Tải bản đầy đủ

Phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Hà Thành

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Lê Thị Kim Nhung. Các số
liệu, kết quả nêu trong bản luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng.
Tác giả luận văn

Đỗ Thu Hằng


ii
LỜI CẢM ƠN
Luận văn là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu, kết hợp với kinh
nghiệm trong quá trình công tác và sự nỗ lực cố gắng của bản thân.
Đạt được kết quả này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy, cô
giáo trong Hội đồng khoa học trường Đại học Thương Mại đã tạo điều kiện giúp đỡ
tôi hoàn thành Luận văn. Đặc biệt là cô giáo PGS.TS. Lê Thị Kim Nhung là người
trực tiếp hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng


năm 2016

Đỗ Thu Hằng


iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN...........................................................................................................................................ii

Từ viết tắt

v

Nghĩa của từv
MỞ ĐẦU

1

2. Tính cấp thiết của đề tài.....................................................................................2


iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

Bảng 2.1: Số liệu huy động vốn qua các năm......................................................33
Biểu đồ 2.1: Tỷ trọng các sản phẩm huy động vốn năm 2014............................34
Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng các sản phẩm huy động vốn năm 2015............................35
Biểu đồ 2.3: Mức độ tăng trưởng của dư nợ tín dụng/Cơ cấu tín dụng theo đối
tượng khách hàng (2013 – 2015)...........................................................................36
Biểu đồ 2.4: Tỷ trọng dư nợ tín dụng cá nhân trong tổng dư nợ tín dụng giai
đoạn 2013 - 2015....................................................................................................36
Biểu đồ 2.5: Sự suy giảm của nợ quá hạn............................................................37
Sơ đồ 2.1: Quy trình cấp tín dụng tại BIDV........................................................39
Biểu đồ 2.6: Dư nợ tín dụng bán lẻ qua các năm 2013 - 2015............................41
Bảng 2.2: Cơ cấu tín dụng cá nhân theo thời hạn cho vay.................................42
Bảng 2.3: Tình hình nợ xấu của dư nợ tín dụng bán lẻ tại BIDV Hà Thành....43
Bảng 2.4: Cơ cấu các sản phẩm tín dụng bán lẻ..................................................45
Biểu đồ 2.7 : Tỷ trọng Dư nợ tín dụng cá nhân theo sản phẩm năm 2015........47
Bảng 2.5 : Tỷ lệ dư nợ TDBL của Chi nhánh Hà Thành trong hệ thống BIDV48
Biểu đồ 2.8: Tỷ trọng nợ xấu giai đoạn 2013-2015 của BIDV chi nhánh Hà


Thành

48

Bảng 2.6 Thu nhập từ tín dụng của Chi nhánh Hà Thành 2013 – 2015............49
Bảng 2.7 : Cơ cấu tín dụng theo đơn vị quản lý..................................................51
Bảng 2.8 So sánh đặc điểm sản phẩm cho vay hỗ trợ nhu cầu nhà ở của BIDV
với các Ngân hàng khác.........................................................................................52
Bảng 2.9 : Kết quả dư nợ tín dụng bán lẻ so với kế hoạch được giao năm 2015
54


v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt

Nghĩa của từ

NHNN

Ngân hàng Nhà nước

NHTM

Ngân hàng Thương mại

TDBL

Tín dụng bán lẻ

BIDV

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam

TCTD

Tổ chức tín dụng.

ATM

Máy rút tiền tự động

POS

Máy chấp nhận thanh toán thẻ

WTO

Tổ chức Thương mại Thế giới

HSBC

Ngân hàng TNHH một thành viên HSBC (Việt Nam)

ANZ

Ngân hàng TNHH một thành viên ANZ (Việt Nam)

Sacombank

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín

ACB

Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu

Techcombank

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam

Vietcombank

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam

BIDV

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Agribank

Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

Citibank

Ngân hàng Citi bank Việt Nam

VNĐ

Đồng Việt Nam

USD

Đồng đô la mỹ


1
MỞ ĐẦU
1. Tổng quan nghiên cứu đề tài
Lĩnh vực tín dụng ngân hàng là huyết mạch của nền kinh tế. Trước đây, các
ngân hàng thường chỉ chú trọng vào hoạt động tín dụng cho các khách hàng lớn, các
tập đoàn, Tổng công ty. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường bán lẻ
kéo theo đó là nhu cầu về tín dụng đối với thị trường này ngày càng tăng lên rõ rệt,
các Ngân hàng thương mại (NHTM) đã nhanh chóng nhận ra thị trường tín dụng
tiềm năng mang lại lợi nhuận cao.
Phát triển tín dụng bán lẻ hiện đang là xu thế tất yếu, phù hợp với xu hướng
chung của các ngân hàng. Ngân hàng nào nắm được cơ hội mở rộng việc cung cấp
tín dụng bán lẻ sẽ trở thành những Ngân hàng phát triển ổn định và bền vững.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài Phát triển hoạt động tín dụng bán
lẻ tại các ngân hàng cụ thể:
Đề tài: “Một số giải pháp phát triển tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam” của tác giả Triều Mạnh Đức, bảo vệ năm
2013 tại Trường Đại học Kinh tế TPHCM.
Đề tài: “Phát triển tín dụng bán lẻ đối với khách hàng cá nhân tại BIDV
Thanh Xuân” của tác giả Võ Thị Thu Hà, bảo vệ năm 2013, tại Trường đại học
Kinh tế - Trường đại học kinh tế Đà Nẵng.
Đề tài: “Giải pháp phát triển tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt Nam” của tác giả Ngô Bảo An, bảo vệ năm 2012 tại Đại học Kinh tế quốc
dân.
Đề tài: “Phát triển dịch vụ tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam” của tác giả Trịnh Minh Thắng, bảo vệ năm 2013 tại Học viện Ngân hàng.
Đề tài: “Nâng cao chất lượng tín dụng bán lẻ đối với khách hàng cá nhân tại
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam” của tác giả Trần
Phương Nga, bảo vệ năm 2012 tại Học viện Tài chính.
Đề tài: “Phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại ngân hàng Sacombank – Chi
nhánh Hải Dương” của tác giả Nguyễn Minh Hạnh, bảo vệ năm 2013 tại Học viện
Tài chính.


