Tải bản đầy đủ

Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Lilama 10

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, được xuất phát
từ yêu cầu phát sinh trong công việc cũng như trong thực tế.
Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng tại nơi nghiên cứu, kết quả trình bày
trong luận văn được thu thập trong quá trình nghiên cứu là trung thực và chưa
được công bố trong bất kỳ công trình nào khác trước đây.
Hưng yên, ngày ….tháng … năm 2016
Học viên
Nguyễn Thị Thu


ii
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và làm đề tài luận văn của mình, tôi đã nhận
được sự quan tâm, hướng dẫn giúp đỡ của nhiều tập thể trong và ngoài trường.
Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, cô giáo trong Trường Đại
học Thương Mại, xin chân thành cảm ơn đến Ban Giám đốc, Phòng Tài chính
kế toán, và các anh chị trong Công ty Cổ phần Lilama 10 đã nhiệt tình giúp
đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài của mình.
Đặc biệt tôi xinh chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Thầy giáo T.S

Trần Hải Long - Người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn và
giúp đỡ tôi tận tình trong suốt thời gian nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị, bạn bè đã tạo điều
kiện và động viên cho tôi hoàn thành luận văn này.
Hưng yên, ngày … tháng … năm 2016
Học viên
Nguyễn Thị Thu


iii
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................1
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN
XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TRONG DOANH
NGHIỆP XÂY DỰNG......................................................................................6
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ.........29
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
LILAMA 10....................................................................................................29
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LILAMA 1058
KẾT LUẬN.....................................................................................................70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................72
PHỤ LỤC.......................................................................................................76
DANH MỤC PHỤ LỤC.................................................................................76


iv
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.2: Quy trình hoạt động sản xuất kinh doanh..................................37
Sơ đồ 2.3: Tổ chức bộ máy kế toán...............................................................41


v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
CP

Chi phí



CPSX

Chi phí sản xuất

KKĐK Kiểm kê định kỳ
KKTX Kê khai thường xuyên
KPCĐ Kinh phí công đoàn
NC

Nhân công

NCTT

Nhân công trực tiếp

NVL

Nguyên vật liệu

SP

Sản phẩm

SX

Sản xuất

SXC

Sản xuất chung

SXKD Sản xuất kinh doanh
TCKT

Tài chính kế toán

TK

Tài khoản

TSCĐ

Tài sản cố định

XDCB Xây dựng cơ bản


1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nền kinh tế phát triển càng ngày càng năng động hơn, đây là tính tất yếu
của xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá và hiện đang phát triển mạnh mẽ, tác
động đến toàn bộ lĩnh vực của đời sống xã hội. Đối với doanh nghiệp sản xuất
sản phẩm hay kinh doanh dịch vụ thì giá thành luôn là yếu tố rất quan trọng
để doanh nghiệp có thể tái sản xuất và tìm kiếm lợi nhuận. Chi phí và giá
thành chính là thước đo mức chi phí tiêu hao phải bù đắp sau mỗi chu kì sản
xuất kinh doanh.
Ngành xây dựng luôn được coi là ngành kinh tế quan trọng, là ngành sản
xuất tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật và là bộ phận không thể thiếu trong nền
kinh tế quốc dân. Cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế khác, thì
ngành xây dựng đang được mở rộng vị thế của mình so với các ngành khác
trên cơ sở ngày càng tăng tỷ trọng đóng góp vào tổng thu nhập quốc dân, tạo
thêm nhiều công ăn việc làm tăng thu nhập cho người lao động.
Trong các doanh nghiệp xây dựng, giá thành sản phẩm xây lắp là chỉ tiêu
chất lượng quan trọng trong kinh doanh, qua chỉ tiêu này có thể đánh giá được
trình độ quản lý kinh doanh, tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp. Quản lý
tốt giá thành sản phẩm xây lắp nhằm phấn đấu hạ thấp chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm nhưng vẫn nâng cao được chất lượng công trình, đảm bảo tiến
độ thi công là nhiệm vụ hàng đầu của các doanh nghiệp xây dựng.
Vì vậy, việc quản lý chặt chẽ cũng như hạch toán một cách đầy đủ, kịp
thời các chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là rất cần thiết nhằm mục đích
kiểm tra, giám sát đồng thời cung cấp thông tin để phục vụ cho việc ra các
quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp.
Công ty Cổ phần Lilama 10 là công ty hoạt động nhiều năm trong lĩnh
vực xây lắp. Đây là một ngành kinh tế kĩ thuật tổng hợp có vị trí hết sức quan
trọng trong xây dựng và phát triển đất nước, là ngành sản xuất vật chất trang


