Tải bản đầy đủ

Các giải pháp phát triển ngành nghề phi nông nghiệp tại huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội

i
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn “Các giải pháp phát triển ngành nghề phi
nông nghiệp tại huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu
độc lập, các tài liệu tham khảo, số liệu thống kê phục vụ mục đích nghiên cứu trong
công trình này được sử dụng đúng quy định, không vi phạm quy chế bảo mật của
nhà nước. Tác giả xin cam đoan những vấn đề nêu trên là đúng sự thật. Nếu sai, tác
giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Thường Tín, ngày……. tháng…….năm 2016
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Vân Anh

LỜI CẢM ƠN


ii

Để hoàn thành tốt bài luận văn nghiên cứu với đề tài: “Các giải pháp phát
triển ngành nghề phi nông nghiệp tại huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội”,
cùng với sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến

cô giáo PGS.TS. An Thị Thanh Nhàn đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn
thành đề tài luận văn tốt nghiệp.
Đồng thời tác giả cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo khoa Sau đại học, các thầy
cô giáo phụ trách giảng dạy chuyên ngành Quản lý kinh tế - Trường Đại học
Thương Mại, các đồng chí lãnh đạo và cán bộ của phòng kinh tế huyện Thường Tín,
đã tận tình giúp đỡ, đóng góp ý kiến quý báu và tạo điều kiện thuận lợi để tác giả
hoàn thành đề tài luận văn này.
Mặc dù đã nỗ lực hết mình trong học tập và nghiên cứu nhưng luận văn không
thể tránh khỏi những thiếu sót và khuyết điểm. Tác giả rất mong nhận được những
góp ý từ các nhà khoa học để tiếp tục bổ sung và hoàn thiện đề tài hơn nữa./.
Thường Tín, ngày……. tháng…….năm 2016
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Vân Anh


iii
MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
BẢNG
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ bộ máy quản lý nhà nước về phát triển các ngành nghề phi
nông nghiệp trên địa bàn huyện...........................................................................23
Bảng 2.1. Cơ cấu kinh tế huyện Thường Tín giai đoạn 2011 - 2015...................38
Bảng 2.2. GDP, giá trị gia tăng và tốc độ tăng trưởn kinh tế huyện Thường Tín
giai đoạn 2011 - 2015.............................................................................................40
Bảng 2.3. Tốc độ tăng trưởng trung bình các ngành huyện Thường Tín giai
đoạn 2011 - 2015....................................................................................................40
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu kinh tế huyện Thường Tín giai đoạn 2011-2015................41
Bảng 2.4. Cơ cấu làng nghề huyện Thường Tín năm 2015.................................43
Bảng 2.5. Cơ cấu làng nghề theo doanh thu giai đoạn 2011- 2015.....................45
Bảng 2.6. Số lượng lao động tại các làng nghề được đào tạo..............................45
giai đoạn 2011 - 2015.............................................................................................45
Bảng 2.8. Dịch vụ xăng dầu, kinh doanh bán lẻ gas năm 2015..........................47
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ bộ máy quản lý các ngành nghề phi nông nghiệp trên địa bàn
huyện Thường Tín.................................................................................................48
Bảng 2.9. Các dự án, công trình giao thông được triển khai..............................56
giai đoạn 2011- 2015..............................................................................................56
Bảng 2.10. Phân bổ chi phí đầu tư cho các công trình giao thông năm 2015....58
Bảng 2.11. Thực trạng đầu tư xây dựng hệ thống giao thông trên địa bàn huyện


Thường Tín giai đoạn 2011 - 2015........................................................................58
Bảng 2.12. Thực trạng phát triển hạ tầng cống ngầm thoát nước giai đoạn.....59
2011 – 2015.............................................................................................................59
(ĐVT: km)..............................................................................................................59
Sơ đồ 3.1. Sự phối hợp giữa các phòng ban.........................................................81


iv
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu kinh tế huyện Thường Tín giai đoạn 2011-2015...........Error:
Reference source not found
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ bộ máy quản lý nhà nước về phát triển các ngành nghề phi
nông nghiệp trên địa bàn huyện.........................Error: Reference source not found
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ bộ máy quản lý các ngành nghề phi nông nghiệp trên địa bàn
huyện Thường Tín............................................... Error: Reference source not found
Sơ đồ 3.1. Sự phối hợp giữa các phòng ban.......Error: Reference source not found


v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt
CCN
CNH – HĐH
GTSX
HĐND
KCN
NSNN
NSTW
NTM
QLNN

Từ viết tắt
Cụm công nghiệp
Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
Giá trị sản xuất
Hội đồng nhân dân
Khu công nghiệp
Ngân sách nhà nước
Ngân sách Trung Ương
Nông thôn mới
Quản lý nhà nước

TW
UBND

Trung ương
Ủy ban nhân dân


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam thực hiện trong hai thập kỷ vừa qua
đặc trưng bởi những chính sách cải cách kinh tế, mở cửa nền kinh tế và chuyển sự
vận hành các quan hệ kinh tế theo hướng thị trường. Tăng trưởng kinh tế và sự ổn
định của môi trường kinh tế vĩ mô đã khẳng định tính đúng đắn của chính sách đổi
mới. Cơ cấu kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng công nghiệp hóa; xu
hướng này thể hiện đặc biệt rõ hơn trong 10 năm trở lại đây. Ở khu vực nông thôn,
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng diễn ra mạnh mẽ. Tỷ trọng các ngành
nghề phi nông nghiệp đã tăng lên rõ rệt, đóng góp nhiều vào cải thiện và đa dạng
hóa thu nhập của người dân.
Kinh tế phi nông nghiệp ngày càng thích ứng với cơ chế thị trường và ngày
càng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động, giải quyết việc làm ở
nông thôn. Xuất hiện nhiều đơn vị sản xuất theo phương thức kinh doanh gia đình,
trong các lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ...
Kinh tế phi nông nghiệp là một lực lượng quan trọng ở nông thôn Việt Nam.
Khu vực này thường sản xuất, kinh doanh đa dạng, kết hợp công nghiệp, dịch vụ
thương mại với nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh ngành nghề phụ.
Sớm nhận thức rõ vai trò của kinh tế phi nông nghiệp, kinh tế nông thôn và lao
động nông thôn trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước
ta đã có những chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế nông thôn, tạo điều kiện
cho kinh tế phi nông nghiệp phát triển.
Từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khóa VI (1988), hộ nông dân
đã thực sự được trao quyền tự chủ trong sản xuất, và do đó đã khơi dậy nhiều nguồn
lực và tiềm năng để kinh tế hộ gia đình phát triển. Tiếp sau đó nhiều chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước được ban hành, cùng với sự chỉ đạo sát sao của
các ban ngành từ Trung ương đến địa phương nhờ vậy kinh tế phi nông nghiệp liên
tục được nới lỏng, tạo động lực, được hỗ trợ phát triển mạnh.