2
Đề tài:“Phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại ngân hàng Vietinbank – Chi
nhánh Hải Dương” của tác giả Phạm Ngọc Trung, bảo vệ năm 2014 tại Trường Đại
Học Thương Mại .
Những đề tài trên đã nghiên cứu và đưa ra các giải pháp tương đối sát thực tế
về phát triển tín dụng bán lẻ. Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi
nhánh Hà Thành là một trong những chi nhánh lớn của hệ thống Ngân hàng TMCP
Đầu tư và Phát triển Việt Nam, đồng thời là đơn vị đi đầu trong việc phát triển dịch
vụ bán lẻ của hệ thống BIDV. Tuy nhiên, những năm gần đây lĩnh vực này ngày
càng có sự cạnh tranh gay gắt buộc các ngân hàng phải luôn đổi mới, đưa ra những
sản phẩm phù hợp để thu hút khách hàng. Trên cơ sở đó học viên tiếp tục nghiên
cứu theo hướng chuyên sâu, cụ thể tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt
Nam – chi nhánh Hà Thành và nội dung của bài nghiên cứu không trùng lắp với
những kết quả, công trình đã công bố trước đó.
2. Tính cấp thiết của đề tài
Việc Việt Nam đang từng bước hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế đã
đặt ra những thách thức to lớn cho các ngân hàng thương mại. Trước tình hình đó
bắt buộc các ngân hàng thương mại phải có những bước cải cách trong định hướng
chiến lược và phát triển kinh doanh của mình.
Việc phát triển, đa dạng hoá hoạt động tín dụng Ngân hàng đã và đang trở
thành một xu hướng tất yếu trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam. Trong khi
hoạt động tín dụng bán buôn vẫn được duy trì thì việc hoạt động tín dụng bán lẻ
đang là một xu hướng mới, ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm từ các Ngân
hàng thương mại.
Trong những năm vừa qua, mặc dù gặp không ít khó khăn song với sự cố gắng
và nỗ lực của toàn hệ thống, hoạt động tín dụng bán lẻ của BIDV vẫn đạt được mức
tăng trưởng ổn định.
Nắm bắt được nhu cầu thực tế cũng như để đẩy mạnh sức cạnh tranh với các
ngân hàng trên địa bàn, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi
nhánh Hà Thành đã triển khai các loại hình tín dụng bán lẻ đối với khách hàng là cá
nhân, hộ gia đình. Tuy nhiên qua thực tế triển khai, việc phát triển hoạt động tín
dụng bán lẻ của Chi nhánh còn một số hạn chế dư nợ tín dụng bán lẻ của Chi nhánh


3
chưa cao, việc phát triển tín dụng trên địa bàn gặp nhiều khó khăn, số lượng sản
phẩm triển khai còn hạn chế, tỷ trọng tín dụng vẫn thấp so với tổng dư nợ và chưa
tương xứng với tiềm năng của ngân hàng.
Xuất phát từ những vấn đề trên, với mong muốn tìm ra một giải pháp đồng bộ,
hữu hiệu, có tính thực tế cao, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Phát triển hoạt
động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi
nhánh Hà Thành” cho luận văn của mình.
3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu phân tích nhằm đưa ra những lý thuyết cơ bản
chung nhất về hoạt động tín dụng bán lẻ của ngân hàng, trên cơ sở lý luận đó đánh
giá hoạt động tín dụng bán lẻ của BIDV trong bối cảnh kinh tế hiện nay, tìm những
nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng bán lẻ, phân tích, đánh giá hoạt động tín
dụng bán lẻ tại BIDV – chi nhánh Hà Thành. Từ đó đưa ra các giải pháp và kiến
nghị nhằm phát triển, mở rộng hoạt động tín dụng bán lẻ tại BIDV – chi nhánh Hà
Thành.
Đề tài tập trung giải quyết 03 vấn đề:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động tín dụng bán lẻ.
- Mô tả, phân tích, nêu nhận xét và đánh giá về thực trạng phát triển hoạt động
tín dụng bán lẻ tại BIDV – chi nhánh Hà Thành.
- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển hoạt động tín dụng bán
lẻ tại BIDV – chi nhánh Hà Thành.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động tín dụng bán lẻ đang được triển khai tại
BIDV – chi nhánh Hà Thành từ năm 2011 đến hết năm 2014.
- Phạm vi nghiên cứu: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi
nhánh Hà Thành giai đoạn 2011 – hết 2014.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện bởi các phương pháp:
- Phương pháp thống kê, tổng hợp.
- Phương pháp phân tích, so sánh, mô tả và suy luận đồng thời tham khảo các
tài liệu, công trình khoa học có liên quan để hoàn thành luận văn.


4
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục các từ viết tắt, danh mục tài liệu
tham khảo, luận văn thạc sĩ được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ của
ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Thành.
Chương 3: Một số giải pháp phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân
hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Thành.


5
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG
TÍN DỤNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm
1.1.1.1 Khái niệm
Tín dụng là một phạm trù kinh tế khách quan, có quá trình ra đời, tồn tại và
phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Nó phản ánh mối quan hệ
vay mượn giữa các chủ thể dựa trên nguyên tắc hoàn trả. Theo đó, người cho vay sẽ
chuyển giao quyền sử dụng của hàng hóa hoặc tiền tệ thuộc sở hữu của mình sang
người vay và người vay có nghĩa vụ hoàn trả lại người cho vay một lượng giá trị lớn
hơn lượng giá trị ban đầu đã nhận. Do đó, tín dụng ngân hàng là một trong các hình
thức tín dụng thể hiện quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng sang
cho khách hàng (tổ chức, cá nhân) trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí
nhất định. Nói cách khác, tín dụng ngân hàng chính là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng
với các tổ chức, cá nhân được thực hiện dưới hình thức: ngân hàng đứng ra huy động
vốn bằng tiền và cho vay với các đối tượng trên.
(1) Cho vay vốn
Ngân hàng
(Lender)

Chủ thể đi vay (cá nhân, doanh nghiệp…)
(Borrower)
Hoàn trả cả gốc lẫn lãi (2)

Hiện nay, ở nước ta vẫn chưa có khái niệm thống nhất về tín dụng bán lẻ. Theo
Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 của Việt Nam có ghi “Tổ chức tín dụng cho các
tổ chức, cá nhân vay ngắn hạn, trung dài hạn nhằm đáp ứng nhu cấu vốn cho sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống” được bao hàm cả hai nội dung: Tín dụng bán
buôn và tín dụng bán lẻ. Khái niệm này cũng xuất phát từ cách hiểu truyền thống
trong lĩnh vực thương mại có hai hình thức bán buôn và bán lẻ. Hiện nay trên thế
giới có hai cách hiểu về hai loại tín dụng này như sau:
Cách hiểu thứ nhất, tín dụng bán buôn được hiểu là tất cả các khoản cho vay
thông qua thị trường tài chính (thị trường tiền tệ liên ngân hàng) hoặc cho vay đối