2
bị tài sản cố định, năng lực cho những ngành khác trong nền kinh tế quốc dân.
Đặc điểm nổi bật của ngành xây lắp là vốn đầu tư lớn, thời gian thi công dài
nên phải tổ chức nghiệm thu và thanh toán theo từng phần khối lượng công
trình chứ không chờ đến khi công trình hoàn tất mới thanh toán như trong
công nghiệp.
Cùng với sự đổi mới trong chế độ kế toán của nhà nước, đã có nhiều bước
cải tiến trong công tác kế toán để phù hợp với những thay đổi nhanh chóng của
nền kinh tế, tuy nhiên còn nhiều hạn chế mà bộ phận kế toán của Công ty Cổ
phẩn Lilama 10 còn chưa khắc phục kịp thời. Ví dụ như đối với chi phí sử dụng
máy thi công, công ty không hạch toán vào TK 623- Chi phí sử dụng máy thi
công theo quy định mà sử dụng TK 6278, do vậy gây khó khăn cho việc hạch
toán các chi phí khác như điện, nước,…Hơn nữa việc tính giá thành còn dựa vào
Tỷ lệ khối lượng xây lắp hoàn thành và được xác định trước khi đánh giá sản
phẩm dở dang cuối kỳ, điều này làm cho số liệu về giá thành có sự sai lệch và
không được chính xác nhất.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên và với mong muốn tìm
hiểu rõ hơn về vấn đề này trên cả mặt lý luận và thực tiễn nên tôi đã lựa chọn
đề tài để nghiên cứu: “Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
xây lắp tại Công ty Cổ phần Lilama 10”.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại các doanh nghiệp xây
dựng cụ thể:
Luận văn thạc sĩ năm 2012 của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang (Đại học
Thương Mại): “Kế toán quản trị chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây
lắp tại các doanh nghiệp thuộc Tổng Công ty Xây dựng và Phát triển hạ tầng”.
Luận văn đã đề cập các vấn đề lý luận cơ bản về kế toán quản trị chi phí và giá
thành sản phẩm xây lắp. Từ thực trạng nghiên cứu tác giả đưa ra biện pháp để
hoàn thiện quy chế khoán, xác lập mô hình kế toán quản trị cho các doanh


3
nghiệp xây lắp, phân tích điểm hoà vốn trong doanh nghiệp xây lắp để xác định
giá bỏ thầu và xem khả năng áp dụng hệ thống giá linh hoạt trong xây lắp.
Luận văn thạc sĩ năm 2013 của tác giả Nguyễn Đức Phong (Học viện Tài
chính):“Một số giải pháp nhằm hoàn thiện phương pháp tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm của Công ty Cổ phần Lilama – Thí nghiệm
cơ điện”. Luận văn đã trình bày một cách hệ thống những lý luận chung về kế
toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh
nghiệp xây lắp. Từ thực trạng nghiên cứu, tác giả đã đưa ra một số giải pháp
nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại đơn
vị như: Đơn vị nên mở các tài khoản chi tiết cho TK 623, TK 627 để cung cấp
những thông tin chi tiết hơn về các yếu tố trong từng khoản mục và đơn vị
nên tiến hành kiểm kê nguyên vật liệu sử dụng không hết để làm căn cứ giảm
chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Luận văn thạc sĩ năm 2014 của tác giả Vũ Hoàng Yến (Đại học Thương
Mại): “Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp tại các đơn vị
thành viên thuộc Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8 (Cienco 8)”.
Tác giả đã trình bày được cơ sở lý thuyết, nêu được thực trạng và đã đưa ra
một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xây lắp trên góc độ kế toán tài chính cho các đơn vị thành
viên thuộc Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông số 8. Tuy nhiên, tác
giả chưa khảo sát được tất cả đơn vị thành viên mà chỉ nghiên cứu trên phạm
vi 3 đơn vị nên chưa đề cập và rút ra những điểm giống và khác nhau giữa
công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại các
đơn vị thành viên thuộc Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 8.
Luận văn thạc sĩ năm 2014 của tác giả Vũ Thị Kim Chinh (Đại học
Thương Mại): “Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành công trình xây
dựng tại công ty cổ phần xây dựng số 5”. Luận văn đã đưa ra nguyên tắc
chung cũng như nội dung hoàn thiện tổ chức chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm ở một số khía cạnh như: Hoàn thiện phương pháp đánh giá sản


4
phẩm dở dang hay hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp trong điều kiện khoán.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Về lý luận
Tìm hiểu và hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở các doanh nghiệp xây dựng.
- Về thực tiễn
Khảo sát tình hình thực tế công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xấy lắp ở Công ty Cổ phần Lilama 10, chỉ ra được những ưu
điểm cũng như những tồn tại trong kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại đơn vị khảo sát.
Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp để khắc phục những tồn tại nhằm
hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại đơn
vị khảo sát.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu tại Công ty Cổ phần Lilama 10.
- Về thời gian: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các nghiệp vụ phát sinh
vào quý 4 năm 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập các chứng từ gốc có liên quan đến
chi phí và giá thành tại Công ty Cổ phần Lilama 10; tham khảo thêm sách và
các tài liệu trên báo, tạp chí,…
- Thu thập dữ liệu sơ cấp: Phương pháp quan sát trực tiếp, phương pháp
phỏng vấn trực tiếp.


5
5.2. Phương pháp xử lý, phân tích số liệu
Luận văn sử dụng các phương pháp xử lý, phân tích số liệu cụ thể như:
Thống kê, phân tích, so sánh,…dựa trên những tài liệu sẵn có của đơn vị.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn hệ thống hoá những vấn đề lý luận về bản
chất của chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp
xây dựng.
- Ý nghĩa thực tiễn: Từ vận dụng lý luận để đưa ra các đề xuất nhằm
thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty
Cổ phần Lilama 10 để xây dựng mô hình kế toán chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm của đơn vị khảo sát một cách hiệu quả và hợp lý hơn.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn được chia làm 03 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xây lắp trong doanh nghiệp xây dựng
Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Lilama 10
Chương 3: Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Lilama 10


