Tải bản đầy đủ

Quản lý phát triển du lịch huyện Ba Vì, Hà Nội

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------

TRẦN ĐỨC THỊNH

QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
HUYỆN BA VÌ, HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ


2

HÀ NỘI, NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------


TRẦN ĐỨC THỊNH

QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
HUYỆN BA VÌ, HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 60 34 04 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN THỊ BÍCH HẰNG


3

HÀ NỘI, NĂM 2016


4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ sinh tế “Quản lý phát triển du lịch huyện
Ba Vì, Hà Nội” là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện
trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu tình hình thực tiễn, dưới sự hướng dẫn
khoa học của TS. Trần Thị Bích Hằng.
Các số liệu, mô hình và những dữ liệu sử dụng trong luận văn là trung thực;
các giải pháp, đề xuất đưa ra xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu, chưa từng được
công bố dưới bất cứ hình thức nào trước khi trình bày, bảo vệ và công nhận bởi Hội
đồng đánh giá luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ kinh tế.
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên.
Cao học viên

Trần Đức Thịnh


5
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được đề tài luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm hướng
dẫn, giúp đỡ của nhiều cá nhân, tập thể trong và ngoài trường.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn TS.Trần Thị Bích Hằng, người hướng


dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm
luận văn.
Tôi xin cảm ơn Ban lãnh đạo, nhân viên phòng ban của Sở Du lịch Hà Nội,
UBND huyện Ba Vì đã cung cấp cho tôi những thông tin, tư liệu quý giá và những
đóng góp xác đáng, hết sức quý báu để tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo Trường Đại học
Thương mại, khoa Sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học
tập và nghiên cứu để hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ Quản lý kinh tế.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, các đồng nghiệp, bạn bè đã tạo điều kiện
giúp đỡ, động viên, khuyến khích tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập.
Do những hạn chế về chủ quan và khách quan, đề tài nghiên cứu không tránh
khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những nhận xét góp ý của quý thầy cô
và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn, sâu sắc hơn và có tính khả thi hơn nữa.
Cuối cùng tôi xin gửi lời chúc sức khỏe, hạnh phúc, kính chúc quý Thầy, Cô
thành công trong sự nghiệp cao quý.
Tôi xin chân thành cảm ơn!


6
MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
ANTT
CNH-HĐH
CSHT
CSLT
CSVCKT
DNDL
DVLT
HĐDL
HĐND
KDDL
KHCN
KT-XH
QLNN
PTDL
TNDL
UBND
VHTTDL

Nghĩa của từ viết tắt
An ninh trật tự
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Cơ sở hạ tầng
Cơ sở lưu trú
Cơ sở vật chất kỹ thuật
Doanh nghiệp du lịch
Dịch vụ lưu trú
Hoạt động du lịch
Hội đồng nhân dân
Kinh doanh du lịch
Khoa học công nghệ
Kinh tế - xã hội
Quản lý Nhà nước
Phát triển du lịch
Tài nguyên du lịch
Ủy ban nhân dân
Văn hóa, Thể thao và Du lịch


7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
ST
T

Số bảng

1

Hình 2.1

2

Hình 2.2

3

Hình 2.3

Tên bảng

Trang

Cây đa làng Rùa, xã Vân Hòa, Ba Vì, một trong
những cây đa cổ, lớn và có dáng đẹp nhất nước ta
Cây gạo Hoàng Hậu, một trong những cây gạo cổ bên

32

sông Đà (gốc to 10 người ôm) xã Thuần Mỹ, Ba Vì
Tính bất đối xứng của sườn: sườn tây dốc, hoạt động

32

đổ lở mạnh; sườn đông thoải hơn - kết quả của hoạt

33

động bóc mòn chọn lọc trên cấu trúc địa chất cổ
Cơ cấu khách du lịch đến Ba Vì giai đoạn 2011-

4

Bảng 2.1

5

Bảng 2.2 Hiện trạng cơ sở lưu trú trên địa bàn huyện Ba Vì

6

Bảng 2.3

2015

35
36

Kết quả hoạt động du lịch huyện Ba Vì giai đoạn
2011-2015

37


8
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Trong xu hướng toàn cầu hóa hội nhập kinh tế quốc tế diễn
ra mạnh mẽ đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch phát
triển nhanh chóng và trở thành một trong những lĩnh vực kinh tế
hàng đầu của thế giới. Du lịch đã tạo nên những thay đổi to lớn
trong cơ cấu kinh tế của nhiều quốc gia, những khoản thu nhập với
lợi thế hơn hẳn các ngành trọng yếu khác, đặc biệt là khoản thu
ngoại tệ. Nhận thức sâu sắc vấn đề này, các quốc gia trên thế giới
đã đầu tư thích đáng cho sự phát triển của ngành du lịch.
Đối với Việt Nam, ngành du lịch đã có nhiều khởi sắc, thay
đổi diện mạo và từng bước khẳng định tầm vóc của ngành trong
nền kinh tế quốc dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH),
đóng góp tích cực hơn cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại
hóa (CNH-HĐH) của đất nước, thúc đẩy giao lưu văn hóa làm cho
nhân dân thế giới hiểu biết thêm về đất nước, con người Việt Nam.
Chính vì vậy, những năm qua Đảng và Nhà nước ta có sự quan tâm
đặc biệt đến ngành "công nghiệp không khói" này. Công tác QLNN
(QLNN) đối với phát triển ngành du lịch luôn được tăng cường, đổi
mới, từng bước hoàn thiện để phù hợp với điều kiện PTDL trong
giai đoạn hiện nay.
Ba Vì nằm ở phía tây bắc của Hà Nội, có địa hình phân cấp rõ
rệt, từ núi đồi, trung du đến đồng bằng. Nằm trong khúc quanh
của sông Hồng và sông Đà. Thiên nhiên nơi đây rất phong phú với
nhiều cảnh sắc ngoạn mục. Dải non xanh nước biếc này còn hội đủ
những giá trị lịch sử, văn hóa, tâm linh độc đáo, từ lâu đời được coi
là vùng đất mang hồn thiêng sông núi nước Việt. Vùng núi Ba Vì
không những là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa về địa mạo, địa
chất, về hệ động thực vật phong phú và quý hiếm mà còn là một
vùng văn hóa cổ đặc sắc của Việt Nam.
Với những giá trị và lợi thế như vậy, Ba Vì đặc biệt chú ý khai
thác tiềm năng về du lịch - dịch vụ. Có lẽ hiếm ở nơi đâu, những
cảnh sắc sông nước, núi non, rừng già lại quyện hòa, gắn bó với