6
với các trung gian tài chính khác (các ngân hàng thương mại, quỹ, các tổ chức làm
đại lý ủy thác), không tính đến quy mô giá trị các khoản vay. Trong khi đó, tín dụng
bán lẻ bao gồm những khoản cho vay trực tiếp đến người vay cuối cùng với các
khoản cho vay có quy mô giá trị khác nhau. Người vay cuối cùng ở đây không phân
biệt quy mô lớn hay nhỏ, mà chủ yếu được xác định là người trực tiếp sử dụng vốn
vay đưa vào đầu tư, không thực hiện việc cho vay tiếp với các đối tượng khác.
Cách hiểu thứ hai, tín dụng bán buôn được hiểu như cách thứ nhất và cộng
thêm các trường hợp cho vay với giá trị lớn tùy quy mô cụ thể từng nước quy định .
Tín dụng bán lẻ bao gồm tất cả các khoản cho vay trực tiếp đến người vay cuối
cùng là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và vừa, cộng thêm các khoản cho
vay với công ty, doanh nghiệp lớn nhưng có quy mô nhỏ hơn một mức giá trị nào
đấy.
Những tiêu chí trên chỉ mang tính tương đối và với từng quốc gia sẽ có những
quy định cụ thể cho phù hợp. Tại Việt Nam, cách hiểu phổ biến nhất, tín dụng bán lẻ
là hoạt động cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính chủ yếu cho khách hàng là
các cá nhân, các hộ gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN). Một số
nhà nghiên cứu còn nhấn mạnh vai trò của công nghệ thông tin trong các sản phầm
ngân hàng cung cấp.Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu Á –
AIT , dịch vụ ngân hàng bán lẻ là cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá
nhân riêng lẻ; các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua mạng lưới chi nhánh, khách
hàng có thể tiếp cận trực tiếp tới sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua các phương
tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin.
Theo Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – BIDV, cấp tín dụng bán lẻ là
việc cấp tín dụng cho khách hàng bán lẻ bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu,
bảo lãnh và các nghiệp vụ khác. Trong đó, khách hàng bán lẻ là cá nhân (cá nhân
Việt Nam và cá nhân nước ngoài), hộ gia đình có nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch
vụ của BIDV. Tóm lại, hoạt động tín dụng bán lẻ là hình thức cung cấp trực tiếp
các sản phẩm tín dụng, bảo lãnh có quy mô nhỏ cho các khách hàng là cá nhân,
hộ gia đình và các DNVVN
1.1.1.2 Đặc điểm
Đối tượng được cung cấp sản phẩm tín dụng bán lẻ rất rộng, số lượng khách


7
hàng vô cùng lớn: các cá nhân hộ gia đình, các DNVVN trong nền kinh tế, nhưng
giá trị của các khoản vay thông thường nhỏ vì vậy mà chi phí bình quân trên mỗi
giao dịch thường cao. Do các giao dịch của tín dụng bán lẻ thanh toán thường xuyên
như thanh toán tiền hàng, chuyển khoản, chuyển vốn… do đó khi phục vụ mỗi đối
tượng bán lẻ ngân hàng vẫn phải tuân thủ quy trình và chi phí tương tự như khi
phục vụ khách hàng bán buôn.
Đối tượng của tín dụng bán lẻ chủ yếu là các khách hàng cá nhân khác nhau về
thu nhập, dân trí, hiểu biết, tích cách, độ tuổi… nên nhu cầu của khách hàng rất đa
dạng. Các NHTM cũng phải thường xuyên thay đổi liên tục các dịch vụ để đáp ứng
được nhu cầu của khách hàng. Đồng thời nhu cầu của các đối tượng khách hàng này
cũng mang tính thời điểm. Cùng với sự thay đổi của các điều kiện xung quanh cuộc
sống của họ mà nhu cầu sẽ thay đổi. Nếu NHTM nào nhanh chóng bắt kịp được sự
thay đổi của nhu cầu khách hàng để thỏa mãn họ sẽ giành phần thắng trong cuộc
cạnh tranh gay gắt này.
Chất lượng các thông tin tài chính của các khách hàng vay thông thường
không cao, đối với các khách hàng cá nhân và hộ gia đình khó xác định, đối với các
DNVVN các báo cáo tài chính thường không được kiểm toán.
Tỷ trọng cho vay trung dài hạn đối với tín dụng bán lẻ có xu hướng cao hơn
mức bình quân chung, do các nhu cầu cho vay trung dài hạn mua nhà ở đất ở, mua
sắm tài sản cố định chiếm tỷ trọng lớn; bên cạnh đó khách hàng vay thường không
chủ động kế hoạch hóa về dòng tiền, các nhu cầu vay tiêu dùng thông thường có
thời hạn trên 12 tháng.
Nhu cầu được cấp tín dụng bán lẻ của khách hàng chịu tác động mạnh và phục
thuộc lớn vào chu kỳ kinh tế; tăng mạnh trong thời kì nền kinh tế tăng trưởng tốt,
thu nhập cao, chi tiêu tăng, đầu tư cho sản xuất kinh doanh dịch vụ nhỏ lẻ sinh lời
cao; ngược lại khi nền kinh tế suy thoái, thất nghiệp tăng rất nhiều cá nhân hộ gia
đình, hạn chế chi tiêu vay mượn tiêu dùng, các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhanh
chóng thu hẹp sản xuất.
Tín dụng bán lẻ có độ rủi ro thấp. Đây là một đặc điểm khác biệt với tín dụng
bán buôn. Trong khi tín dụng bán buôn tập trung vào đối tượng khách hàng là các tổ
chức kinh tế, tập đoàn kinh tế, trung gian tài chính với giá trị giao dịch lớn và độ rủi


8
ro cao thì dịch vụ tín dụng bán lẻ lại có khả năng phân tán rủi ro, do số lượng khách
hàng lớn, các khoản vay có giá trị nhỏ. Vì vậy mà tín dụng bán lẻ là một trong
những mảng đem lại doanh thu ổn định và an toàn cho các NHTM.
1.1.2. Các sản phẩm tín dụng bán lẻ
Bên cạnh những dịch vụ tín dụng bán lẻ truyền thống, các NHTM hiện nay
cũng thường xuyên thay đổi các dịch vụ tín dụng bán lẻ để thỏa mãn các nhu cầu
của khách hàng. Một số dịch vụ tín dụng bán lẻ hiện nay:
- Cho vay vốn sản xuất kinh doanh: Là sản phẩm tín dụng ngắn hạn nhằm đáp
ứng vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh trong nước như mua vật tư hàng hóa, chi
phí nhân công, nhiên liệu nộp thuế,…; xuất nhập khẩu nguyên vật liệu, hàng hóa,
…; thông thường thông qua hình thức cho vay theo hạn mức tín dụng hoặc theo
món.
- Cho vay mua sắm đầu tư tài sản cố định: Là sản phẩm tín dụng trung dài hạn
nhằm bổ sung vốn đầu tư mới hoặc sửa chữa, nâng cấp máy móc thiết bị, phương
tiện vận tải, văn phòng làm việc, nhà xưởng,…cho các DNVVN
- Cho vay kinh doanh chứng khoán: Là sản phẩm cho nhà đầu tư vay bằng tiền
Việt Nam để kinh doanh chứng khoán và ứng trước tiền bàn chứng khoán đã được
khớp lệnh công ty chứng khoán
- Cho vay tiêu dùng cá nhân: Là sản phẩm nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của
người tiêu dùng, đây là nguồn tài chính quan trọng để trang trải các nhu cầu sinh hoạt gia
đình, mua sắm đồ dùng, chi tiêu cho y tế, giáo dục, du lịch,…
- Cho vay du học: Là sản phẩm nhằm cung cấp tài chính để hỗ trợ cho du học
sinh tham dự các khóa đại học, sau đại học ở nước ngoài.
- Cho vay học phí: Thông thường là sản phẩm cho vay tín dụng dưới hình thức
trả định kì nhằm hỗ trợ người vay có đủ khả năng chi trả học phí khi bản thân người
vay hoặc thân nhân của người vay theo học các khóa học ở Việt Nam.
- Cho vay mua nhà đất để ở: Là sản phẩm cho các khách hàng cá nhân vay vốn
để thực hiện việc xây, mua, sửa chữa, chuyển quyền thuê lại nhà của nhà nước,
chuyển quyền sử dụng đất,…
- Cho vay mua ô tô: Khách hàng vay vốn để có thể sở hữu và sử dụng một
chiếc ô tô mới đẹp, hiện đại phục vụ nhu cầu tiêu dùng và kinh doanh