6
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN
XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP TRONG
DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG
1.1. Đặc điểm của hoạt động sản xuất xây lắp ảnh hưởng tới kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
1.1.1. Đặc điểm hoạt động sản xuất xây lắp
Sản xuất xây dựng cơ bản là một hoạt động xây dựng mới, mở rộng,
khôi phục cải tạo cơ sở vật chất cho nền kinh tế. Trong hoạt động xây lắp
nhận thầu giữ vai trò quan trọng và hoạt động chủ yếu theo phương thức nhận
thầu khối lượng xây lắp do chủ đầu tư giao thầu.
Xây dựng cơ bản là 1 ngành sản xuất vật chất mang tính chất sản xuất
công nghiệp, nhưng có đặc điểm riêng biệt khác với ngành sản xuất khác, ảnh
hưởng đến công tác quản lý và công tác kế toán. Sản xuất xây lắp có những
đặc điểm riêng mang tính đặc thù sau đây.
Thứ nhất: Sản phẩm xây lắp mang tính chất riêng lẻ đó là những công
trình, vật kiến trúc... có qui mô lớn, kỹ thuật sản xuất phức tạp, sản xuất đơn
chiếc, thời gian sản xuất dài,...(Mỗi sản phẩm xây lắp có yêu cầu về mặt cấu
trúc, mỹ thuật, hình thức địa điểm xây dựng khác nhau), do vậy đòi hỏi phải
lập dự toán (dự toán thiết kế, dự toán thi công), quá trình xây lắp phải luôn
luôn sát với dự toán, phải lấy dự toán làm căn cứ tổ chức thực hiện.
Thứ hai: Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá trị dự toán (hoặc giá
thoả thuận khi trúng thầu hoặc giá chỉ định thầu). Tính chất hàng hoá của sản
phẩm xây lắp không thể hiện rõ (vì đã quy định giá cả, người mua, người bán
từ trước thông qua hợp đồng giao thầu). Vì vậy, việc tiêu thụ được thực hiện
thông qua việc bàn giao công trình hoàn thành cho chủ đầu tư.
Thứ ba: Hoạt động xây lắp mang tính chất lưu động, tiến hành chủ yếu
ngoài trời. Sản phẩm xây lắp được cố định tại nơi sản xuất, còn phương tiện
sản xuất (máy móc thi công, công nhân) phải di chuyển theo địa điểm sản


7
xuất. Đặc điểm này làm cho công tác quản lý, kế toán tài sản, vật tư lao động
phức tạp, đồng thời lại chịu tác động của môi trường tự nhiên dễ làm tài sản
mất mát, hư hỏng.
Thứ tư: Thời gian thi công và thời gian sử dụng sản phẩm xây lắp rất lâu
dài, chất lượng được xác định cụ thể trong hồ sơ thiết kế kỹ thuật. Do đó đòi
hỏi công tác quản lý và kế toán phải thực hiện tốt để cho chất lượng công
trình thực hiện đúng như dự toán thiết kế,...
Thứ năm: Tổ chức sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp ở nước ta
hiện nay phổ biến theo phương thức "khoán gọn" các công trình, hạng mục
công trình, khối lượng hoặc công việc cho các đơn vị trong nội bộ doanh
nghiệp (đội, xí nghiệp…). Trong giá khoán gọn, không chỉ có tiền lương mà
còn có đủ các chi phí về vật liệu, công cụ, dụng cụ thi công, chi phí chung của
bộ phận nhận khoán.
Những đặc điểm hoạt động kinh doanh, đặc điểm sản phẩm, đặc điểm tổ
chức sản xuất và quản lý ngành nói trên phần nào chi phối công tác kế toán
trong các doanh nghiệp xây lắp, dẫn đến những khác biệt nhất định. Tuy nhiên
về cơ bản, kế toán các phần hành cụ thể (TSCĐ, vật liệu, công cụ, chi phí
nhân công…) trong doanh nghiệp xây lắp cũng tương tự như doanh nghiệp
công nghiệp.
1.1.2. Ảnh hưởng của hoạt động sản xuất xây lắp đến kế toán chi phí
và giá thành sản phẩm xây lắp
Chi phí xây dựng cơ bản bao gồm: Xây dựng, mua sắm, lắp đặt thiết bị
và chi phí kiến thiết cơ bản khác, trong đó phần xây dựng, lắp đặt do các
doanh nghiệp chuyên về thi công xây lắp đảm nhận thông qua hợp đồng giao
nhận thầu xây lắp. Sản phẩm của các công trình xây lắp là các công trình đã
xây dựng, lắp đặt hoàn thành có thể đưa vào sử dụng phục vụ cho sản xuất và
đời sống.