2
Tuy vậy do nhận thức của lãnh đạo và nhân dân chưa đồng đều, công tác chỉ
đạo, phối hợp thực hiện các chính sách kinh tế phi nông nghiệp chưa thực sự hiệu
quả, đầu tư còn phân tán, dàn trải nên kết quả đạt được còn hạn chế, chưa đáp ứng
được so với các yêu cầu đặt ra. Đồng thời quá trình tổ chức thực hiện chính sách
còn nhiều khó khăn, hạn chế và vướng mắc cần sớm được giải quyết.
Thường Tín là một huyện ven đô của thành phố Hà Nội, nổi tiếng với những
làng nghề truyền thống. Kinh tế phi nông nghiệp của huyện bao gồm tiểu thủ công
nghiệp và dịch vụ. Trong những năm gần đây thực hiện chủ trương chung của Đảng,
Nhà nước về xây dựng nông thôn mới, Đảng bộ và nhân dân Thường Tín luôn tích
cực trong triển khai, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế
địa phương trong đó ưu tiên phát triển kinh tế phi nông nghiệp. Huyện đã tiến hành
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỉ lệ nông nghiệp, tăng tỉ trọng công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và thương mại - dịch vụ, trong đó đặc biệt là
khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống để các hộ gia đình phát triển
kinh tế một cách hiệu quả và bền vững.
Tuy nhiên, thực tế quá trình thực hiện cho thấy hầu hết các xã đều chưa quan
tâm đúng mức đến việc triển khai các chính sách phát triển kinh tế phi nông nghiệp.
Các chính sách được áp dụng mang lại hiệu quả chưa cao, thu nhập và đời sống
nhân dân nhiều địa phương trên địa bàn huyện vẫn chưa được cải thiện. Quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế tuy đã đúng hướng nhưng diễn ra còn chậm, phát triển
thiếu quy hoạch, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vẫn còn manh mún,
hiệu quả thấp; việc khôi phục và phát triển lại các làng nghề truyền thống gặp nhiều
khó khăn, các hoạt động dịch vụ hỗ trợ sản xuất còn hạn chế; vấn đề giải quyết việc
làm cho người lao động gặp khó khăn. Điều này dẫn đến kinh tế ở một số xã phát
triển chưa vững chắc, không có chiều sâu, chất lượng và hiệu quả chưa cao, quan hệ
hợp tác trong sản xuất kinh doanh còn hạn chế... Từ đó, đặt ra yêu cầu cần phải làm
gì và làm như thế nào để áp dụng và thực hiện có hiệu quả các chính sách phát triển
kinh tế của địa phương? Đó là lý do cao học viên chọn vấn đề “Các giải pháp phát
triển ngành nghề phi nông nghiệp tại huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội”
làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.


3
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Phát triển nông nghiệp, nông thôn trong đó chú trọng phát triển các ngành
nghề kinh tế phi nông nghiệp là một trong những trọng tâm trong chiến lược phát
triển kinh tế- xã hội của nước ta, được Đảng và Nhà nước hết sức coi trọng. Đây
cũng là vấn đề được các nhà lý luận, các nhà kinh tế học, các nhà làm chính chính
và các tổ chức quan tâm nghiên cứu. Cho đến nay đã có nhiều Nghị quyết của Đảng
và Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn và nông dân; nhiều công trình nghiên cứu
giá trị của các nhà khoa học về phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp.
Ngoài những văn kiện của Đảng và Nhà nước, liên quan tới phát triển kinh tế
phi nông nghiệp ở các hộ gia đình còn có rất nhiều công trình nghiên cứu có giá trị,
tiêu biểu như:
- Nguyễn Thị Lan Hương (2008) “Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm phát
triển các làng nghề Hà Tây trong giai đoạn hiện nay” Luận văn Thạc sĩ kinh tế,
Trường Đại học Thương mại. Tác giả đã hệ thống hóa những nhận thức cơ bàn về
phát triển làng nghề và quản lý nhà nước với các làng nghề nói chung và ở Hà Tây
nói riêng. Tác giả cũng đưa ra các đánh giá thực trạng, phân tích những nhân tố ảnh
hưởng đến quản lý nhà nước đối với phát triển các làng nghề.
- Trần Văn Hải (2013), “Chính sách phát triển làng nghề của thành phố Hải
Phòng”, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Tác giả Trần
Văn Hải đã hệ thống hóa một cách chi tiết các chính sách trực tiếp hoặc gián tiếp
tác động đến sự phát triển của các làng nghề trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
Phân tích thực trạng sự phát triển các làng nghề trên địa bàn, tìm ra các thành công
và hạn chế, đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm giúp các làng nghề trên địa bàn
thành phố Hải Phòng phát triển đúng hướng và hiệu quả.
- Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam (2004) “Nghiên cứu luận cứ
khoa học để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH”, Đề
tài Khoa học cấp Nhà nước. Trong đề tài này, những vấn đề về cơ sở khoa học cho
việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH-HĐH ở Việt Nam
được nghiên cứu chi tiết, hệ thống. Trong đó, những vấn đề về lý luận, cơ cấu kinh


