc lợi xã hội mà
tiến tới còn có đóng góp nhất định cho ngân sách nhà nước.
1.1.3. Khái niệm và đặc điểm của quản lý tài chính công:
Quản lý (tiếng Anh là Management, tiếng latinh là "manum agere" nghĩa là
"điều khiển bằng tay") đặc trưng cho quá trình điều khiển và dẫn hướng tất cả các bộ
phận của một tổ chức, thường là tổ chức kinh tế, thông qua việc thành lập và thay đổi
các nguồn tài nguyên (nhân lực, tài chính, vật tư, trí thức và giá trị vô hình).
Từ đầu thế kỷ 20 đến nay, quản lý được nâng lên hàng nghệ thuật và có thể
gọi đó là "nghệ thuật khiến công việc được làm bởi người khác".


7

Quản lý là một quy trình công nghệ do chủ thể quản lý tiến hành thông qua
việc sử dụng các công cụ và phương pháp thích hợp nhằm tác động và điều khiển
đối tượng quản lý hoạt động, phát triển phù hợp với quy luật khách quan và đạt tới
các mục tiêu đã định.
Quản lý tài chính công là quá trình mà chủ thể quản lý, thông qua việc sử
dụng có chủ định các phương pháp và các công cụ quản lý, tác động và điều khiển
hoạt động tài chính công nhằm đạt được các mục tiêu đã định.
Trong hoạt động quản lý tài chính các vấn đề về: chủ thể quản lý, đối tượng
quản lý, công cụ quản lý, phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý là những vấn đề
trọng tâm, đòi hỏi phải được nhận thức và xác định đúng đắn.
Quản lý tài chính công là một nội dung của quản lý tài chính và là một bộ
phận của quản lý xã hội nói chung. Trong đó, chủ thể quản lý cao nhất là Nhà nước,
tiếp theo là các cơ quan nhà nước được Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt
động tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước. Các cơ quan được giao chức
năng, nhiệm vụ trực tiếp quản lý tài chính công thông thường là bộ máy tài chính
trong hệ thống các cơ quan nhà nước.
Đối tượng quản lý của tài chính công là các hoạt động tạo lập và sử dụng các
quỹ tiền tệ diễn ra trong các bộ phận cấu thành của tài chính công .
Hoạt động quản lý các đối tượng quản lý trong từng lĩnh vực cấu thành của
tài chính công chính là các nội dung chủ yếu của quản lý tài chính công.
Các chủ thể quản lý có thể sử dụng nhiều phương pháp và công cụ quản lý
khác nhau để quản lý. Các phương pháp thường được sử dụng, như phương pháp tổ
chức, phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế.
Các công cụ thường được sử dụng, bao gồm công cụ pháp luật, các chính
sách công và chính sách tài chính công, các đòn bẩy kinh tế, tài chính, các công cụ
kiểm tra, thanh tra, giám sát; các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý TCC...
Về đối tượng của quản lý tài chính công. Đối tượng của quản lý tài chính
nhà nước là các hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của tài chính công. Các
hoạt động của tài chính công lại luôn gắn liền với các cơ quan nhà nước - các chủ