8
So với ngành sản xuất khác, ngành xây dựng cơ bản có nhũng nét đặc
thù riêng biệt thể hiện ở sản phẩm và quá trình sản xuất. Điều này có ảnh
hưởng đến công tác hạch toán kế toán của ngành. Cụ thể:
Sản phẩm xây lắp mang tính riêng lẻ, đơn chiếc. Mỗi sản phẩm xấy lắp
có yêu cầu về mặt thiết kế kỹ thuật, kết cấu, hình thức, địa điểm xây dựng
khác nhau. Vì vậy, mỗi sản phẩm xây lắp đều có yêu cầu tổ chức quản lý, tổ
chức thi công và biện pháp thi công phù hợp với từng công trình cụ thể, có
như vậy việc sản xuất mới mang lại hiệu quả cao.
Do sản phẩm có tính đơn chiếc như vậy nên chi phí sản xuất cho từng
công trình sẽ khác nhau. Do vậy, việc tập hợp chi phí, tính giá thành sản phẩm
xây lắp chưa tạo ra sản phẩm xây lắp cũng được tính cho từng sản phẩm xây
lắp riêng biệt. Thông thường sản phẩm xây lắp theo đơn đặt hàng nên ít phát
sinh chi phí trong quá trình lưu thông.
Sản phẩm xây lắp có giá trị lớn, kết cấu phức tạp, thời gian thi công kéo
dài. Trong quá trình xây lắp chưa tạo ra sản phẩm cho xã hội nhưng lại sử
dụng nhiều vật tư, nhân lực, vốn. Do đó, việc quản lý đòi hỏi phải lập dự toán
thiết kế và thi công để theo dõi, kiểm tra quá trình sản xuất, thi công, đảm bảo
sử dụng vốn tiết kiệm đảm bảo chất lượng công trình.
Do thời gian thi công kéo dài nên kỳ tính giá thành thường không xác
định hàng tháng như trong sản xuất Công nghiệp mà xác định theo thời điểm
khi công trình, hạng mục công trình hoàn thành hay thực hiện bàn giao thanh
toán theo giai đoạn quy ước, tuỳ thuộc vào kết cấu kỹ thuật và khả năng về
vốn của đơn vị xây lắp.
Doanh nghiệp xây lắp thường có địa bàn rộng, sản phẩm xây lắp cố định
tại nơi sản xuất. Các điều kiện để sản xuất (xe, máy, nhân công, thiết bị,
phương tiện thi công) phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm. Đặc điểm
này làm cho công tác quản lý rất phức tạp ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên
thời tiết. Thông thường các doanh nghiệp xây lắp sử dụng lực lượng lao động
thuê ngoài tại chỗ, nơi thi công công trình để giảm bớt chi phí di dời.


9
Công tác kế toán phải tổ chức tốt khâu hạch toán ban đầu, thường xuyên
kiểm kê vật tư tài sản nhằm phát hiện những thiếu hụt, hư hỏng để có biện
pháp xử lý kịp thời.
Sản xuất xây dựng cơ bản thường diễn ra ngoài trời, chịu sự tác động
trực tiếp của thiên nhiên, thời tiết nên việc thi công ở mức độ nào đó mang
tính thời vụ. Do đặc điểm này, trong quá trình thi công cần quản lý lao động,
vật tư chặt chẽ, thi công nhanh, đúng tiến độ khi điều kiện môi trường, thời
tiết thuận lợi. Trong điều kiện thời tiết không thuận lợi ảnh hưởng đến chất
lượng công trình có thể phải đi làm lại và các thiệt hại phát sinh do ngừng sản
xuất. Doanh nghiệp cần có chế độ điều chỉnh cho phù hợp, nhằm tiết kiệm chi
phí, hạ giá thành.
1.2. Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất xây lắp và giá thành sản
phẩm xây lắp
1.2.1. Khái niệm chi phí sản xuất xây lắp
Chi phí sản xuất xây lắp là quá trình chuyển biến của vật liệu xây dựng
thành sản phẩm dưới tác động của máy móc thiết bị cùng sức lao động của
công nhân. Nói cách khác, các yếu tố về tư liệu lao động, đối tượng lao động
dưới sự tác động có mục đích của sức lao động qua quá trình thi công sẽ trở
thành sản phẩm xây dựng.
Tất cả những hao phí này được thể hiện dưới hình thái giá trị thì đó là
chi phí sản xuất. Chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại khác nhau, công dụng
và mục đích khác nhau song chung quy gồm có chi phí về lao động sống như
chi phí về tiền lương và các khoản trích theo lương; chi phí về lao động vật
hoá như nguyên vật liệu, khấu hao về TSCĐ…
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây lắp bao gồm chi phí sản xuất xây
lắp và chi phí sản xuất ngoài xây lắp. Các chi phí sản xuất xây lắp cấu thành
giá thành sản phẩm xây lắp.


10
1.2.2. Phân loại chi phí sản xuất xây lắp
Việc quản lý chi phí sản xuất không chỉ đơn thuần là quản lý số liệu phản
ánh tổng hợp chi phí mà phải dựa trên cả các yếu tố chi phí riêng biệt để phân
tích toàn bộ chi phí sản xuất của từng công trình, hạng mục công trình hay
theo nơi phát sinh chi phí. Dưới các góc độ xem xét khác nhau, theo những
tiêu chí khác nhau thì chi phí sản xuất cũng được phân loại theo các cách khác
nhau để đáp ứng yêu cầu thực tế của quản lý và hạch toán.
Theo quy định hiện hành, giá thành sản phẩm bao gồm các khoản mục
chi phí sau:
a, Phân loại chi phí theo yếu tố chi phí
Căn cứ vào nội dung kinh tế của chi phí để sắp xếp những chi phí có nội
dung kinh tế ban đầu giống nhau vào cùng một nhóm chi phí. Cách phân loại
này không phân biệt nơi chi phí phát sinh và mục đích sử dụng của chi phí.
Mục đích của cách phân loại này để biết được chi phí sản xuất của doanh
nghiệp gồm những loại nào, số lượng, giá trị từng loại chi phí là bao nhiêu.
Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Gồm toàn bộ giá trị các loại nguyên liệu,
nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu, thiết bị xây dựng cơ bản… mà doanh
nghiệp đã thực sự sử dụng cho hoạt động sản xuất.
Chi phí nhân công: Là toàn bộ số tiền lương tiền công phải trả, tiền trích
BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ của công nhân viên chức trong doanh nghiệp.
Chi phí khấu hao TSCĐ: Là toàn bộ giá trị khấu hao phải trích của các
TSCĐ sử dụng trong doanh nghiệp.
Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là toàn bộ số tiền doanh nghiệp phải trả về
các dịch mua từ bên ngoài như tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại phục vụ
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chi phí khác bằng tiền: Gồm toàn bộ chi phí khác dùng cho hoạt động
sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp ngoài các yếu tố chi phí trên như chi phí
tiếp khách hội họp…