4
tế nông nghiệp theo ngành, cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo lãnh thổ và cơ cấu theo
thành phần được làm rõ hơn về bản chất, đặc trưng và các nhân tố tác động đến quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Đặc biệt, những vấn đề thực tiễn của
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam sau hơn 15 năm đổi
mới được các tác giả nghiên cứu trên tất cả các vùng sinh thái nông nghiệp.
- Trần Văn Nam (2011) “Giải pháp phát triển khu vực phi nông nghiệp ở tỉnh
Hà Nam trong giai đoạn 2003-2010”, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Trường Đại học
Kinh tế Quốc dân. Tác giả Trần Văn Nam đã có những cái nhìn cụ thể về khu vực
kinh tế phi nông nghiệp dựa theo việc phân chia các ngành nghề kinh tế theo khu
vực Công nghiệp nông thôn và Thương mại- dịch vụ nông thôn. Bên cạnh đó tác giả
đã đề xuất các giải pháp cho từng khu vực.
- Bùi Quang Cường (2010), “Những giải pháp chủ yếu phát triển tiểu thủ
công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh”, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Trường
Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Để đi sâu phân tích những hạn chế trong công tác
phát triển tiểu thủ công nghiệp, tác giả đã đưa ra hệ thống lý luận rất khoa học, phân
tích chi tiết các tác động đến hoạt động phát triển tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn
thành phố Hà Tĩnh.
- Vương Thị Ngọc (2011) “Phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn
huyện Gia Bình- Tỉnh Bắc Ninh”, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Học viện nông nghiệp
Hà Nội. Tác giả đi sâu nghiên cứu thực trạng phát triển của các làng nghề truyền
thống trên địa bàn huyện Gia Bình- Tỉnh Bắc Ninh. Đề xuất những giải pháp cụ thể
trong phát triển làng nghề truyền thống, tuy nhiên tác giả chưa đưa ra các giải pháp
mang tính chất lâu dài như: thị trường, vấn đề môi trường…
Ngoài những công trình nghiên cứu đã nêu ở trên, còn nhiều công trình nghiên
cứu của các tác giả với nhiều cách tiếp cận khác nhau đã cung cấp những luận cứ,
luận chứng, những dữ liệu rất quan trọng cho phát triển các ngành nghề kinh tế phi
nông nghiệp ở nông thôn nước ta. Qua đó khẳng định việc phát triển các ngành
nghề kinh tế phi nông nghiệp là việc làm cần phải có sự quan tâm của các cấp, các
ngành nhiều hơn nữa nhằm đưa kinh tế nông thôn phát triển bền vững, đem lại hiệu


5
quả cao. Tuy nhiên các công trình này đều không đi sâu vào nghiên cứu vấn đề phát
triển ngành nghề kinh tế phi nông nghiệp, các công trình mang tính khái quát, phạm
vi nghiên cứu rộng. Việc nghiên cứu mới dừng lại ở tầm vĩ mô khó có thể áp dụng
đối với những địa phương có điều kiện kinh tế- chính trị- xã hội đặc thù như huyện
Thường Tín, thành phố Hà Nội. Những kết quả nghiên cứu đã nêu cũng là cơ sở lý
luận và thực tiễn quan trọng mà tác giả tham khảo trong quá trình hoàn thành luận
văn này và trong những công trình nghiên cứu của mình về sau.
3. Mục đích nghiên cứu
3.1. Mục tiêu
Từ nhận thức về các ngành nghề kinh tế phi nông nghiệp, cùng với việc
nghiên cứu các chính sách phát triển ngành nghề kinh tế phi nông nghiệp theo chủ
trương, chính sách của Nhà nước từ năm 2011-2015 tại huyện Thường Tín; luận văn
đề xuất một số giải pháp và kiến nghị góp phần phát triển các ngành nghề kinh tế
phi nông nghiệp ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội giai đoạn từ nay đến năm
2020.
3.2. Nhiệm vụ
- Tập hợp một số vấn đề lý luận cơ bản và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển
các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn; các chính sách phát triển ngành nghề
phi nông nghiệp ở nông thôn Việt Nam hiện nay.
- Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp ở
huyện Thường Tín, vấn đề quản lý nhà nước về phát triển ngành nghề phi nông
nghiệp ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.
- Đề xuất các giải pháp phát triển ngành nghề phi nông nghiệp ở huyện
Thường Tín, thành phố Hà Nội từ góc độ quản lý nhà nước.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tập trung nghiên cứu các biện pháp phát
triển các ngành nghề phi nông nghiệp từ góc độ quản lý nhà nước trên địa bàn
huyện Thường Tín.


6
Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng phát triển các ngành nghề phi
nông nghiệp ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Trong đó, chủ thể quản lý là
UBND huyện, khách thể là các tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia đình tham gia vào các
ngành nghề phi nông nghiệp ở huyện Thường Tín.
Nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển ngành nghề phi nông nghiệp ở
huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.
Nghiên cứu đánh giá thực trạng chính sách phát triển ngành nghề phi nông
nghiệp ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội giai đoạn từ năm 2011 - 2015; mục
tiêu, phương hướng và đề xuất giải pháp giai đoạn từ nay đến 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp chủ yếu được thu thập từ các nguồn sau: Các báo cáo về tình
hình sản xuất kinh doanh của các tổ chức, doanh nghiệp, các hộ sản xuất và làng
nghề… trên địa bàn huyện Thường Tín; Niên giám thống kê thành phố Hà Nội; Các
đề tài, báo cáo khoa học liên quan; Các bài báo, tạp chí đánh giá của các chuyên
gia; Các văn bản quy định, nghị định của các cơ quan nhà nước về phát triển các
ngành nghề phi nông nghiệp.
5.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Để hoàn thành tốt bài luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Các giải pháp phát triển
ngành nghề phi nông nghiệp tại huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội” đề tài đã
tiến hành điều tra phỏng vấn nhằm tìm hiểu về thực trạng triển khai các chính sách
phát triển ngành nghề phi nông nghiệp ở huyện Thường Tín. Đề tài phát ra 90 phiếu
điều tra và phỏng vấn hướng tới các đối tượng là nhà quản lý, doanh nghiệp, các hộ
sản xuất trên địa bàn huyện Thường Tín.
5.3. Phương pháp phân tích dữ liệu
Phương pháp thống kê: Qua các số liệu thu thập được từ các nguồn kể trên, tác
giả tiến hành lựa chọn và thống kê theo các tiêu chí đánh giá nhằm phục vụ quá
trình nghiên cứu đề tài.