8

thể của tài chính công. Các cơ quan này vừa là người thụ hưởng nguồn kinh phí của
TCC, vừa là người tổ chức các hoạt động của TCC. Do đó, vừa là chủ thể, vừa trở
thành đối tượng của quản lý TCC. Vì vậy, sự kết hợp chặt chẽ giữa quản lý con
người với quản lý hoạt động tài chính là đặc điểm quan trọng của quản lý TCC.
Về sử dụng các phương pháp và công cụ quản lý tài chính công. Trong
quản lý TCC có thể sử dụng nhiều phương pháp quản lý khác nhau (tổ chức, hành
chính, kinh tế) và nhiều công cụ quản lý khác nhau (pháp luật, chính sách công, các
đòn bảy kinh tế, thanh tra, kiểm tra, đánh giá...). Mỗi phương pháp, công cụ có đặc
điểm riêng, có cách thức tác động riêng và có các ưu, nhược điểm riêng.
Nếu như phương pháp tổ chức, hành chính có ưu điểm là đảm bảo được tính
tập trung, thống nhất dựa trên nguyên tắc chỉ huy, quyền lực thì lại có nhược điểm
là hạn chế tính kích thích, tính chủ động của các cơ quan tổ chức hoạt động TCC.
Ngược lại, các phương pháp kinh tế có ưu điểm là phát huy được tính chủ động,
sáng tạo nhưng lại có nhược điểm là hạn chế tính tập trung, thống nhất trong việc tổ
chức các hoạt động TCC theo cùng một hướng. Do vậy, trong quản lý TCC thường
phải sử dụng đồng bộ và kết hợp chặt chẽ các phương pháp và công cụ quản lý
Tuy nhiên, do đặc điểm của hoạt động TCC là luôn gắn liền với quyền lực
của nhà nước, nên trong quản lý TCC phải đặc biệt chú trọng tới các phương pháp,
công cụ mang tính quyền uy, mệnh lệnh để đảm bảo tính tập trung, thống nhất. Đó
là các phương pháp tổ chức - hành chính và các công cụ pháp luật, thanh tra, kiểm
tra. Đây cũng là một đặc điểm quan trọng của quản lý TCC.
Về đặc điểm quản lý nội dung TCC. Nội dung vật chất của TCC là các
nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ thuộc sở hữu nhà nước mà nhà nước có thể chi phối
và sử dụng trong một thời kỳ nhất định. Các nguồn tài chính đó có thể tồn tại dưới
dạng tiền tệ hoặc tài sản, nhưng tổng số nguồn lực tài chính đó là biểu hiện về mặt
giá trị, là đại diện cho một lượng của cải vật chất của xã hội.
Về lý thuyết cũng như thực tiễn, sự vận động của các nguồn tài chính phải ăn
khớp với sự vận động của của cải vật chất mới đảm bảo cho sự phát triển cân đối của


9

nền kinh tế. Điều đó càng có ý nghĩa và cần thiết bởi vì tổng nguồn lực tài chính mà
Nhà nước nắm giữ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn lực tài chính của toàn xã hội.
Trong quản lý TCC không những phải quản lý nguồn tài chính đang tồn tại
cả dưới hình thức tiền tệ, cả dưới hình thức tài sản, mà còn phải quản lý sự vận
động của tổng nguồn lực TCC - sự vận động về mặt giá trị, trên cơ sở tính toán để
đảm bảo cân đối với sự vận động của các luồng của cải vật chất và lao động - sự
vận động về mặt giá trị sử dụng, trong đời sống thực tiễn. Kết hợp quản lý, đảm bảo
25 tính thống nhất giữa hiện vật và giá trị, giá trị và giá trị sử dụng cũng là một đặc
điểm quan trọng của quản lý TCC.
1.2. Quản lý tài chính ở bệnh viện công:
Phạm trù tài chính của một tổ chức thường được quan niệm tương đồng với
các quỹ tiền tệ và các loại vốn được sử dụng để thực hiện các hoạt động nhằm đạt
được mục tiêu của tổ chức đó. Đối với bệnh viện công, tài chính bệnh viện là sự vận
động của đồng tiền để thực hiện mục tiêu phúc lợi về chăm sóc sức khoẻ cho nhân
dân, hướng tới mục tiêu phát triển con người toàn diện. Nó vừa phải thực hiện mục
tiêu công bằng trong y tế, vừa phải bảo đảm mục tiêu hiệu quả tài chính.
Quản lý tài chính trong một tổ chức là chức năng quản lý gắn liền với việc
huy động, tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đáp ứng yêu cầu
về tài chính cho các hoạt động của tổ chức, góp phần thực hiện mục tiêu chung của
tổ chức một cách hiệu quả. Nếu xét theo quá trình thì quản lý tàì chính của một tổ
chức cũng gồm các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, điều hành và kiểm tra các
nguồn tài chính và hoạt động tài chính của tổ chức.
Đối với các tổ chức phi lợi nhuận như bệnh viện công, quản lý tài chính
không nhằm mục tiêu lợi nhuận như các tổ chức kinh doanh, nhưng với cơ chế tự
chủ tài chính thì các nhà quản lý của bệnh viện công phải quan tâm đến tài chính
theo hướng tự thu, tự chi; đó không chỉ là huy động và tạo nguồn thu mà còn là sử
dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn thu, nhằm bảo đảm cho bệnh viện thực hiện
được các chức năng và mục tiêu của mình.
Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: Quản lý tài chính bệnh viện