11
b, Phân loại chi phí theo khoản mục chi phí
Cách phân loại này dựa trên công dụng của chi phí trong quá trình sản
xuất và phương pháp tập hợp chi phí có tác dụng tích cực cho việc phân tích
giá thành theo khoản mục chi phí. Mục đích của cách phân loại này để tìm ra
các nguyên nhân làm thay đổi giá thành so với định mức và đề ra các biện
pháp hạ giá thành sản phẩm.
Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp bao gồm: Giá trị thực tế của vật
liệu chính, vật liệu phụ, các cấu kiện hoặc các bộ phận rời, vật liệu luân
chuyển tham gia cấu thành thực thể sản phẩm xây, lắp hoặc giúp cho việc
thực hiện và hoàn thành khối lượng xây, lắp ( không kể vật liệu phụ cho máy
móc, phương tiện thi công và những vật liệu tính trong chi phí chung).
Chi phí nhân công trực tiếp: Là toàn bộ tiền lương chính, lương phụ,
phụ cấp của nhân công trực tiếp xây lắp công trình, công nhân vận chuyển,
bốc dỡ vật tư trong phạm vi mặt bằng thi công. Khoản mục này không bao
gồm tiền lương và các khoản phụ cấp có tính chất lương của công nhân điều
khiển máy thi công, công nhân vận chuyển vật liệu ngoài phạm vi công trình
và các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất, công nhân
điều khiển máy thi công.
Chi phí sử dụng máy thi công bao gồm: Chi phí cho các máy thi công
nhằm thực hiện khối lượng công tác xây lắp bằng máy. Máy móc thi công là
loại máy trực tiếp phục vụ xây lắp công trình. Đó là những máy móc chuyển
động bằng động cơ hơi nước, diezen, xăng, điện,… (kể cả loại máy phục vụ
xây, lắp).
Chi phí sử dụng máy thi công bao gồm: Chi phí thường xuyên và chi phí
tạm thời. Chi phí thường xuyên cho hoạt động của máy thi công, gồm: Chi
phí nhân công điều khiển máy, phục vụ máy,…; Chi phí vật liệu; Chi phí công
cụ, dụng cụ; Chi phí khấu hao TSCĐ; Chi phí dịch vụ mua ngoài (chi phí sửa
chữa nhỏ, điện, nước, bảo hiểm xe, máy,…); Chi phí khác bằng tiền.


12
Chi phí tạm thời cho hoạt động của máy thi công, gồm: Chi phí sửa chữa
lớn máy thi công (đại tu, trùng tu,…) không đủ điều kiện ghi tăng nguyên giá
máy thi công; Chi phí công trình tạm thời cho máy thi công (lều, lán, bệ,
đường ray chạy máy,…).
Chi phí sản xuất chung: Phản ánh chi phí sản xuất của đội, công trường
xây dựng gồm: Lương nhân viên quản lý phân xưởng, tổ, đội xây dựng;
Khoản trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ được tính theo tỷ lệ quy định trên
tiền lương phải trả công nhân trực tiếp xây lắp, nhân viên sử dụng máy thi
công và nhân viên quản lý phân xưởng, tổ, đội; Khấu hao TSCĐ dùng chung
cho hoạt động của đội và những chi phí khác liên quan đến hoạt động của đội,

c, Phân loại chi phí theo nội dung của chi phí.
Theo cách phân loại này, các yếu tố có cùng nội dung kinh tế được sắp
xếp chung vào một yếu tố, không phân biệt chi phí sản xuất được phát sinh ở
đâu hay dùng vào mục đích gì trong sản xuất nhằm tổng hợp và cân đối mọi
chỉ tiêu kinh tế và kế hoạch của doanh nghiệp. Toàn bộ chi phí sản xuất trong
kỳ đối với doanh nghiệp xây lắp được chia thành các yếu tố sau:
Chi phí nguyên vật liệu: Là những chi phí nguyên vật liệu không phân
biệt được trực tiếp hay gián tiếp như xi măng, sắt, thép…mà doanh nghiệp đã
sử dụng trong quá trình sản xuất sản phẩm xây lắp.
Chi phí sử dụng nhân công: Là những chi phí về tiền lương và các khoản
trích theo lương của công nhân sản xuất, công nhân sử dụng máy thi công và
nhân viên quản lý ở các bộ phận, tổ, đội, thi công.
Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao TSCĐ
sử dụng cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp bao gồm khấu hao
máy thi công và các TSCĐ khác sử dụng cho hoạt động sản xuất và phục vụ
sản xuất ở các tổ, đội, bộ phận thi công.