9
- Thẻ tín dụng: là hình thức áp dụng cho khách hàng có thẻ tín dụng quốc tế.
Là loại hình khách hàng có quyền chi tiêu trước và trả sau. Chủ thẻ không cần trả
tiền mặt ngay khi mua hàng mà ngân hàng sẽ ứng tiền trước trả cho người bán, chủ
thẻ sau đó sẽ thanh toán lại sau cho ngân hàng. Thẻ tín dụng cho phép khách hàng
“trả dần” số tiền thanh toán trong tài khoản. Chủ thẻ không phải thanh toán toàn bộ
số dư trên bảng sao kê giao dịch hằng tháng. Tuy nhiên, Chủ thẻ phải trả khoản
thanh toán tối thiểu trước ngày đáo hạn đã ghi rõ trên bảng sao kê. Thẻ tín dụng
khác với thẻ ghi nợ vì tiền không bị trừ trực tiếp vào tài khoản tiền gửi của chủ thẻ
ngay sau mỗi lần mua hàng hoặc rút tiền mặt. Thẻ tín dụng được phát hành sau khi
nhà cung cấp dịch vụ tín dụng duyệt chấp thuận tài khoản thẻ, sau đó chủ thẻ có thể
sử dụng nó để mua sắm tại các điểm bán hàng chấp nhận loại thẻ.
Mỗi ngân hàng đều có cách khác nhau đưa ra các sản phẩm tín dụng bán lẻ,
nhưng tựu chung lại các sản phẩm tín dụng bán lẻ được phân loại như sau:
+ Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay:
- Tín dụng cho sản xuất, lưu thông hàng hóa
- Tín dụng tiêu dùng
+ Căn cứ vào đối tượng cấp tín dụng:
- Cho vay cá nhân;
- Cho vay hộ gia đình;
- Cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa.
1.1.3. Quy trình tín dụng bán lẻ
Quy trình tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong
việc cấp tín dụng. Trong đó xây dựng các bước đi cụ thể theo một trình tự nhất định
kể từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng đến khi chấm dứt quan hệ tín dụng.
Đó là quá trình đồng bộ, có tính chất liên hoàn, theo trình tự nhất định và có quan
hệ chặt chẽ gắn bó với nhau. Quy trình tín dụng thường có 6 bước:
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ vay vốn
Khách hàng có thể thông qua trực tiếp hoặc gián tiếp để đến ngân hàng tìm
hiểu về các sản phẩm tín dụng bán lẻ. Cán bộ tín dụng sẽ là người hướng dẫn và tư
vấn các sản phẩm cho khách hàng. Phỏng vấn khách hàng để nắm được các thông
tin của khách hàng. Khi phỏng vấn cán bộ quan hệ khách hàng cá nhân cần phải biết


10
được mục đích vay vốn của khách hàng, tình trạng thân nhân (như tên tuổi, nghề
nghiệp, thu nhập, trình độ…), khả năng và nguồn trả nợ của khách hàng, tài sản
hình thành từ vốn vay, tài sản khác của khách hàng…Sau khi phỏng vấn và nắm bắt
thông tin từ khách hàng cán bộ quan hệ khách hàng cá nhân sẽ tư vấn cho khách
hàng sản phẩm, dịch vụ phù hợp, đối với từng khách hàng cán bộ sẽ hướng dẫn
khách hàng về hồ sơ, tài liệu cần cung cấp cho ngân hàng.
Sau khi khách hàng chọn được dịch vụ ngân hàng phù hợp, cán bộ quan hệ
khách hàng cá nhân sẽ trực tiếp tiếp nhận toàn bộ hồ sơ từ khách hàng, có trách
nhiệm kiểm tra tính đầy đủ, phù hợp, chính xác của hồ sơ, lập phiếu tiếp nhận hồ
sơ. Nếu khách hàng chưa cung cấp đầy đủ hồ sơ yêu cầu khách hàng bổ sung đầy đủ
các giấy tờ còn thiếu trong một lần tránh yêu cầu khách hàng bổ sung nhiều lần. Khi
khách hàng bàn giao hồ sơ gốc tài sản bảo đảm thì thực hiện nhập kho, bàn giao
ngay cho kho quỹ, trong trường hợp phải sử dụng tài sản bảo đảm đó đi xác minh,
làm thủ tục công chứng, đăng kí giao dịch bảo đảm thì phải lập tờ trình mượn hồ sơ
tài sản đảm bảo để mượn hồ sơ từ kho quỹ.
Bước 2: Phân tích, thẩm định tín dụng
Sau khi nhận hồ sơ từ khách hàng, cán bộ quan hệ khách hàng cá nhân đánh
giá thông tin thân nhân khách hàng, tình hình quan hệ tín dụng của nhóm khách
hàng liên quan (nếu có), đánh giá mục đích và kế hoạch sử dụng vốn vay, phân tích
năng lực tài chính, tài sản đảm bảo của khách hàng., kiểm tra khách hàng để nắm
bắt thông tin lịch sử quan hệ giao dịch của khách hàng, khai thác thông tin về lịch
sử quan hệ tín dụng của khách hàng với các Tổ chức tín dụng khác và các kênh
thông tin khác, thực hiện chấm điểm, xếp hạng tín dụng khách hàng theo đúng quy
định hiện hành của ngân hàng.
Căn cứ vào kết quả đánh giá, phân tích, xếp hạng tín dụng khách hàng, hồ sơ
tín dụng, so sánh với các điều kiện quy định của ngân hàng và các quy định của
từng sản phẩm tín dụng cụ thể, cán bộ quan hệ khách hàng cá nhân tiến hành trình
cấp có thẩm quyền quyết định cấp tín dụng. Sau khi tiếp nhận hồ sơ của chi nhánh,
Cán bộ Ban quản lý rủi ro tín dụng lập Báo cáo thẩm định rủi ro và trình Lãnh đạo
Ban quản lý rủi ro tín dụng kí quyết định cấp tín dụng nếu trong phạm vi thẩm
quyền của Lãnh đạo Ban hoặc kí kiểm soát trước khi trình cấp có thẩm quyền cao