10

công là sự tác động lên các đối tượng và hoạt động tài chính thông qua quá trình
lập kế hoạch và tổ chức thực hiện các kế hoạch tài chính, quyết toán và kiểm tra tài
chính tại bệnh viện nhằm xác định các nguồn thu và các khoản chi để phục vụ
nhiệm vụ khám, chữa bệnh, đào tạo và nghiên cứu khoa học, đảm bảo đủ kinh phí
và sử dụng kinh phí một cách hiệu quả và công bằng, góp phần thực hiện mục tiêu
chung của bệnh viện công.
Theo nghĩa rộng, quản lý tài chính tại bệnh viện công là việc quản lý toàn bộ
các nguồn vốn, tài sản, vật tư để phục vụ nhiệm vụ khám chữa bệnh, đào tạo và
nghiên cứu khoa học của bệnh viện.
Theo nghĩa hẹp, quản lý tài chính tại bệnh viện công là quản lý các nguồn
thu và các khoản chi bằng tiền của bệnh viện nhằm đảm bảo đủ kinh phí cho hoạt
động của bệnh viện và sử dụng kinh phí một cách hiệu quả và công bằng, góp phần
thực hiện mục tiêu chung của bệnh viện công.
Trong luận văn này, quản lý tài chính bệnh viện được xem xét theo nghĩa hẹp
nói trên.
1.2.1. Mục tiêu của quản lý tài chính trong bệnh viện công:
Hiệu quả thực hiện của tài chính kế toán là mục tiêu quan trọng của quản lý
tài chính bệnh viện. Các yếu tố của mục tiêu này bao gồm:
• Duy trì cán cân thu chi: đây là điều kiện tiên quyết và bắt buộc của quản lý
tài chính bệnh viện và cũng là tiêu chuẩn cho sự thành công trong cơ chế quản lý
mới – tiến tới hạch toán chi phí.
• Bệnh viện phải cải thiện chất lượng thông qua một số chỉ tiêu chuyên môn
như: tỉ lệ tử vong, …
• Nhân viên hài lòng với bệnh viện: đời sống cán bộ công nhân viên được cải
thiện, cải thiện phương tiện làm việc, xây dựng văn hóa Bệnh viện.
• Bệnh viện phát triển cơ sở vật chất, phát triển các chuyên khoa.
• Công bằng y tế: chất lượng phục vụ như nhau cho toàn bộ các đối tượng


11

BỆNH NHÂN

2. Chất lượng5. Công bằng y tế

Y TẾ NHÀ NƯỚC

NHÂN VIÊN B. VIỆN

4. Phát triển BV

3. Được hài lòng

BAN GIÁM ĐỐC BỆNH VIỆN
1.Cán cân thu chi

Sơ đồ 1.1. Quản lý tài chính trong bệnh viện
Như vậy, quản lý tài chính bệnh viện phải đáp ứng cùng lúc bốn đối tác: Bệnh
nhân, nhân viên trong bệnh viện, Ban Giám đốc bệnh viện và Nhà nước. Đó là:


Với bệnh nhân: chất lượng chăm sóc và công bằng y tế



Với nhân viên: được hài lòng do đời sống được cải thiện.



Yêu cầu của Ban giám đốc: hoàn thành trách nhiệm thực hiện cán cân thu
chi.



Y tế Nhà nước : Phát triển bệnh viện.

Nhìn chung trong điều kiện kinh tế nước ta như hiện nay, mục tiêu của quản
lý tài chính bệnh viện phải cùng lúc đạt được năm mục tiêu trên. Tuy nhiên ở một số
vùng sâu, vùng xa, gặp nhiều khó khăn thì phải sắp xếp thứ tự của ưu tiên nào cần
phấn đấu trước.
1.2.2. Nguyên tắc quản lý tài chính bệnh viện công:
Cơ chế tự chủ tài chính cho phép bệnh viện chủ động, linh hoạt để có thể huy
động và tạo đủ các nguồn thu và sử dụng chúng một cách hiệu quả trong khuôn khổ
luật pháp, đem lại lợi ích cho cả xã hội và bệnh viện. Song bệnh viện công là bệnh