7
Phương pháp so sánh: Thông qua số liệu đã thống kê về thực trạng phát triển
các ngành nghề phi nông nghiệp trên địa bàn huyện Thường Tín, tác giả tiến hành
so sánh các chỉ tiêu theo thông số tuyệt đối và thông số tương đối.
Phương pháp tổng hợp: Mỗi một vấn đề sẽ được phân tích theo nhiều khía
cạnh, phân tích từng chiều, từng cá thể và cuối cùng tổng hợp các mối quan hệ của
chúng lại với nhau.
Phương pháp mô tả: Tình hình sản xuất kinh doanh của các ngành nghề phi
nông nghiệp và thực thi chính sách phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp trên
địa bàn huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội sẽ được mô tả cụ thể qua đồ thị và
biểu đồ để thấy được xu hướng cũng như biến động theo thời gian, từ đó rút ra được
các kết luận trong quá trình nghiên cứu.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3
chương:
Chương 1: Một số tiền đề lý luận cơ bản về phát triển ngành nghề phi nông
nghiệp từ góc độ quản lý nhà nước trên địa bàn huyện.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về phát triển các ngành nghề phi
nông nghiệp trên địa bàn huyện Thường Tín.
Chương 3: Một số giải pháp quản lý nhà nước về phát triển các ngành nghề
phi nông nghiệp trên địa bàn huyện Thường Tín.


8
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH NGHỀ PHI NÔNG NGHỆP TỪ GÓC ĐỘ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
1.1. Kinh tế phi nông nghiệp, các ngành nghề phi nông nghiệp và tầm
quan trọng của các ngành nghề phi nông nghiệp trong phát triển kinh tế nông
thôn
1.1.1. Kinh tế phi nông nghiệp
1.1.1.1. Phân định khái niệm kinh tế nông nghiệp và kinh tế phi nông nghiệp
a) Khái niệm kinh tế nông nghiệp và kinh tế phi nông nghiệp
Theo Bách khoa toàn thư thì: “Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản
của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật
nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và
một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao
gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng,
còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản”[1].
Đặc điểm của kinh tế nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào
tự nhiên. Những điều kiện tự nhiên như đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, bức xạ
mặt trời... trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi. Nông
nghiệp cũng là ngành sản xuất có năng suất lao động rất thấp, vì đây là ngành sản
xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên; là ngành sản xuất mà việc ứng dụng tiến bộ
khoa học - công nghệ gặp rất nhiều khó khăn. Ngoài ra sản xuất nông nghiệp ở
nước ta thường gắn liền với những phương pháp canh tác, lề thói, tập quán... đã có
từ hàng nghìn năm nay và gắn chặt với khu vực nông thôn hay kinh tế nông thôn .
Ở Việt Nam, cùng với quá trình phát triển kinh tế đất nước sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ở khu vực nông thôn đã làm nảy sinh yêu cầu phát triển khu vực kinh tế
phi nông nghiệp, chính vì thế khái niệm kinh tế phi nông nghiệp ra đời.


9
Thực tế hiện đang tồn tại nhiều khái niệm, cách hiểu khác nhau về hoạt động
kinh tế phi nông nghiệp tại khu vực nông thôn, đây là một vấn đề phức tạp. Tuy
nhiên, hầu hết các khái niệm đều cho rằng, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp là
một bộ phận của kinh tế nông thôn, tồn tại song song với các hoạt động nông
nghiệp thuần túy.
Theo Lanjouw (2003) hoạt động phi nông nghiệp trong nông thôn là những
hoạt động tạo thêm thu nhập trong khu vực nông thôn không thuộc hoạt động nông
nghiệp.
Theo Steve Winggins (2003) thì cho rằng hoạt động kinh tế phi nông nghiệp là
những hoạt động không thuộc các dạng hoạt động nông nghiệp có tính chất nguyên
thủy như trồng chọt, chăn nuôi, đánh bắt, săn bắn... Nói cách khác, hoạt động kinh
tế phi nông nghiệp trong nông thôn là các hoạt động tạo ra thu nhập không thuộc
vào dạng hoạt động nông nghiệp nguyên thủy.
Một cách giản đơn hơn, tác giả Dasgupta.N và cộng sự năm 2004 đưa ra quan
niệm cho rằng hoạt động kinh tế phi nông nghiệp là bất kỳ hoạt động nào nằm ngoài
khu vực nông nghiệp truyền thống, tiêu chuẩn quan trọng nhất để phân biệt hoạt
động nông nghiệp và phi nông nghiệp là ở giá trị gia tăng. Một ví dụ mà tác giả này
đưa ra là nếu hoạt động sàng sảy hạt lúa mì trước khi đem bán mà mang lại một giá
bán cao hơn so với hạt mì không sàng sảy thì hoạt động sàng sảy đó là hoạt động
phi nông nghiệp.
Như vậy, có thể thấy khái niệm hoạt động kinh tế phi nông nghiệp là khá rộng,
bao gồm toàn bộ các hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ
tại các cơ sở kinh tế và hộ gia đình ở nông thôn. Hay nói cách khác, hoạt động kinh
tế phi nông nghiệp là toàn bộ các hoạt động không liên quan trực tiếp đến sản xuất
cây trồng và vật nuôi. Nó bao gồm cả các hoạt động chế biến nông sản tại nhà cũng
như hoạt động làm thuê. Sự phân loại này không đề cập đến địa điểm hoạt động đó
diễn ra, quy mô của hoạt động, công nghệ được sử dụng cũng như thành phần tham
gia chỉ là hộ nông nghiệp hay hộ gia đình có hoạt động phi nông nghiệp. Thực tế,
trong một số trường hợp sự phân chia các hoạt động nông nghiệp và phi nông
nghiệp không được rõ ràng và thống nhất. Các hoạt động được làm tại nhà với các