11
hơn. Sau khi các cấp có thẩm quyền quyết định cấp tín dụng tại Hội sở chính phê
duyệt, Cán bộ Ban quản lý rủi ro tín dụng chịu trách nhiệm soạn thảo Quyết định
cấp tín dụng trình cấp có thẩm quyền kí và gửi cho chi nhánh. Trong trường hợp từ
chối cấp tín dụng lập Thông báo từ chối cấp tín dụng gửi khách hàng trong đó nêu
rõ lý do từ chối cho vay.
Bước 3: Ký kết hợp đồng tín dụng
Tiến hành soạn thảo Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng bảo đảm tiền vay phù
hợp, Khách hàng tham gia ký hợp đồng phải là chính khách hàng vay hoặc đại diện
hợp pháp của Hộ gia đình, hộ kinh doanh. Hợp đồng được ký tại Ngân hàng hoặc
tại phòng công chứng. Cán bộ quan hệ khách hàng cùng khách hàng thực hiện việc
công chứng, chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định hiện hành của
pháp luật và của ngân hàng.
Bước 4: Giải ngân
Sau khi khách hàng hoàn thiện hồ sơ, thực hiện các thủ tục theo quy định của
pháp luật và của ngân hàng hiện hành. Cán bộ quan hệ khách hàng cá nhân lập hồ
sơ giải ngân quyết định phương thức giải ngân vốn phù hợp với quy định của pháp
luật tại thời điểm giải ngân và hướng dẫn của ngân hàng trong từng thời kì, tiến độ
giải ngân phải phù hợp với tiến độ thanh toán theo thỏa thuận giữa khách hàng và
bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Hướng dẫn khách hàng hoàn thiện các chứng từ
giải ngân như ủy nhiệm chi, giấy lĩnh tiền mặt…, kiểm tra đối chiếu, bảo đảm khớp
đúng về thông tín khách hàng tại chứng minh thư nhân dân/hộ chiếu, chữ ký tại với
các hồ sơ chứng từ giải ngân. Sau khi hoàn thành thủ tục giải ngân cho khách hàng,
thực hiện lưu hồ sơ giải ngân theo quy định hiện hành của ngân hàng
Bước 5: Giám sát và thu nợ
Thực hiện kiểm tra giám sát khoản vay, khách hàng vay, mục đích sử dụng
vốn vay trước và trong quá trình duyệt vay, giải ngân nhằm đảm bảo phù hợp với
hồ sơ và thực tế, thường xuyên theo dõi việc trả nợ vay của khách hàng đảm bảo
khách hàng trả nợ đúng hạn. Trong quá trình kiểm tra, đánh giá, nếu phát hiện
các dấu hiệu rủi ro, đề xuất biện pháp phòng ngừa và báo cáo Lãnh đạo phòng
quan hệ khách hàng cá nhân và cấp có thẩm quyền quyết định tín dụng chỉ đạo,
xử lý kịp thời.


12
Bước 6: Thanh lý hợp đồng
Đến thời hạn hợp đồng kết thúc, cán bộ tín dụng khách hàng cá nhân tiến hành
các thủ tục thanh lý hợp đồng theo quy định cho khách hàng.
1.1.4. Vai trò của tín dụng bán lẻ
Tín dụng bán lẻ có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình thúc đẩy kinh tế
phát triển không chỉ đối với các nước đang phát triển mà cả với những quốc gia phát
triển. Các ngân hàng hàng đầu thế giới như City Group, HSBC, Bank of American
cũng coi việc phát triển dịch vụ ngân hàng tín dụng bán lẻ là một trong những chiến
lược kinh doanh chủ đạo của họ hiện nay. Với kinh nghiệm phát triển lâu năm, các
ngân hàng trên đã từng phát triển mạnh mẽ dịch vụ bán buôn họ đều nhận định rằng
hoạt động bán buôn tạo ra lợi nhuận cao nhưng rủi ro cũng rất cao; trong khi dịch
vụ tín dụng bán lẻ lại mang lại một nguồn doanh thu cao, ổn định và rất ít rủi ro.
Vai trò của tín dụng bán lẻ càng thể hiện rõ hơn trong thời kỳ suy thoái kinh tế
khi hiện nay, khi mà hàng loạt các tổ chức kinh tế lớn trên thế giới đang gặp rất
nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh của mình. Khi mà tình hình giá dầu thế
giới ngày càng xuống dốc, căng thẳng quân sự ngày càng leo thang giữa các cường
quốc kinh tế, đã tác động rất mạnh đến nền kinh tế toàn cầu làm giảm doanh thu của
hàng loạt các tập đoàn kinh tế lớn mạnh. Nhiều ngân hàng đầu tư lớn đã bị phá sản
như Lemon Brothers, Merrill Lynch…vì vậy xu hướng các ngân hàng hiện nay đang
chuyển dần sang phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ.
Dịch vụ tín dụng bán lẻ mang nhiều lợi ích cho cả hai bên cùng tham gia hoạt
động, đồng thời còn đóng góp lợi ích thúc đẩy phát triển kinh tế.
+ Đối với nền kinh tế: Nó góp phần đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ,
sử dụng hiệu quả nguồn vốn, để các DNVVN; hộ gia đình mở rộng sản xuất hàng
hóa, dịch vụ, giải quyết khối lượng lớn công ăn việc làm, nâng cao vai trò của các
thành phần kinh tế này trong nền kinh tế, đóng góp ngày càng tăng trong GDP.
Hoạt động tín dụng bán lẻ giúp Nhà nước thực hiện chính sách kích cầu tiêu
dùng: Với các sản phẩm cho vay mua nhà ở, ô tô, trang thiết bị phục vụ sinh hoạt
gia đình,… phù hợp với khả năng chi trả của khách hàng, các sản phẩm tín dụng
tiêu dùng thông qua các loại thẻ nội địa và quốc tế, kích thích người dân tăng cường
chi tiêu, từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư gia tăng năng lực sản xuất, tăng