12

viện của Nhà nước, nên quản lý tài chính bệnh viện công đòi hỏi vừa phải tuân thủ
các nguyên tắc, chế độ tài chính của Nhà nước đối với bệnh viện, vừa phải thực
hiện các quy chế, quy định do bệnh viện đề ra đối với hoạt động tài chính bệnh
viện. Để quản lý tài chính bệnh viện công theo hướng hiệu quả và công bằng, cần
thực hiện các nguyên tắc sau:
- Tiến hành thu- chi theo đúng pháp luật, đúng nguyên tắc của Nhà nước và
các quy định của bệnh viện về quản lý tài chính.
- Tăng nguồn thu hợp pháp, quản lý các nguồn kinh phí ngân sách nhà nước
cấp và các nguồn khác như viện phí, bảo hiểm y tế, viện trợ, đóng góp của nhân
viên… theo đúng quy định của Nhà nước; sử dụng các khoản chi có hiệu quả,
chống lãng phí, thực hành tiết kiệm trong chi tiêu.
- Thực hiện chính sách ưu đãi và cải thiện tính công bằng trong khám, chữa
bệnh cho các đối tượng ưu đãi và người nghèo.
- Bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, bệnh viện và bệnh nhân, cụ thể là
lợi ích của các nhóm đối tượng: Nhà nước, bệnh nhân, ban lãnh đạo và nhân viên
của bệnh viện.
- Công khai chi phí phải trả cho các loại dich vụ khám chữa bệnh. Từng bước
hạch toán chi phí và giá thành khám chữa bệnh.
1.2.3. Nội dung quản lý tài chính bệnh viện công :
Quy trình quản lý tài chính trong bệnh viện công ở Việt Nam gồm 4 bước:
• Lập dự toán thu chi.
• Thực hiện dự toán.
• Quyết toán.
• Thanh tra, kiểm tra, đánh giá.
1.2.3.1. Lập dự toán thu chi
Lập dự toán thu chi các nguồn kinh phí của bệnh viện là thông qua các nghiệp
vụ tài chính để cụ thể hoá định hướng phát triển, kế hoạch hoạt động ngắn hạn của
bệnh viện, trên cơ sở tăng nguồn thu hợp pháp và vững chắc, đảm bảo được hoạt
động thường xuyên của bệnh viện, đồng thời từng bước củng cố và nâng cấp cơ sở


13

vật chất của bệnh viện, tập trung đầu tư đúng mục tiêu ưu tiên nhằm đạt hiệu quả
cao, hạn chế tối đa lãng phí và tiêu cực, từng bước tính công bằng trong sử dụng các
nguồn đầu tư cho bệnh viện.
Khi xây dựng dự toán thu chi của bệnh viện cần căn cứ vào:
-

Phương hướng nhiệm vụ của đơn vị

-

Chỉ tiêu, kế hoạch có thể thực hiện được

-

Kinh nghiệm thực hiện các năm trước

-

Khả năng ngân sách nhà nước cho phép

-

Khả năng cấp vật tư của Nhà nước và của thị trường

-

Khả năng tổ chức quản lý và kỹ thuật của đơn vị
Các nguồn tài chính của bệnh viện
Ngân sách nhà nước cấp ( Bao cấp công cộng)
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về ngân sách Nhà nước cấp cho bệnh

viện ở Việt Nam. Nhìn chung, các nguồn đầu tư kinh phí cho bệnh viện thông qua
kênh phân bổ của Chính phủ được coi là NSNN cấp cho bệnh viện. Theo đó, ngân
sách cho bệnh viện có thể bao gồm chi sự nghiệp và đầu tư xây dựng cơ bản từ
NSNN, chi từ bảo hiểm y tế, thu viện phí và viện trợ nước ngoài… Tuy nhiên,
nguồn NSNN cấp cho bệnh viện ở đây được định nghĩa là khoản chi cho bệnh viện
từ NSNN cấp cho sự nghiệp y tế, cân đối từ nguồn thuế trực thu và thuế gián thu.
Bao gồm các khoản chi đầu tư, chi vận hành hệ thống.
Đối với các nước đang phát triển, nguồn NSNN cấp là nguồn tài chính quan
trọng nhất cho hoạt động của bệnh viện. Ở Việt Nam, cho đến nay, hàng năm các
bệnh viện công nhận được một khoản kinh phí được cấp từ ngân sách của Chính
phủ căn cứ theo định mức tính cho một đầu giường bệnh/năm nhân với số giường
bệnh kế hoạch của bệnh viện. Số kinh phí này thường đáp ứng được từ 30 đến 50%
nhu cầu chi tiêu tối thiểu của bệnh viện.
Nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế
Theo quy định của Bộ Tài chính nước ta, nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế
là một phần ngân sách sự nghiệp y tế của Nhà nước giao cho bệnh viện quản lý và