10
đầu vào là các loại cây trồng, vật nuôi và được làm ở quy mô nhỏ sử dụng lao động
nông nhàn là chính đôi khi được xem là hoạt động phi nông nghiệp.
Theo Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg của Chính phủ Việt Nam ban hành
ngày 24/11/2000 về Phát triển hoạt động phi nông nghiệp ở các vùng nông thôn có
xác định rằng: “Các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn được coi là tất cả các
hoạt động công nghiệp, các ngành thủ công nghiệp nhỏ và vừa, các dịch vụ sản
xuất và đời sống được thực hiện ở khu vực nông thôn, sử dụng các nguồn lực tại
địa phương (lao động, đất đai, nguyên vật liệu) và có liên hệ mật thiết với việc phát
triển đời sống nông thôn”.
Trong phân định hoạt động phi nông nghiệp, các nhà kinh tế phân hoạt động
phi nông nghiệp thành hoạt động phi nông nghiệp do áp lực thu nhập và hoạt động
phi nông nghiệp do áp lực nhu cầu thị trường theo đó:
- Hoạt động phi nông nghiệp do áp lực thu nhập được xuất phát là do thiếu hụt
thu nhập và người nông dân cố gắng tranh thủ thời gian nhàn rỗi để sản xuất các vật
phẩm phi nông nghiệp mà không biết thị trường có chấp nhận hay không.
- Hoạt động phi nông nghiệp do nhu cầu thị trường là hoạt động bắt đầu từ các
tín hiệu thị trường, người nông dân bắt đầu chú ý tới việc sản xuất những sản phẩm
mà thị trường cần hoặc thiếu. Hoạt động này thể hiện trình độ kinh doanh cao hơn
hoạt động phi nông nghiệp do áp lực của thu nhập.
Khái niệm trên đây tuy đã xác định rõ bản chất của các hoạt động kinh tế phi
nông nghiệp, nhưng trên thực tế khi xác định một đối tượng thuộc hoạt động nông
nghiệp hoặc phi nông nghiệp cũng có nhiều khó khăn. Nhiều lao động tham gia
đồng thời vào nhiều hoạt động khác nhau, vừa làm nông nghiệp và làm tiểu thủ
công nghiệp, vừa làm nông nghiệp vừa đi làm thuê, buôn bán, hoặc trong thời gian
này làm nông nghiệp, nhưng thời gian khác lại đi buôn bán hoặc làm thuê…
b) Quan hệ giữa kinh tế phi nông nghiệp và nông nghiệp
Có thể nói, ranh giới giữa hoạt động kinh tế phi nông nghiệp và hoạt động
kinh tế nông nghiệp là tương đối khó xác định. Để làm rõ mức độ phát triển của
hoạt động phi nông nghiệp trong nông thôn, các nhà kinh tế khi phân tích hoạt động
phi nông nghiệp thường có những các phân tổ theo kiểu kết hợp lao động phi nông
nghiệp kiêm nông nghiệp, lao động phi nông nghiệp tự làm với lao động làm thuê,


11
lao động vừa làm nông nghiệp vừa làm thuê, và vừa tự làm phi nông nghiệp hoặc
tương tự như vậy. Hoạt động kinh tế phi nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng
trong đời sống của các hộ gia đình cũng như đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
của các địa phương và quốc gia, nhưng để “lượng hóa” được vai trò của hoạt động
kinh tế phi nông nghiệp, mô tả và phân tích các khía cạnh khác nhau của hoạt động
này, phát hiện ra các xu hướng biến đổi nó là một vấn đề nghiên cứu không hề đơn
giản và cho tới nay còn chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống.
Hoạt động kinh tế phi nông nghiệp ở nông thôn là một bộ phận hợp thành của
kinh tế nông thôn, gắn liền với nông nghiệp. Mối liên kết giữa hai khu vực nông
nghiêp và phi nông nghiệp ở khu vực nông thôn được thể hiện qua các mối quan hệ
sau:
- Mối quan hệ trong sản xuất. Đây là mối quan hệ phụ thuộc trong quá trình
sản xuất.
Hoạt động phi nông nghiệp thường sử dụng đầu vào là các sản phẩm nông
nghiệp (ví dụ như sử dụng các sản phẩm của trồng trọt, chăn nuôi để làm đầu vào
cho các hoạt động chế biến, chế xuất…). Ngược lại, các hoạt động sản xuất trong
nông nghiệp lại sử dụng các sản phẩm từ hoạt động phi nông nghiệp làm đầu vào
của mình như: các vật dụng cày, cuốc, bao bì, thuốc bảo vệ thực vật…
- Mối quan hệ trong tiêu dùng. Thị trường nông thôn sẽ là nơi trao đổi rất
nhiều sản phẩm trong cả hoạt động nông nghiệp lẫn hoạt động phi nông nghiệp.
Điều này được thể hiện vào việc các đơn vị đang hoạt động trong lĩnh vực phi nông
nghiệp sẽ thu mua các sản phẩm trong sản xuất nông nghiệp để sản xuất hoặc tiêu
dùng như nông sản, thực phẩm…Ngược lại, người nông dân sẽ mua các sản phẩm
từ hoạt động phi nông nghiệp như: đồ nội thất, đồ gia dụng…
- Mối quan hệ về sử dụng vốn và lao động.
Tại khu vực nông thôn việc vừa tham gia vào hoạt động nông nghiệp, đồng
thời tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp (Ví dụ: Một gia đình tham gia sản xuất
nông nghiệp thông qua hoạt động trồng trọt, đồng thời gia đình này đầu tư xây dựng
xưởng chế biến nông sản sạch và sử dụng đầu vào chủ yếu là nông sản của gia đình,
sau khi kinh doanh có lãi, gia đình tiếp tục đầu tư vào sản xuất nông nghiệp để tạo
ra nhiều nguyên liệu cho xưởng chế biến của gia đình). Điều này cho thấy việc tích


12
lũy vốn trong hoạt động sản xuất nông nghiệp có thể được đầu tư vào các hoạt động
phi nông nghiệp và ngược lại. Đối với lao động tại nông thôn thường bị ảnh hưởng
bởi tính mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp nên vào ngày mùa họ sẽ tập trung vào
sản xuất nông nghiệp và lúc nông nhàn thì họ sẽ tham gia vào các hoạt động sản
xuất phi nông nghiệp.
- Mối quan hệ về đầu tư. Tại nông thôn việc đầu tư hoàn toàn vào sản xuất
nông nghiệp sẽ gặp rất nhiều rủi ro do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp là phụ
thuộc vào khí hậu, thời tiết và có tính mùa vụ tập trung nên việc phát triển các hoạt
động phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn sẽ giúp người nông dân chia sẻ nguồn
lực và phân công lao động rõ ràng hơn.
1.1.1.2. Đặc điểm của kinh tế phi nông nghiệp
Khu vực kinh tế phi nông nghiệp gắn bó chặt chẽ với địa bàn nông thôn. Do
đó, việc phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp phải mang tính toàn diện là tiền
đề cho các hoạt động nông nghiệp phát triển.
- Các ngành nghề kinh tế phi nông nghiệp phát triển rất đa dạng và phong phú
về hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh bao gồm công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, thương mại và dịch vụ nông thôn
- Các ngành nghề phi nông nghiệp thường hoạt động đan xen lẫn nhau, bổ trợ
cho nhau và cùng nhau phát triển. Hoạt động tiểu thủ công nghiệp trong các ngành
sản xuất nông nghiệp và trong ngành dịch vụ như: sản xuất hàng kim khí, sản xuất
hàng tiêu dùng, dệt may, thêu đan... Trong dịch vụ nông nghiệp có dịch vụ cung ứng
vật tư để phục vụ nông nghiệp, dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp, dịch vụ cung ứng
vốn, dịch vụ chế biến, bảo quản và tiêu thụ nông nghiệp. Dịch vụ phi nông nghiệp
phải có thương mại, du lịch, xây dựng và sửa chữa nhà và các công trình khác, sửa
chữa cơ khí, điện... giao thông vận tải thông tin, dịch vụ tài chính, dịch vụ tư vấn
quản lý, y tế giáo dục, văn hoá.
- Các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong hoạt động kinh tế phi nông
nghiệp bao gồm hộ gia đình sản xuất hàng hoá, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân,
công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp Nhà nước…