13
trưởng kinh tế.
Một vai trò quan trọng phải kể đến, tín dụng bán lẻ phát triển đã góp phần đẩy
lùi tệ nạn tín dụng đen, cho vay nặng lãi ở nhiều nơi. Khi khách hàng dễ dàng tiếp
cận được nguồn tín dụng bán lẻ thì chắc chắn họ sẽ không tìm đến tín dụng đen. Khi
đó không chỉ đôi bên cùng có lợi mà Nhà nước cũng sẽ không bị thất thu thuế từ
một phần lớn hoạt động tín dụng đen.
+ Đối với các NHTM: tín dụng bán lẻ mang lại nguồn thu ổn định, chắc chắn,
rủi ro thấp nên phát triển tín dụng bán lẻ là xu thế tất yếu, phù hợp với xu hướng
chung của các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới. Đảm bảo cho các ngân hàng
đa dạng hóa kinh doanh, mở rộng các phân khúc khách hàng tiềm năng, mở rộng thị
trường phân tán rủi ro, cung ứng dịch vụ chất lượng cao cho khách hàng.
Trên giác độ tài chính, tín dụng bán lẻ đóng góp quan trọng vào việc tăng
trưởng tín dụng và đem lại hiệu quả kinh doanh cao cho các ngân hàng. Tín dụng
bán lẻ là một trong hai bộ phận trong nghiệp vụ cho vay của ngân hàng bên cạnh
cho vay bán buôn, tốc độ cho vay bán lẻ tăng nhanh sẽ góp phần đẩy nhanh dư nợ,
đồng thời cho vay bán lẻ có lãi suất cao hơn, đồng nghĩa với tăng nguồn thu nhập
cho ngân hàng.
Dịch vụ tín dụng bán lẻ phát triển giúp các ngân hàng nâng cao chất lượng
cung ứng dịch vụ. Các ngân hàng sẽ phải đầu tư mạnh vào hạ tầng công nghệ thông
tin, cải tiến chất lượng sản phẩm, xây dựng mạng lưới kênh phân phối đa dạng, rộng
khắp làm nền tảng để phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng bán lẻ, phục vụ
một lượng khách hàng bán lẻ đông đảo. Từ đó sẽ nâng cao được năng lực cạnh
tranh của các NHTM trong nền kinh tế hội nhập như hiện nay.
+ Đối với khách hàng sử dụng dịch vụ tín dụng bán lẻ: cá nhân, hộ gia đình,
DNVVN có thêm nhiều cơ hội đầu tư khai thác hết tiềm năng về lao động đất đai,
hàng hóa, máy móc, nhà xưởng,…một cách hợp lý và có hiệu quả nhất. Góp phần
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, tạo điều kiện nâng cao dân trí,
hình thành những thói quen sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại, phù hợp với
yêu cầu của một nền kinh tế hiện đại.


14
1.2. Phát triển tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại
1.2.1. Quan niệm về sự phát triển tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại
Theo quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng giảm thuần túy về
lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật; đồng thời, nó cũng xem sự phát
triển là quá trình tiến lên liên tục, không trải qua những bước quanh co phức tạp.
Đối lập với quan điểm siêu hình, trong phép biện chứng khái niệm phát triển dùng
để chỉ quá trình vận động theo khuynh hướng đi từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện
đến hoàn thiện hơn, phát triển không đồng nhất với khái niệm vận động nói chung;
đó không phải là sự biến đổi tăng lên hay giảm đi đơn thuần về lượng hay sự biến
đổi tuần hoàn lặp đi lặp lại ở chất cũ mà là sự biến đổi về chất theo hướng hoàn
thiện. Như vậy hiểu đơn giản nhất, phát triển là sự tăng lên cả về mặt số lượng và
chất lượng.
Phát triển tín dụng bán lẻ trong hoạt động của ngân hàng nếu hiểu theo nghĩa
hẹp là sự gia tăng về dư nợ tín dụng bán lẻ (tăng về lượng). Xét dưới góc độ rộng
hơn, phát triển tín dụng là sự gia tăng dư nợ tín dụng trong cơ cấu khách hàng vay
kết hợp với sự gia tăng sản phẩm tín dụng bán lẻ, đồng thời phải có sự gia tăng về
chất lượng tín dụng. Trong khi chất lượng tín dụng thì được phản ánh thông qua tỷ
lệ nợ xấu giảm, lợi nhuận từ tín dụng tăng cao.
1.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển tín dụng bán lẻ của NHTM
1.2.2.1 Dư nợ tín dụng bán lẻ
Là chỉ tiêu đầu tiên phản ánh lượng của sự phát triển. Dư nợ tín dụng bán lẻ
càng cao chứng tỏ hoạt động tín dụng bán lẻ của ngân hàng càng phát triển về
lượng. Việc đo lường, đánh giá dư nợ tín dụng bán lẻ thông qua tỷ lệ tăng trưởng dư
nợ tín dụng bán lẻ.

1.2.2.2 Sự phát triển thị phần
Chỉ tiêu về thị phần là một chỉ tiêu chung và quan trọng để đánh giá bất kỳ
hoạt động kinh doanh nào. Trong kinh tế thị trường thì "khách hàng là thượng đế" vì
chính khách hàng mang lại lợi nhuận và sự thành công cho doanh nghiệp, hay nói
cách khác hơn thì chính khách hàng trả lương cho người lao động. Lĩnh vực ngân


15
hàng cũng không là ngoại lệ vì số lượng khách hàng đến với một ngân hàng càng
nhiều thì thể hiện ngân hàng đó càng hoạt động thành công, sản phẩm dịch vụ của
ngân hàng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng. Thị phần tín dụng bán lẻ của một
ngân hàng được xác định như sau:

1.2.2.3 Tỷ lệ nợ xấu
Như đề cập ở trên, phát triển phải là sự đi đôi giữa tăng về lượng và cả về chất
mới là sự phát triển bền vững và cần đạt được. Với mỗi NHTM khi đặt mục tiêu
tăng trưởng tín dụng thì cũng phải đi đôi với giảm tỷ lệ nợ xấu mới đảm bảo được
tăng chất lượng tín dụng bán lẻ. Chất lượng tín dụng một phần được thể hiện ở mức
độ an toàn vốn tín dụng thông qua chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu – đánh giá khả năng thu hồi nợ.

Tại Việt Nam việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro
tín dụng được thực hiện theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN của NHNN Việt Nam
ngày 21 tháng 01 năm 2013 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương
pháp lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động
của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và Thông tư số 09/2014/TTNHNN ngày 18 tháng 03 năm 2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư
02/2013/TT-NHNN. Theo đó “Nợ xấu” là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5. Việc
phân loại nợ theo quy định thực hiện như sau:Tỷ lệ nợ xấu của một ngân hàng càng
thấp càng tốt. Thực tế, rủi ro trong kinh doanh là không tránh khỏi, nên ngân hàng
thường chấp nhận một tỷ lệ nhất định được coi là giới hạn an toàn. Mức dưới 3% có
thể coi là ngưỡng khá tốt trong hoạt động ngân hàng. Tỷ lệ an toàn cho phép theo
thông lệ quốc tế và Việt Nam là 5% (Trích Khoản 1, Điều 10 Thông tư 02/2013/TTNHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 21 tháng 01 năm 2013)
1.2.2.4 Thu nhập từ tín dụng bán lẻ
Hiệu quả của hoạt động tín dụng bán lẻ được phản ánh thông qua thu nhập từ
tín dụng bán lẻ hoặc tỷ trọng thu lãi từ tín dụng bán lẻ trên tổng thu lãi từ tín dụng.
Thu nhập ở đây được tính bằng chênh lệch giữa các khoản thu được từ tín dụng bán


16
lẻ (tiền lãi, thu phí) với chi phí đầu vào và các chi phí khác cho hoạt động tín dụng.
Chỉ tiêu này giúp ngân hàng đánh giá được hiệu quả hoạt động tín dụng bán lẻ
trong tổng quan hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Từ đó có định hướng rõ ràng
trong phát triển tín dụng bán lẻ nhằm đặt ra các mục tiêu gần và kế hoạch lâu dài để
có đường lối phát triển rõ ràng trong tương lai.
Hiệu quả của hoạt động tín dụng bán lẻ được phản ánh thông qua chỉ tiêu tỷ lệ
thu nhập lãi ròng cận biên (NIM – Net interest margin). NIM được xác định bằng
tổng doanh thu từ lãi trừ tổng chi phí trả lãi (thu nhập lãi thuần) trên tổng tài sản có
sinh lời bình quân. Đối với hoạt động tín dụng bán lẻ tại chi nhánh, tổng doanh thu
từ lãi là phần lãi thu từ khoản vay của các khách hàng, chi phí trả lãi là chi phí mua
vốn từ Hội sở chính (FTP) còn tổng tài sản có sinh lời bình quân là dư nợ tín dụng
bán lẻ bình quân.