14

sử dụng để đảm bảo chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân. Nguồn thu viện phí
và bảo hiểm y tế thường đảm bảo được từ 20-30% nhu cầu chi tiêu tối thiểu của các
bệnh viện công.
Tuy nhiên cho đến nay ở nước ta, các cơ sở khám, chữa bệnh trong hệ thống y
tế Nhà nước chỉ được phép thu một phần viện phí. Một phần viện phí là một phần
trong tổng chi phí cho việc khám chữa bệnh. Một phần viện phí chỉ tính tiền thuốc,
dịch truyền, máu, hoá chất, xét nghiệm, phim X quang, vật tư tiêu hao thiết yếu và
dịch vụ khám chữa bệnh; không tính khấu hao tài sản cố định, chi phí hành chính,
đào tạo, nghiên cứu khoa học, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị lớn.
Hiện nay, giá viện phí do Chính quyền cấp tỉnh của từng địa phương quy định
dựa trên một khung giá tối đa- tối thiểu đã được Bộ Y tế và Bộ Tài chính phê duyệt.
Đối với người bệnh ngoại trú, biểu giá thu viện phí được tính theo lần khám bệnh và
các dịch vụ kỹ thuật mà người bệnh trực tiếp sử dụng. Đối với người bệnh nội trú,
biểu giá thu một phần viện phí được tính theo ngày giường nội trú của từng chuyên
khoa theo phân hạng bệnh viện và các khoản chi phí thực tế sử dụng trực tiếp cho
người bệnh. Đối với khám chữa bệnh theo yêu cầu thì mức thu được tính trên cơ sở
mức đầu tư của bệnh viện và cũng phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đối với
người có thẻ Bảo hiểm y tế thì cơ quan bảo hiểm thanh toán viện phí của bệnh nhân
cho bệnh viện. Tuy nhiên ở Việt Nam mới chỉ phổ biến loại hình bảo hiểm y tế bắt
buộc áp dụng cho các đối tượng công nhân viên chức làm công ăn lương trong các
cơ quan Nhà nước và các doanh nghiệp. Các loại hình bảo hiểm khác chưa được
triển khai một cách phổ biến.
Hiện nay, với chủ trương xã hội hoá các hoạt động chăm sóc sức khoẻ của
Đảng và Nhà nước, các loại hình bệnh viện và cơ sở y tế bán công ngoài công lập ra
đời với cơ chế tài chính chủ yếu dựa vào nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế.
Nguồn viện trợ và các nguồn thu khác
Nguồn viện trợ và các nguồn thu khác cũng được Chính phủ Việt Nam quy
định là một phần ngân sách của Nhà nước giao cho bệnh viện quản lý và sử dụng.
Tuy nhiên bệnh viện thường phải chi tiêu theo định hướng những nội dung đã định


15

từ phía nhà tài trợ. Nguồn kinh phí này đáp ứng khoảng 20-30% chi tối thiểu của
bệnh viện.
Chi
Nhóm I: Chi cho con người
Bao gồm các khoản chi về lương, phụ cấp lương ( được tính theo chế độ hiện
hành, kể cả nâng bậc lương hàng năm trong từng đơn vị hành chính sự nghiệp) và
các khoản phải nộp theo lương : bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội. Đây là khoản bù
đắp hao phí sức lao động, đảm bảo duy trì quá trình tái sản xuất sức lao động cho
bác sỹ, y tá, cán bộ công nhân viên của bệnh viện. Theo quy định trước đây, nhóm
này tương đối ổn định, chiếm khoảng 20% tổng kinh phí và chỉ thay đổi nếu biên
chế được phép thay đổi.
Nhóm II: Chi quản lý hành chính
Bao gồm các khoản chi: tiền điện, tiền nước, văn phòng phẩm, thông tin liên
lạc, hội nghị, khánh tiết, xăng xe…. Nhóm này mang tính gián tiếp nhằm duy trì sự
hoạt động của bộ máy quản lý của bệnh viện. Do vậy, các khoản chi này đòi hỏi
phải chi đúng, chi đủ, kịp thời và cần sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả. Tỷ lệ nhóm chi
này nên nằm trong khoảng từ 10-15% tổng kinh phí.
Trước đây nhóm chi này bị khống chế bởi quy định của Nhà nước với định
mức chi nhìn chung rất hạn hẹp và bất hợp lý. Tuy nhiên, trong cơ chế mới đơn vị
chủ động xây dựng tiêu chuẩn, định mức và chế độ chi tiêu nội bộ căn cứ trên cơ sở
định mức kinh tế kỹ thuật và chế độ chi tiêu tài chính hiện hành của Nhà nước để
đảm bảo hoạt động thường xuyên cho phù hợp với hoạt động đặc thù của bệnh viện,
đồng thời tăng cường công tác quản lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả trong phạm
vi nguồn tài chính của mình.
Cùng với việc chủ động đưa ra định mức chi, đơn vị cần xây dựng chính sách
tiết kiệm và quản lý chặt chẽ các khoản chi tiêu. Quản lý tốt nhóm này sẽ tạo điều
kiện tiết kiệm, tăng thêm kinh phí cho các nhóm khác.
Nhóm III: Chi nghiệp vụ chuyên môn