13
- Trình độ khoa học công nghệ của khu vực kinh tế phi nông nghiệp không cao
do phát triển ở khu vực nông thôn nên có nhiều hạn chế về vốn và trình độ năng lực
quản lý.
- Quan hệ lao động trong các khu vực phi nông nghiệp có nét đặc thù của địa
phương, giữa các chủ doanh nghiệp và người lao động với nhau có quan hệ thân
thuộc, bà con, anh em, hoặc quan hệ giữa doanh nghiệp với chính quyền địa phương
cũng vậy, đây là điều kiện thuận lợi để xây dựng và củng cố mối quan hệ gắn bó,
bền vững tương đối.
- Các chủ doanh nghiệp, người quản lí và người lao động chủ yếu xuất phát từ
nông dân và nông thôn nên có nhiều hạn chế về nguồn vốn, trang thiết bị kỹ thuật
và công nghệ, trình độ tay nghề và năng lực quản lí kinh doanh có tốc độ tăng
trưởng không cao.
1.1.2. Các ngành nghề và hình thức tham dự trong khu vực kinh tế phi
nông nghiệp
1.1.2.1. Các ngành nghề trong kinh tế phi nông nghiệp
Trên thực tế, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp ở nông thôn thường bao gồm
hai nhóm loại hình sau:
a) Làng nghề
Làng nghề là một thiết chế kinh tế- xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai
yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định trong đó bao gồm
nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về
kinh tế, xã hội và văn hóa. Làng nghề truyền thống là làng nghề cổ truyền làm nghề
thủ công. Ở đây không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người
thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời làm nghề nông. Nhưng yêu cầu
chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống
ngay tại làng quê của mình.
Theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 quy định
nội dung và các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền
thống thì: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn,


14
phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt
động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác
nhau”.
Làng nghề không còn bó hẹp trong khuôn khổ công nghệ thủ công, tuy thủ
công vẫn là chính, mà một số công đoạn đã được cơ khí hóa hoặc bán cơ khí hóa.
Trong các làng nghề không chỉ có các cơ sở sản xuất hàng thủ công, mà đã có
những cơ sở dịch vụ và ngành nghề phục vụ cho sản xuất, như các doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ phân phối hàng hóa, cung ứng đầu vào và đầu ra cho sản phẩm
làng nghề.
Có hai cách phân loại làng nghề phổ biến:
(1) Phân loại theo số lượng làng nghề:
- Làng nghề một nghề là những làng ngoài nghề nông ra, chỉ có thêm một
nghề thủ công duy nhất;
- Làng nhiều nghề, là những làng ngoài nghề nông ra còn có thêm một số hoặc
nhiều nghề khác.
(2) Phân loại theo tính chất nghề:
- Làng nghề truyền thống là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử
và còn tồn tại đến ngày nay;
- Làng nghề mới là những làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan tỏa của các
làng nghề truyền thống hoặc du nhập từ các địa phương khác. Một số làng mới được
hình thành do chủ trương của một số địa phương cho người đi học nghề ở nơi khác
rồi về dạy cho dân địa phương nhằm tạo việc làm cho người dân địa phương mình.
Vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế nông thôn
- Sự phát triển của làng nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông
thôn;
- Phát triển các làng nghề có vai trò quan trọng trong giải quyết một lượng lớn
công ăn việc làm cho lao động nông thôn;
- Phát triển các làng nghề làm tăng thu nhập của người lao động góp phần
giảm thiểu chênh lệch giàu nghèo giữa khu vực thành thị và nông thôn;


15
- Các làng nghề đã tạo ra một khối lượng lớn hàng hóa đáp ứng nhu cầu trong
nước và xuất khẩu;
- Phát triển kinh tế làng nghề tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư, thu hút các
nghệ nhân, thợ giỏi tham gia lao động, làm giàu cho đất nước;
- Phát triển làng nghề góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho
người dân.
b) Nhóm hoạt động tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ phục vụ nông nghiệp
Ngoài hình thức làng nghề, kinh tế phi nông nghiệp còn bao gồm các hoạt
động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ… phục vụ nông nghiệp, bao gồm:
- Sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn: Chế biến, bảo quản nông, lâm,
thủy sản; Sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt
may, cơ khí nhỏ ở nông thôn; Xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất
ngành nghề ở nông thôn.
- Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ.
- Xây dựng, vận tải trong nội bộ xã, liên xã và các dịch vụ khác phục vụ sản
xuất và đời sống dân cư nông thôn, nông lâm thủy sản. Các hoạt động này có thể do
các hộ gia đình, cá nhân, các tổ, nhóm hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân,
công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh,… thực hiện.
1.1.2.2. Các hình thức tham dự trong khu vực kinh tế phi nông nghiệp
Xét theo khía cạnh sở hữu, tham gia vào khu vực kinh tế phi nông nghiệp bao
gồm các hình thức cơ bản sau:
- Hộ gia đình: Loại hình sản xuất kinh doanh qui mô nhỏ với lực lượng lao
động gia đình, dưới sự chỉ huy điều hành của chủ gia đình, tiến hành sản xuất, kinh
doanh tại địa phương thôn, xã là chủ yếu như hộ tiểu thương, hộ bán hàng cơm, hộ
bán giải khát, hộ may đo, hộ vận tải, hộ cày thuê và bơm nước thuê.
- Doanh nghiệp tư nhân: Là các doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh
trong lĩnh vực công nghiệp dịch vụ, cung ứng kỹ thuật công nghệ, các xưởng sữa
chữa máy móc, nông cụ, xưởng chế biến nông sản, hiệu ăn, hiệu giải khát, hiệu tạp
hoá của tư nhân hoạt động dịch vụ cho cả vùng nông thôn lớn và thường tập trung ở