Nghĩa là NIM càng cao hoạt động tín dụng bán lẻ càng có hiệu quả.
1.2.2.5 Tính đa dạng của sản phẩm tín dụng bán lẻ
Mức độ đa dạng hoá sản phẩm tín dụng bán lẻ phù hợp với nhu cầu thị trường là
một chỉ tiêu thể hiện sự tập trung phát triển tín dụng bán lẻ, qua đó phản ánh năng lực
cạnh tranh của ngân hàng trong lĩnh vực này. Sự đa dạng hoá sản phẩm cần phải được
thực hiện trong tương quan so với các nguồn lực hiện có của ngân hàng. Nếu không,
việc triển khai quá nhiều sản phẩm có thể làm cho ngân hàng kinh doanh không hiệu
quả do dàn trải nguồn lực quá mức. Tùy theo mục tiêu phát triển trong từng thời kỳ
mà ngân hàng có chiến lược thay đổi cơ cấu sản phẩm tín dụng phù hợp. Sản phẩm
càng đa đạng, ngân hàng càng khai thác được những nhu cầu tiềm năng của khách
hàng, từ đó mở rộng thị phần.
Ngoài ra các ngân hàng đa năng còn chủ động cạnh tranh bằng cách bán chéo
sản phẩm liên quan hỗ trợ tín dụng như bảo hiểm tín dụng, dịch vụ nhà đất (thủ
tục pháp lý sang tên đăng bộ, bảo lãnh thực hiện hợp đồng…) giúp ngân hàng thu
được nhiều lợi nhuận hơn mà cũng tránh bớt rủi ro trong kinh doanh.


17
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển tín dụng bán lẻ của ngân
hàng thương mại
a. Nhân tố khách quan
- Nhân tố xã hội
Những yếu tố xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển tín dụng bán lẻ là các
nhân tố trực tiếp tham gia quan hệ tín dụng. Những xu thế thay đổi về nhân khẩu
học được nghiên cứu bao gồm tổng dân số, tỷ lệ tăng dân số, những thay đổi về cấu
trúc dân số, xu thế di chuyển dân cư... là nguồn số liệu quan trọng. Từ những số liệu
đó, ngân hàng xác định được thị trường tiềm năng của hoạt động tín dụng và năng
lực của ngân hàng mình so với các đối thủ cạnh tranh để chiếm lĩnh từng phân đoạn
thị trường.
Đi cùng với việc tăng trưởng GDP là quá trình đô thị hóa. Xu hướng đô thị
hóa đang làm tăng dân số tại các thành phố lớn một cách nhanh chóng với tốc độ
1% mỗi năm. Việt Nam đang ở trong giai đoạn dân số vàng, tỷ lệ người dân trong
độ tuổi lao động khá lớn, chiếm 65% dân số. Hiện có trên 70% các hộ gia đình ở
thành thị Việt Nam có mức thu nhập bình quân hàng năm trên 50 triệu đồng. Điều
này đồng nghĩa với phân khúc thị trường của tín dụng bán lẻ có xu hướng gia tăng.
- Môi trường chính trị - pháp luật
Kinh doanh ngân hàng là một trong những ngành chịu sự giám sát chặt chẽ
của pháp luật, các quy định của Ngân hàng Nhà nước. Trước hết, có thể kể đến các
chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng mạnh mẽ đến lĩnh vực cho vay, đặc biệt là
các chính sách và các chương trình liên quan đến kinh tế. Chẳng hạn, khi Nhà nước
tăng mức đầu tư cho nền kinh tế cũng như tăng thu hút đầu tư nước ngoài bằng các
chính sách khuyến khích đầu tư (sự đơn giản về thủ tục giấy tờ, ưu đãi thuế…) tất
cả những điều này sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế,
xã hội, GDP sẽ tăng, tỷ lệ thất nghiệp giảm, mức thu nhập cho người lao động tăng,
qua đó làm tăng nhu cầu tiêu dùng và hoạt động kinh doanh.
- Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế bao gồm những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu
nhập, thanh toán, chi tiêu và nhu cầu về vốn của dân cư. Khi nền kinh tế suy
thoái, thu nhập giảm sút, lạm phát và thất nghiệp tăng cao, môi trường kinh


18
doanh không thuận lợi cũng làm ảnh hưởng tới các kế hoạch kinh doanh của
ngân hàng. Mặt khác khi nền kinh tế hưng thịnh, hoạt động sản xuất kinh doanh
phát triển sẽ là cơ hội tốt để thực hiện các hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Xu hướng sử dụng dịch vụ ngân hàng ngày càng nhiều: Với gần 90 triệu dân
nhưng mới có khoảng 17% mở tài khoản tại ngân hàng nhưng tốc độ phát triển dịch
vụ ngân hàng trong vòng 3 năm qua đạt trên 30%/năm. Các loại hình doanh nghiệp,
sản phẩm dịch vụ hỗ trợ cho việc tiêu dùng của người dân gia tăng. Các công ty tài
chính, cho thuê tài chính, ngân hàng phối hợp với các nhà cung cấp, thương mại đẩy
mạnh cung cấp các sản phẩm tín dụng.
- Môi trường công nghệ
Sự ra đời và phát triển của công nghệ hiện đại đã làm thay đổi bộ mặt của
ngành Ngân hàng. Công nghệ mới cho phép Ngân hàng đổi mới không chỉ qui trình
nghiệp vụ mà còn đổi mới cả cách thức phân phối, đặc biệt là phát triển sản phẩm
dịch vụ mới như sự phát triển của mạng lưới máy tính cho phép Ngân hàng cung
cấp dịch vụ ngân hàng. Theo xu hướng phát triển của thời đại thông tin số, các ngân
hàng ngày càng chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin vào đổi mới quy trình
nghiệp vụ và cách thức phân phối. Đặc biệt là phát triển các sản phẩm dịch vụ mới,
có thể kể đến các sản phẩm tín dụng bán lẻ ứng dụng nhiều kỹ thuật sẽ là xu hướng
phát triển trong thời gian tới. Người tiêu dùng ngày càng tiếp cận công nghệ, tỷ lệ
người dùng Internet và di động tại Việt Nam được xếp là một trong những nước có
lượng người sử dụng cao nhất thế giới.
- Môi trường văn hóa - xã hội
Hành vi của khách hàng và cả đối thủ cạnh tranh của ngân hàng bị chi phối
khá nhiều bởi các yếu tố văn hóa. Hành vi tiêu dùng cũng bị chi phối bởi các yếu tố
văn hóa, do đó nó cũng ảnh hưởng đến nhu cầu về các sản phẩm cho vay tiêu dùng
của ngân hàng. Chính vì thế, trình độ văn hóa là một trong những yếu tố được các
nhà kinh doanh ngân hàng nghiên cứu kĩ lưỡng trong chiến lược kinh doanh và áp
dụng các biệ pháp marketing hiện nay.
Các vùng địa lý khác nhau có những đặc điểm văn hoá khác nhau về phong
tục tập quán, cách thức giao tiếp, nhu cầu về hàng hoá dịch vụ nói chung và sản
phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng nói riêng. Chính các điều kiện đó đã hình thành