16

Bao gồm chi mua hàng hoá, vật tư dùng cho công tác điều trị và khám bệnh;
trang thiết bị kỹ thuật; sách, tài liệu chuyên môn y tế…. Nhóm này phụ thuộc vào
cơ sở vật chất và quy mô hoạt động của bệnh viện. Có thể nói đây là nhóm quan
trọng, chiếm 50% tổng số kinh phí và đòi hỏi nhiều công sức về quản lý. Đây là
nhóm thiết yếu nhất, thực hiện theo yêu cầu thực tế nên Nhà nước ít khống chế việc
sử dụng kinh phí nhóm này. Nhóm chi nghiệp vụ chuyên môn có liên hệ chặt chẽ
với chất lượng săn sóc bệnh nhân và mục tiêu phát triển bệnh viện.
Vấn đề đặt ra trong việc quản lý nhóm chi này là do những quy định không
quá khắt khe đòi hỏi các nhà quản lý phải biết sử dụng đúng mức và thích hợp,
tránh làm mất cân đối thu chi đặc biệt là thuốc nhưng vẫn giữ dược chất lượng điều
trị và nhất là tiết kiệm được kinh phí, tránh lãng phí: chi thuốc không quá 50%
nhóm chi chuyên môn.
Nhóm IV: Chi mua sắm, sửa chữa tài sản cố định
Hàng năm do nhu cầu hoạt động, do sự xuống cấp tất yếu của tài sản cố định
dùng cho hoạt động chuyên môn cũng như quản lý nên thường phát sinh nhu cầu
kinh phí để mua sắm, trang bị thêm hoặc phục hồi giá trị sử dụng cho những tài sản
cố định đã xuống cấp. Có thể nói đây là nhóm chi mà các bệnh viện đều quan tâm vì
nhóm này có thể làm thay đổi bộ mặt của bệnh viện và thay đổi công nghệ chăm sóc
bệnh nhân theo hướng phát triển từng giai đoạn. Tỷ lệ chi nhóm này nên ở mức trên
20% với bốn mục tiêu chính:
-

Duy trì và phát triển cơ sơ vật chất

-

Duy trì và phát triển tiện nghi làm việc

-

Duy trì và phát triển trang thiết bị

-

Duy trì và phát triển kiến thức, kỹ năng nhân viên
* Về sửa chữa
Nhìn chung các bệnh viện của Việt Nam đều xuống cấp và đòi hỏi phải sửa

chữa, nâng cấp, mở rộng đặc biệt là trong tình trạng quá tải bệnh nhân như hiện nay.
Nhưng đây là nhóm được quy định rất chặt chẽ trong từng phần vụ: sửa chữa nhỏ và
sửa chữa lớn. Vấn đề đặt ra là phải sửa chữa đúng mức, đầy đủ, đáp ứng tiêu chuẩn