16
các thị trấn. Các doanh nghiệp tư nhân này ngoài lao động gia đình còn thuê mướn
một số lượng nhân công lao động lành nghề. Quy mô của mỗi doanh nghiệp lớn hay
nhỏ phụ thuộc vào địa bàn sản xuất kinh doanh rộng hay hẹp, khối lượng dịch vụ
nhiều hay ít, tập trung hay rải rác.
- Doanh nghiệp nhà nước ở nông thôn: Bao gồm các doanh nghiệp cơ sở, các
công ty, các liên hợp thuộc sở hữu nhà nước, tổ chức và hoạt động theo quy định
của Nhà nước. Các doanh nghiệp này hoạt động theo sự chỉ đạo của Nhà nước
nhằm cung cấp kịp thời các dịch vụ cần thiết cho các đối tượng có nhu cầu với sự
đảm bảo về chất lượng và giá cả.
- Tổ hợp tác và hợp tác xã: Là hình thức liên kết sản xuất - kinh doanh của các
hộ gia đình và các hộ sản xuất với qui mô khác nhau. Tổ hợp tác là hình thức liên
kết dịch vụ của nhiều hộ hoạt đông theo nguyên tắc hiệp thương, hình thức này giúp
cho các xã viên có thể yên tâm sản xuất kinh doanh hay vay vốn mở rộng sản xuất.
- Công ty cổ phần, trách nhiệm hữu hạn: bao gồm các công ty trách nhiệm
hữu hạn và công ty cổ phần hoạt động với tư cách pháp nhân có đầy đủ trách nhiệm
pháp lý thực hiện việc trao đổi mua bán các sản phẩm hàng hoá trên thị trường.
1.1.3. Tầm quan trọng của việc phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp
trên địa bàn nông thôn
Ngành nghề phi nông nghiệp bao gồm các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp
trên địa bàn nông thôn. Hiện nay khu vực kinh tế nông thôn chiếm tới 80% toàn nền
kinh tế. Điều này cho thấy tỷ trọng kinh tế phi nông nghiệp đang dần tăng lên và
đóng vai trò ngày càng quan trọng. Mặt khác, xu hướng phát triển của nền kinh tế
Việt Nam là theo hướng CNH- HĐH thì kinh tế phi nông nghiệp phải được quan
tâm. Do đó, phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp có tầm quan trọng rất lớn
- Đóng góp vào GDP của quốc gia
Khu vực kinh tế phi nông nghiệp là một bộ phận hợp thành cơ cấu công
nghiệp - nông nghiệp và dịch vụ ở địa bàn nông thôn do những đặc điểm vốn có của
nó. Theo quy trình tiến hành CNH- HĐH của đất nước, công nghiệp và dịch vụ
nông thôn ngày càng phát triển tự khẳng định vị trí của mình trong cơ cấu kinh tế
nông thôn, nó được thể hiện ở tỷ trọng gia tăng theo các năm có xu hướng tăng lên.


17
Nhìn chung tỷ lệ đóng góp vào khu vực kinh tế nông thôn của khu vực phi
nông nghiệp ngày càng tang, tuy không bằng đóng góp từ hoạt động nông nghiệp
nhưng nó đã góp phần cải thiện đáng kể bộ mặt của nông thôn và GDP về nông
nghiệp của nền kinh tế quốc dân, xu hướng này ngày một tăng lên thành một khu
vực chi phối ở nông thôn trong sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá.
- Tạo việc làm cho người lao động ở nông thôn
Khu vực kinh tế phi nông nghiệp phát triển sẽ thu hút lao động, phân bổ lại lao
động giải quyết việc làm tại chỗ, tăng thu nhập và sức mua cho thị trường nông
thôn. Khi việc làm ở nông thôn không được tạo ra thì vấn đề di dân đô thị trở nên
nặng nề. Thực tế ở Việt Nam cho thấy nạn thất nghiệp và thiếu việc làm ở nông
thôn đã vượt ra khỏi phạm vi nông thôn và ảnh hưởng rất rõ đến vùng đô thị, gây ra
nhiều vấn đề mà bản thân đô thị không thể tự giải quyết được nếu không bắt đầu
bằng việc phát triển sản xuất, giải quyết việc làm tại nông thôn.
Tạo công ăn việc làm cho lao động tại chỗ trong khu vực nông thôn đang dư
thừa lớn hiện nay và sẽ còn tăng thêm trong tương lai. Phát triển mạng lưới công
nghiệp nông thôn và dịch vụ nông thôn có khả năng chuyển lao động dư thừa từ
nông nghiệp sang, góp phần phân công lại lao động hợp lý trong nông thôn. Đây là
xu hướng hợp quy luật, có điều kiện thực hiện đối với nông thôn nước ta (bởi vì
công nghiệp thành thị ngày càng được mở rộng nhưng vẫn phải thu hút lao động
thất nghiệp tại chỗ là chính). Đây cũng là con đường hiệu quả nhất để từng bước đô
thị hoá nông thôn, hạn chế sự di dân ồ ạt từ nông thôn ra thành thị, góp phần ổn
định kinh tế xã hội cả nước.
Cùng với khả năng tạo việc làm, phát triển công nghiệp nông thôn và dịch vụ
nông thôn là biện pháp chủ yếu để nâng cao thu nhập, tăng mức sống mọi mặt của
đông đảo dân cư nông thôn.
- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội ở nông thôn theo hướng công
nghiệp hiện đại
Khu vực kinh tế phi nông nghiệp ra đời đã làm biến đổi cơ cấu kinh tế nông
thôn. Có thể khẳng định sự thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn bắt đầu từ khi xuất
hiện các nghề thủ công độc lập. Trong quá trình vận động của kinh tế nông nghiệp
nông thôn, khu vực phi nông nghiệp ra đời với nhiều ngành nghề có quy mô và