13
Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là số tiền phải trả về các dịch vụ mua ngoài
sử dụng cho hoạt động sản xuất xây lắp trong doanh nghiệp như tiền điện, tiền
nước, tiền tư vấn,…
Chi phí khác bằng tiền: Bao gồm các chi phí dùng chi hoạt động sản
xuất xây lắp ngoài các yếu tố chi phí đã nêu trên và được thanh toán bằng
tiền.
Theo cách phân loại này, nó cho biết cơ cấu chi phí theo nội dung kinh tế
để phân tích đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất. Nó là cơ sở
lập dự toán chi phí sản xuất, lập kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch quỹ tiền
lương, tính toán nhu cầu sử dụng vốn lưu động định mức và là cơ sở để lập
các báo cáo tài chính, giám đốc tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất.
d, Theo mối quan hệ giữa chi phí và khối lượng sản phẩm sản xuất
Chi phí cố định: Là những chi phí mang tính tương đối ổn định không phụ
thuộc vào số lượng sản phẩm sản xuất trong một mức sản lượng nhất định. Khi
sản lượng tăng thì mức chi phí tính trên một sản phẩm có xu hướng giảm.
Chi phí biến đổi: Là những chi phí thay đổi phụ thuộc vào số lượng sản
phẩm. Các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi
phí sử dụng máy …thuộc chi phí biến đổi. Dù sản lượng sản phẩm sản xuất
thay đổi nhưng chi phí biến đổi cho một sản phẩm thì mang tính ổn định.
Cách phân loại này có vai trò quan trọng trong phân tích điểm hoà vốn
phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh của nhà quản lý.
1.2.3. Khái niệm và phân loại giá thành sản phẩm trong doanh
nghiệp xây dựng
1.2.3.1. Khái niệm giá thành sản phẩm xây lắp
Để xây dựng một công trình hay một hạng mục công trình thì doanh
nghiệp kinh doanh xây lắp phải đầu tư vào quá trình sản xuất thi công một
lượng chi phí nhất định. Những chi phí sản xuất mà doanh nghiệp chi ra trong
một quá trình thi công đó sẽ tham gia cấu thành nên giá thành sản phẩm xây
lắp hoàn thành của quá trình đó.


14
Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí phát
sinh trong quá trình sản xuất tính cho một khối lượng sản phẩm xây lắp hoàn
thành theo quy định.
1.2.3.2. Phân loại giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp
a, Phân loại giá thành theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành
Theo cách phân loại này, chỉ tiêu giá thành được chia thành: Giá thành
dự toán, giá thành kế hoạch, giá thành định mức và giá thành thực tế.
Giá thành dự toán: Là tổng các chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng
xây lắp công trình. Giá thành dự toán được xác định trên cơ sở các định mức
kinh tế kỹ thuật do Nhà nước quy định và khung giá áp dụng theo từng khu
vực địa lý.
Giá thành dự toán
= Giá trị dự toán - Thu nhập định mức
Giá thành kế hoạch: Là giá thành được xác định trước khi bước vào kinh
doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán chi phí
của kỳ kế hoạch, cũng như xuất phát từ những điều kiện cụ thể của doanh nghiệp
xây lắp. Giá thành kế hoạch được xác lập trên cơ sở giá thành dự toán gắn liền
với năng lực thực tế của từng doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
Giá thành

=

Giá

thành

-

Mức hạ

+

Chênh lệch

kế hoạch
dự toán
giá thành
định mức
Giá thành định mức: Cũng như giá thành kế hoạch, giá thành định mức
cũng được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên, khác với
giá thành kế hoạch được xây dựng trên cơ sở các định mức bình quân tiên tiến
và không biến đổi trong suốt cả kỳ kế hoạch, giá thành định mức được xây
dựng trên cơ sở các định mức về chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất
định trong kỳ kế hoạch (thường là ngày đầu tháng) nên giá thành định mức
luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí đạt được
trong quá trình thực hiện kế hoạch giá thành.
Giá thành thực tế: Là giá thành được xác định sau khi kết thúc quá trình
sản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở các chi phí sản xuất thực tế phát sinh để
hoàn thành bàn giao khối lượng xây lắp mà doanh nghiệp đã nhận thầu. Giá


15
thành thực tế bao gồm các chi phí theo định mức, với các khoản chi vượt định
mức và không định mức như các khoản thiệt hại trong sản xuất, các khoản bội
chi… trong quá trình sản xuất theo quy định của VAS 02 sẽ không được tính
vào giá thành mà tính vào giá vốn của kỳ kinh doanh.
Hiện nay trong lĩnh vực kinh doanh xây lắp giá thành thực tế được báo
cáo theo hai chỉ tiêu:
Giá thành thực tế khối lượng công tác xây lắp: Là toàn bộ chi phí bỏ ra
để tiến hành sản xuất một khối lượng công tác xây lắp nhất định trong một
thời kỳ nhất định, thường là một quý. Chỉ tiêu này được xác định vào thời kỳ
đó và có tác dụng phản ảnh kịp thời mức giá thành trong thi công để có biện
pháp giảm chi phí, hạ giá thành.
Giá thành thực tế công trình, hạng mục công trình hoàn thành: Bao gồm
toàn bộ chi phí thực tế bỏ ra để tiến hành thi công công trình, hạng mục công
trình từ khi khởi công đến khi hoàn thành, bàn giao cho đơn vị chủ đầu tư.
b, Phân loại giá thành theo phạm vi phát sinh chi phí
Theo cách phân loại này, chỉ tiêu giá thành được chia thành giá thành sản
xuất và giá thành tiêu thụ.
Giá thành sản xuất: Là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh
bao gồm chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí máy thi công, chi
phí sản xuất chung.
Giá thành tiêu thụ: (Hay còn gọi là giá thành toàn bộ) là chỉ tiêu phản
ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc xây lắp, tiêu thụ
công trình. Giá thành toàn bộ được tính theo công thức
Giá thành

=

Giá thành

+

Chi phí quản lý

+

Chi phí

toàn bộ
xây lắp
doanh nghiệp
Bán hàng
Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kết quả
kinh doanh của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh
doanh. Tuy nhiên, do những hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức phân bổ