19
các tụ điểm dân cư, trung tâm thương mại, du lịch, trung tâm sản xuất và ảnh hưởng
đến việc đặt phòng giao dịch hay chi nhánh ngân hàng. Việc ngân hàng mở rộng
mạng lưới ở những vùng dân cư có thu nhập tốt, môi trường kinh tế phát triển là
điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh nói chung và cho vay bán lẻ nói riêng.
- Đối thủ cạnh tranh
Những hoạt động của đối thủ cạnh tranh cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới
hoạt động của Ngân hàng, nhất là khi các Ngân hàng cùng cung cấp một sản phẩm,
cùng hướng vào một đối tượng khách hàng mục tiêu trên cùng địa bàn hoạt động.
Thị trường ngân hàng càng sôi động, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng càng trở nên
gay gắt. Kết quả là ngân hàng càng ngày càng chi nhiều tiền cho các hoạt động
nghiên cứu cấu trúc thị trường và hành vi của các ngân hàng trên thị trường, nghiên
cứu hành vi cụ thể của từng đối thủ cạnh tranh (đối thủ cạnh tranh trực tiếp, đối thủ
cạnh tranh tiềm ẩn..) nhằm có thể chủ động đưa ra một chiến lược cạnh tranh năng
động và hiệu quả.
- Nguồn khách hàng của ngân hàng
Khách hàng là nhân tố quan trọng nhất quyết định sự thành bại của các Ngân
hàng bởi khách hàng vừa tham gia trực tiếp vào quá trình cung ứng sản phẩm dịch
vụ ngân hàng vừa trực tiếp sử dụng hưởng thụ sản phẩm đó. Chính vì vậy, nhu cầu,
mong muốn, và cách thức sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng sẽ là nhân tố ảnh
hưởng quan trọng tới số lượng, kết cấu và cách thức phân phối các sản phẩm dịch
vụ. Nhiệm vụ quan trọng của ngân hàng là phải nghiên cứu phân tích tìm hiểu nhu
cầu mong muốn của khách hàng để xác định rõ từng đối tượng họ đang tìm kiếm
những gì từ phía ngân hàng.Chú ý tới những khách hàng tiềm năng đánh giá những
ưu việt về dịch vụ của ngân hàng mình so với ngân hàng cạnh tranh.
b. Nhân tố chủ quan
- Chính sách cho vay và các sản phẩm tín dụng bán lẻ của NHTM
Nếu việc phát triển và đa dạng hoá hoạt động tín dụng không nằm trong chính
sách phát triển của ngân hàng hoặc chủ trương của ngân hàng không đẩy mạnh phát
triển hoạt động tín dụng thì các khách hàng khó có thể vay được những khoản tiền
đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình hoặc nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất kinh
doanh. Ngược lại, khi ngân hàng xác định hoạt động tín dụng bán lẻ là một hướng


20
để phát triển kinh doanh thì ngân hàng sẽ đề ra chính sách để đẩy mạnh hoạt động
này như chính sách lãi suất, tỷ lệ tài sản đảm bảo, đơn giản thủ tục vay vốn, điều
kiện vay vốn...Thường xuyên nghiên cứu để nắm bắt nhu cầu khách hàng từ đó cho
ra được những sản phẩm đa dạng cho khách hàng lựa chọn sử dụng.
- Quy mô vốn và khả năng phát triển của ngân hàng
Đối tượng kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ nên quy mô vốn và tình hình tài
chính của một ngân hàng đóng vai trò quan trọng. Quy mô vốn càng lớn, các chỉ
tiêu tài chính trên các báo cáo càng lành mạnh thì càng tạo tâm lý yên tâm cho
khách hàng. Hơn nữa, việc phát triển các sản phẩm dịch vụ tín dụng, ứng dụng công
nghệ vào hoạt động cho vay… luôn gắn liền với việc đầu tư mua sắm thiết bị mới,
phần mềm mới…Giá trị các khoản đầu tư này thường khá lớn nên với các ngân
hàng có quy mô nhỏ thì không thể thực hiện nổi. Vậy, với quy mô vốn lớn ngân
hàng không những tạo cho mình thế chủ động trước mọi hoạt động mà còn tạo cho
mình khả năng đứng vững trước các đối thủ cạnh tranh.
- Hoạt động marketing Ngân hàng
Với các thông tin thu thập được, bộ phận này sẽ tổng hợp, phân tích, đưa ra kết
luận về vấn đề nghiên cứu, các hướng giải quyết nhằm đạt được mục tiêu: thu hút
ngày càng nhiều khách hàng, chiếm lĩnh được thị phần cao trên thị trường, đạt được
lợi nhuận cao, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, hoàn thành tốt kế hoạch của
Ban giám đốc, mục tiêu hội đồng cổ đông đề ra…
- Trình độ đội ngũ cán bộ
Trước hết, với cán bộ quản lý thì đòi hỏi phải là người có chuyên môn giỏi, có
khả năng phân tích, phán đoán, là người chịu trách nhiệm đầu tiên về khả năng cạnh
tranh của ngân hàng. Bên cạnh đó, do đặc thù riêng của việc mở rộng hoạt động cho
vay lại phụ thuộc lớn vào trình độ của cán bộ. Cán bộ tín dụng trực tiếp tiếp xúc với
khách hàng qua quá trình giao dịch, đề xuất các ý tưởng cải tiến sản phẩm hoặc
cung cấp dịch vụ. Chính vì thế, ban lãnh đạo cần có chính sách khơi dậy năng lực
lao động, sáng tạo cho đội ngũ cán bộ tín dụng, đặc biệt phát huy hiệu quả của
chính sách khen thưởng, động viên thỏa đáng đối với nhân viên có thái độ phục vụ
tốt và thu hút được nhiều khách hàng cho ngân hàng.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×