18
nhiều loại hình sản phẩm khác nhau, đã bổ sung và hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp
có năng suất và hiệu quả hơn, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông
nghiệp.
Sự ra đời của khu vực kinh tế phi nông nghiệp làm cho cơ cấu kinh tế nông
thôn chuyển dịch theo các bước: chuyển biến cơ cấu trong nội bộ ngành nông
nghiệp, tạo nền nông nghiệp đa dạng, phong phú và có hiệu quả. Công nghiệp nông
thôn trở thành lĩnh vực độc lập làm cho cơ cấu kinh tế nông thôn thoát khỏi thế
thuần nông. Kích thích lĩnh vực dịch vụ hình thành và phát triển tạo ra cơ cấu kinh
tế có tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ ngày càng tăng, tỷ trọng nông nghiệp ngày càng
giảm.
Bảo đảm cân đối, phát triển cơ cấu ngành, vùng của quá trình công nghiệp
hóa, làm cho nội dung của công nghiệp hoá được thực thi trong thực tế gắn các khía
cạnh ngành và khía cạnh lãnh thổ trong một quá trình công nghiệp hoá thống nhất,
cơ cấu ngành kinh tế xã hội hài hoà.
- Khai thác tiềm năng tại chỗ để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn
và kinh tế đất nước
Tiềm năng tại chỗ của nông thôn gồm lao động, đất đai và các sản phẩm của
nông lâm ngư nghiệp. Về thu hút lao động giải quyết việc làm tại chỗ của công
nghiệp nông thôn. Đất đai ở nông thôn chỉ có đất để ở, canh tác. Nhiều loại đất, diện
tích với số lượng không nhiều, không thể canh tác được, có thể bị bỏ phí. Phát triển
công nghiệp nông thôn như khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng là cách thức tốt
nhất để tận dụng có hiệu qủa hơn tiềm năng đất đai ở đây. Phát triển công nghiệp
nông thôn góp phần thu hút và sử dụng hiệu qủa các nguồn nguyên liệu của nông
nghiệp nông thôn.
Do đặc điểm công nghiệp nông thôn có quy mô nhỏ, phân bố phân tán, áp
dụng công cụ thủ công, công nghệ truyền thống nên việc sử dụng nguyên liệu đầu
vào của công nghiệp nông thôn rất đa dạng và phong phú về chủng loại, số lượng,
chất lượng.
- Thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá nông thôn tạo điều kiện đẩy nhanh quá
trình CNH- HĐH đất nước


19
Phát triển công nghiệp nông thôn tạo ra những cơ sở sản xuất với hệ thống
công nghệ riêng, mở, động có nghĩa là sẽ thay đổi, nâng cấp khi có điều kiện. Quá
trình hiện đại hoá phù hợp ở nông thôn có thể thực hiện nhanh chóng, hiệu quả hơn
do đã có những cơ sở nhất định có nhu cầu và có khả năng để tiếp thu công nghệ
mới tiên tiến.
- Thay đổi bộ mặt văn hóa xã hội nông thôn và bảo tồn các giá trị truyền
thống
Phát triển khu vực kinh tế phi nông nghiệp còn có vai trò quan trọng trong
việc làm biến đổi văn hoá xã hội nông thôn. Phát triển khu vực kinh tế phi nông
nghiệp còn thu hút con người lao động sáng tạo, say mê học tập và rèn luyện nâng
cao trình độ nghề nghiệp. Nó tác động tích cực tới bộ mặt văn hoá trên địa bàn. Do
đặc điểm của nghề nghiệp và điều kiện kinh tế, tại các địa bàn khu vực kinh tế phi
nông nghiệp phát triển có những nét đẹp về đời sống văn hoá.
Phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống qua quá trình
công nghiệp hoá nông thôn sẽ là cơ hội để củng cố, tăng cường và phát huy những
giá trị văn hoá truyền thống dân tộc thể hiện ở các mặt hàng được chế biến bởi bàn
tay khéo léo, khối óc tinh tế của người thợ thủ công, giới thiệu những nét độc đáo
của văn hoá Việt Nam với bạn bè thế giới.
1.2. Nội dung phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp từ góc độ quản
lý nhà nước trên địa bàn huyện
1.2.1. Khái niệm và sự cần thiết của quản lý nhà nước về phát triển các
ngành nghề phi nông nghiệp trên địa bàn huyện
1.2.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về phát triển các ngành nghề phi nông
nghiệp
a) Quản lý nhà nước về kinh tế
Quản lý là một quá trình, trong đó chủ thể quản lý tổ chức, điều hành, tác động
có định hướng, có chủ đích một cách khoa học và nghệ thuật vào khách thể quản lý
nhằm đạt kết quả tối ưu theo mục tiêu đã đề ra thông qua việc sử dụng các phương
pháp và công cụ thích hợp.


20
Quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của
Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực
kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát
triển kinh tế đất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế
[32].
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước về kinh tế được thực hiện thông qua cả ba
loại cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước.
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý
có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan
hành pháp (Chính phủ).
b) Quản lý nhà nước về phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp
Từ việc tìm hiểu các khái niệm về quản lý, quản lý nhà nước về kinh tế, ta có
khái niệm về quản lý nhà nước đối với các ngành nghề phi nông nghiệp như sau:
Quản lý nhà nước đối với các ngành nghề phi nông nghiệp là tổng hợp các
tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên các mối quan hệ về phát
triển các ngành nghề phi nông nghiệp nhằm đảm bảo cho việc phát triển kinh tế
nông thôn hợp lý, bền vững và ngày càng có hiệu quả cao.
Các ngành nghề kinh tế phi nông nghiệp bao gồm công nghiệp nông thôn, dịch
vụ và thương mại nông thôn.
Quản lý nhà nước đối với các ngành nghề phi nông nghiệp là một công việc
phức tạp, với sự tham gia quản lý trực tiếp và gián tiếp bởi nhiều cơ quan quản lý
khác nhau từ trung ương đến địa phương.
Quản lý nhà nước trung ương đối với các ngành nghề phi nông nghiệp là
quản lý mang tính quyền lực cao nhất, điều chỉnh mọi quan hệ trong quản lý ngành
nghề phi nông nghiệp.
Quản lý nhà nước địa phương đối với các ngành nghề phi nông nghiệp là
hoạt động quản lý dựa theo nguyên tắc phục tùng từ quản lý trung ương. Quản lý
nhà nước địa phương đối với các ngành nghề phi nông nghiệp là sự triển khai thực


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×