16
chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cho từng mặt hàng, từng
loại dịch vụ nên cách phân loại này chỉ còn mang ý học thuật, nghiên cứu.
1.2.4. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Hoạt động xây lắp là sự thống nhất hai mặt của một quá trình. Như vậy,
có thể thấy chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ và
có sự độc lập tương đối với nhau. Chi phí thể hiện hao phí sản xuất còn giá
thành thể hiện kết quả của quá trình sản xuất.
Về mặt chất: Chúng đều bao gồm các hao phí về lao động sống và lao
động vật hoá mà Doanh nghiệp phải bỏ ra trong quá trình thi công xây lắp.
Về mặt lượng: Chi phí sản xuất phản ánh hao phí trong một thời kỳ nhất
định, giá thành sản phẩm chỉ phản ánh những hao phí liên quan tới khối lượng
công việc hoàn thành, được bàn giao, được nghiệm thu. Giá thành sản phẩm
không bao gồm chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ, chi phí không liên quan đến
hoạt động sản xuất, chi phí thực tế phát sinh chờ phân bổ, nhưng lại bao gồm
chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ, chi phí thực tế chưa phát sinh nhưng được tính
trước trong kỳ và chi phí phát sinh trong kỳ trước nhưng phân bổ cho kỳ này.
Sự khác nhau về mặt lượng và mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm thể hiện ở công thức tính giá thành tổng quát sau:
Tổng giá
thành sản

Chi phí sản
=

xuất dở dang

Tổng chi phí sản
+

xuất phát sinh

Chi phí sản
-

xuất dở dang

phẩm
đầu kỳ
trong kỳ
cuối kỳ
Như vậy, chi phí sản xuất là cơ sở để xây dựng giá thành sản phẩm còn
giá thành là cơ sở để xây dựng giá bán. Trong điều kiện nếu giá bán không
thay đổi thì sự tiết kiệm hoặc lãng phí của doanh nghiệp về chi phí sản xuất
có ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành thấp hoặc cao từ đó sẽ tác động tới lợi
nhuận của doanh nghiệp. Do đó tiết kiệm chi phí, hạ thấp giá thành là nhiệm
vụ quan trọng và thường xuyên của công tác quản lý kinh tế. Nó giúp cho
doanh nghiệp cạnh tranh có hiệu quả trên thị trường.


17
1.2.5. Yêu cầu quản lý và nhiệm kế toán chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm xây lắp
1.2.5.1 Yêu cầu quản lý đối với chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Do đặc thù ngành xây dựng cơ bản và của sản phẩm xây dựng cho nên
việc quản lý về đầu tư và xây dựng là quá trình khó khăn, phức tạp, nhất là từ
khi chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường. Việc quản lý
thi công nói chung và quản lý chi phí và tính giá thành sản phẩm nói riêng
phải hết sức chặt chẽ.
Đối với sản phẩm xây lắp trước khi thi công nhất thiết phải lập dự toán
(dự toán thiết kế, dự toán thi công). Trong quá trình sản xuất phải thường
xuyên đối chiếu với dự toán để kịp thời phát hiện những sai lệch. Có thể nói
dự toán được dùng làm thước đo để đánh giá các hoạt động.
Do phải thi công ngoài trời nên công tác quản lý, việc sử dụng tài sản, vật
tư, thiết bị rất phức tạp, hơn nữa do ảnh hưởng thời tiết nên việc hao hụt, mất
mát là khó tránh khỏi. Điều này đòi hỏi tinh thần trách nhiệm cao của người sử
dụng lao động và yêu cầu người quản lý phải có biện pháp quản lý thích hợp.
Sản phẩm có giá trị lớn, nhu cầu về vốn lớn mà trong thi công không
phải lúc nào cũng có sẵn, do đó phải sử dụng hợp lý và tiết kiệm trong khi vẫn
bảo đảm chất lượng công trình theo đúng dự toán thiết kế, yêu cầu đảm bảo
công trình.
Tính chất phức tạp của hoạt động đòi hỏi công tác quản lý phải xác định
rõ từng bước công việc tránh sự chồng chéo các chức năng gây tốn kém về
người và của. Người quản lý cần phân định rõ chức năng, trách nhiệm, cho
từng bộ phận, thậm chí từng cá nhân giúp cho hoạt động tiến hành trôi chảy.
1.2.5.2. Nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Do đặc thù của ngành xây lắp, việc tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá
thành sản phẩm là mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi
kế toán cần thực hiện một số nhiệm vụ sau:


18
Xác định đúng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và phương pháp
tính giá thành sản phẩm thích hợp.Tổ chức vận dụng các tài khoản kế toán để
hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phù hợp với phương
pháp kế toán hàng tồn kho (kê khai thường xuyên hoặc kiểm kê định kỳ).
Tổ chức tập hợp, kết chuyển hoặc phân bổ từng loại chi phí sản xuất theo
đúng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất đã xác định và bằng phương
pháp thích hợp đã chọn, xác định đúng đắn trị giá sản phẩm dở dang cuối kỳ.
Xác định đúng đắn và bàn giao thanh toán kịp thời khối lượng công tác
xây lắp hoàn thành; thực hiện kiểm kê, đánh giá khối lượng xây lắp dở dang
cuối kỳ theo đúng nguyên tắc và chế độ kế toán.
Vận dụng phương pháp tính giá thành thích hợp để tính toán giá thành
và giá thành đơn vị của các đối tượng tính giá thành theo đúng khoản mục
quy định và đúng kỳ tính giá thành sản phẩm đã xác định.
Ghi nhận và phản ánh doanh thu tiêu thụ xây lắp phù hợp các nguyên tắc
và chuẩn mực kế toán.
Tính toán, phân bổ hợp lý, đúng đắn các chi phí bán hàng, chi phí quản
lý doanh nghiệp theo từng kỳ kế toán, xác định chính xác kết quả hoạt động
kinh doanh trong kỳ.
Định kỳ cung cấp các báo cáo về chi phí sản xuất và giá thành cho các
cấp quản lý doanh nghiệp, tiến hành phân tích tình hình thực hiện các định
mức và dự toán chi phí, phân tích tình hình thực hiện giá thành và kế hoạch hạ
giá thành sản phẩm. Phát hiện các hạn chế và khả năng tiềm tàng, đề xuất các
biện pháp để giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm.
1.3. Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp theo
chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành
1.3.1. Quy định của Chuẩn mực kế toán Việt Nam ảnh hưởng đến kế
toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp
Để việc tập hợp chi phí sản xuất và tính chính xác giá thành sản phẩm
trong các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp xây lắp nói riêng thì


19
đều phải tuân thủ và thực hiện theo đúng như quy định trong Chuẩn mực kế
toán Việt Nam hiện hành, cụ thể như sau:
a, Chuẩn mực VAS 01 “Chuẩn mực chung”
Nguyên tắc giá gốc: Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc
của tài sản được tính theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả
hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi
nhận. Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi có quy định khác trong
chuẩn mực kế toán cụ thể. Do vậy, mọi chi phí xây lắp phát sinh mà doanh
nghiệp có được tài sản là toàn bộ số tiền hoặc khoản tương đương tiền mà đơn
vị đã trả khi phát sinh các khoản chi phí xây lắp đó.
Nguyên tắc phù hợp: Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp
với nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi
phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng
với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước
hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó. Do vậy, các
doanh nghiệp xây lắp cần tiến hành tính toán chi phí sản xuất cho các giai đoạn
thi công dở dang cuối kỳ để xác định doanh thu và chi phí phù hợp với nhau.
Nguyên tắc thận trọng: Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán
cần thiết để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn.
Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả
năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí xây lắp phải được ghi nhận khi có
bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí.
b, Chuẩn mực VAS 15 “Hợp đồng xây dựng”
Chi phí của hợp đồng xây dựng bao gồm
Chi phí liên quan trực tiếp đến từng hợp đồng bao gồm: Chi phí nhân
công tại công trường, bao gồm cả chi phí giám sát công trình; Chi phí nguyên
liệu, vật liệu, bao gồm cả thiết bị cho công trình; Khấu hao máy móc, thiết bị
và các TSCĐ khác sử dụng để thực hiện hợp đồng; Chi phí vận chuyển, lắp
đặt, tháo dỡ máy móc, thiết bị và nguyên liệu, vật liệu đến và đi khỏi công


20
trình; Chi phí thuê nhà xưởng, máy móc, thiết bị để thực hiện hợp đồng; Chi
phí thiết kế và trợ giúp kỹ thuật liên quan trực tiếp đến hợp đồng; Chi phí dự
tính để sửa chữa và bảo hành công trình; Các chi phí liên quan trực tiếp khác.
Chi phí liên quan trực tiếp của từng hợp đồng sẽ được giảm khi có các khoản
thu nhập khác không bao gồm trong doanh thu của hợp đồng.
Chi phí chung liên quan đến hoạt động của các hợp đồng xây dựng và
có thể phân bổ cho từng hợp đồng, bao gồm: Chi phí bảo hiểm; Chi phí thiết
kế và trợ giúp kỹ thuật không liên quan trực tiếp đến một hợp đồng cụ thể;
Chi phí quản lý chung trong xây dựng. Các chi phí trên được phân bổ theo các
phương pháp thích hợp một cách có hệ thống theo tỷ lệ hợp lý và được áp
dụng thống nhất cho tất cả các chi phí có các đặc điểm tương tự. Việc phân bổ
cần dựa trên mức thông thường của hoạt động xây dựng. (Chi phí chung liên
quan đến hoạt động của các hợp đồng và có thể phân bổ cho từng hợp đồng
cũng bao gồm chi phí đi vay nếu thỏa mãn các điều kiện chi phí đi vay được
vốn hóa theo quy định trong Chuẩn mực "Chi phí đi vay").
Các chi phí khác có thể thu lại từ khách hàng theo các điều khoản của
hợp đồng như chi phí giải phóng mặt bằng, chi phí triển khai mà khách hàng
phải trả lại cho nhà thầu đã được quy định trong hợp đồng.
Chi phí không liên quan đến hoạt động của hợp đồng hoặc không thể
phân bổ cho hợp đồng xây dựng thì không được tính trong chi phí của hợp
đồng xây dựng. Các chi phí này bao gồm: Chi phí quản lý hành chính chung,
hoặc chi phí nghiên cứu, triển khai mà hợp đồng không quy định khách hàng
phải trả cho nhà thầu. Chi phí bán hàng; Khấu hao máy móc, thiết bị và TSCĐ
khác không sử dụng cho hợp đồng xây dựng.
Chi phí của hợp đồng bao gồm chi phí liên quan đến hợp đồng trong
suốt giai đoạn kể từ khi ký hợp đồng cho đến khi kết thúc hợp đồng. Các chi
phí liên quan trực tiếp đến hợp đồng phát sinh trong quá trình đàm phán hợp
đồng cũng được coi là một phần chi phí của hợp đồng nếu chúng có thể xác


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×