17

vệ sinh; đòi hỏi phát huy năng lực quản lý trong nhóm chi này nhằm bảo toàn trị giá
vốn trong sửa chữa để có kết quả tốt trong việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn bỏ ra.
* Về việc mua sắm tài sản cố định
Bao gồm tiện nghi làm việc và trang thiết bị phục vụ chuyên môn. Do tác
động của cách mạng khoa học kỹ thuật, trang thiết bị cho khám chữa bệnh trong
bệnh viện càng hiện đại, sử dụng kỹ thuật ngày càng cao. Nhưng hầu hết các trang
thiết bị này được sản xuất ở nước ngoài, giá cả tương đối cao. Vấn đề đặt ra là việc
mua sắm phải tính đến giá cả/ hiệu quả. “ Liệu cơm gắp mắm” là phương châm mua
sắm trang thiết bị cho các bệnh viện. Việc mua sắm phải tuân thủ theo các quy định
của Nhà nước đồng thời bệnh viện phải có chiến lược quản lý và sử dụng công nghệ
để đạt hiệu quả .
1.2.3.2. Thực hiện dự toán
Thực hiện dự toán là khâu quan trọng trong quá trình quản lý tài chính bệnh
viện. Đây là quá trình sử dụng tổng hoà các biện pháp kinh tế tài chính và hành
chính nhằm biến các chỉ tiêu đã được ghi trong kế hoạch thành hiện thực. Thực hiện
dự toán đúng đắn là tiền đề quan trọng để thực hiện các chỉ tiêu phát triển bệnh
viện. Tổ chức thực hiện dự toán là nhiệm vụ của tất cả các phòng, ban, các bộ phận
trong đơn vị. Do đó đây là một nội dung được đặc biệt quan trọng trong công tác
quản lý tài chính của bệnh viện. Việc thực hiện dự toán diễn ra trong một niên độ
ngân sách ( ở nước ta là một năm từ ngày 01/01 đến 31/12 hàng năm).
Căn cứ thực hiện dự toán
• Dự toán thu chi ( kế hoạch) của bệnh viện đã được cấp có thẩm quyền phê
duyệt. Đây là căn cứ mang tính chất quyết định nhất trong chấp hành dự toán
của bệnh viện. Đặc biệt là trong điều kiện hiện nay, cùng với việc tăng cường
quản lý Nhà nước bằng pháp luật, một hệ thống các văn bản quy phạm pháp
luật điều chỉnh hoạt động quản lý tài chính ngày càng được hoàn thiện. Việc
chấp hành dự toán thu chi ngày càng được luật hoá, tạo điều kiện cho đơn vị
chủ động thực hiện theo đúng chức năng, nhiệm vụ của mình.
• Khả năng nguồn tài chính có thể đáp ứng nhu cầu hoạt động của bệnh viện.


18

• Chính sách, chế độ chi tiêu và quản lý tài chính hiện hành của Nhà nước.
Yêu cầu của công tác thực hiện dự toán
• Đảm bảo phân phối, cấp phát, sử dụng nguồn kinh phí một cách hợp lý, tiết
kiệm và hiệu quả.
• Đảm bảo giải quyết linh hoạt về kinh phí. Do sự hạn hẹp của nguồn kinh phí
và những hạn chế về khả năng dự toán nên giữa thực tế diễn ra trong quá
trình chấp hành và dự toán có thể có những khoảng cách nhất định đòi hỏi
phải có sự linh hoạt trong quản lý. Nguyên tắc chung là chi theo dự toán
nhưng nếu không có dự toán mà cần chi thì có quyết định kịp thời, đồng thời
có thứ tự ưu tiên việc gì trước, việc gì sau. Khi thực hiện dự toán bệnh viện
cần phải chú ý:
+ Khâu vệ sinh phòng dịch
+ Thuốc đảm bảo khám và chữa bệnh
+ Trang thiết bị
+ Tiền lương và phụ cấp cho cán bộ công nhân viên
+ Sửa chữa, nâng cấp bệnh viện
• Sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt dự toán và nhận được thông báo
cấp vốn hạn mức, đơn vị chủ động sử dụng để hoàn thành nhiệm vụ được
giao.
• Tổ chức thực hiện thu nhận các nguồn tài chính theo kế hoạch và theo quyền
hạn.
• Tổ chức thực hiện các khoản chi theo chế độ, tiêu chuẩn và định mức theo do
Nhà nước quy định trên cơ sở đánh giá hiệu quả, chất lượng công việc.
1.2.3.3. Quyết toán
Công tác quyết toán là khâu cuối cùng của quá trình sử dụng kinh phí. Đây là
quá trình phản ánh đầy đủ các khoản chi và báo cáo quyết toán ngân sách theo đúng
chế độ báo cáo về biểu mẫu, thời gian, nội dung và các khoản chi tiêu. Trên cơ sở
các số liệu báo cáo quyết toán có thể đánh giá hiệu quả phục vụ của chính bệnh
viện, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch đồng thời rút ra ưu, khuyết điểm của


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×