9
nhau như ở đây. Đã từ lâu, Ba Vì được coi là huyện du lịch, như khu
vực sườn Đông núi Ba Vì, có thác, có suối, có rừng nguyên sinh đẹp
và thơ mộng là tiềm năng lớn cho PTDL sinh thái. Nơi đây còn có
những di tích văn hóa, lịch sử như đền thờ Bác Hồ, đền Thượng,
đền Trung... rất thuận lợi cho việc PTDL. Cùng với đó công tác quản
lý PTDL được Đảng bộ và chính quyền huyện Ba Vì luôn quan tâm
củng cố thường xuyên, từng bước hoàn thiện. Do đó, du lịch Ba Vì
thời gian qua đã có nhiều đóng góp tích cực cho sự phát triển KTXH của huyện nói riêng và của thành phố nói chung.
Tuy nhiên, công tác quản lý PTDL ở Ba Vì còn những hạn chế
nhất định. Các ban, ngành và các cấp trong Huyện chưa quan tâm
đúng mức tới việc tạo môi trường thuận lợi cho du lịch phát triển,
chưa khơi dậy được tiềm năng và chưa huy động được các thành
phần kinh tế tham gia PTDL. Cơ chế, chính sách về thị trường du
lịch có mặt chưa đồng bộ và nhất quán, do đó tốc độ tăng trưởng
và PTDL Ba Vì những năm qua còn chậm, chưa tương xứng với
tiềm năng và thế mạnh sẵn có. Vì vậy, công tác quản lý PTDL Ba Vì
cần được đổi mới một cách toàn diện, để đáp ứng yêu cầu phát
triển KT-XH của Huyện, góp phần tạo ra sự phát triển nhanh và bền
vững của du lịch Ba Vì trong thời gian tới.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Quản lý
phát triển du lịch huyện Ba Vì, Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ
quản lý kinh tế góp phần giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề quản lý PTDL ở phạm vi cả nước nói chung và của
từng địa phương nói riêng là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều
nhà khoa học. Cho đến thời điểm hiện nay, đã có một số công trình
khoa học tiêu biểu như sau:
- Nguyễn Thị Thanh Hiền (1995), QLNN về du lịch trong giai
đoạn phát triển mới của nền kinh tế Việt Nam, Luận văn thạc sĩ
khoa học kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Luận
văn đã phân tích đặc điểm, vai trò của ngành du lịch trong giai
đoạn đầu phát triển nền kinh tế thị trường Việt Nam, đánh giá thực
trạng QLNN về du lịch nói chung và đề xuất những giải pháp nhằm


10
góp phần nâng cao hiệu lực QLNN về du lịch ở nước ta [8].
- Trịnh Đăng Thanh (2004), QLNN bằng pháp luật đối với
HĐDL ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Luận án đã đưa ra cơ sở lý luận về sự cần
thiết phải QLNN bằng pháp luật đối với hoạt du lịch; phân tích,
đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện
QLNN bằng pháp luật đối với HĐDL của nước ta trước yêu cầu mới
[13].
- Nguyễn Minh Đức (2007), QLNN đối với hoạt động thương
mại, du lịch Tỉnh Sơn La trong quá trình CNH-HĐH, Luận án tiến sĩ
kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Đây là một công
trình nghiên cứu QLNN đối với hoạt động thương mại, du lịch ở một
địa phương cụ thể. Luận án đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn
nhằm làm rõ chức năng, nhiệm vụ, đề xuất quan điểm và giải pháp
nhằm góp phần đổi mới và nâng cao QLNN về thương mại, du lịch
ở Tỉnh Sơn La [7].
- Nguyễn Thị Thanh Nga (2012), Hoàn thiện công tác QLNN
về du lịch trên địa bàn Tỉnh Bình Định, Luận văn thạc sĩ kinh tế,
Đại học Đà Nẵng. Luận văn đã hệ thống hóa và làm rõ những vấn
đê lý luận về QLNN đối với du lịch, cũng như phân tích thực trạng
QLNN trên địa bàn Tỉnh Bình Định, trong đó nêu lên những kết quả
đạt được, những hạn chế, nguyên nhân, từ đó đưa ra được những
giải pháp chủ yếu để hoàn thiện QLNN đối với du lịch Tỉnh Bình
Định [9].
- Nguyễn Thị Vân Anh (2014), QLNN đối với hoạt động KDDL
trên địa bàn Hà Nội, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Thương Mại.
Luận văn đã đề cập đến một số vấn đề lý luận cơ bản về QLNN đối
với hoạt động KDDL của địa phương, đã phân tích thực trạng QLNN
đối với hoạt động KDDL trên địa bàn Hà Nội để từ đó đưa ra các
giải pháp và kiến nghị hoàn thiện QLNN đối với hoạt động KDDL
trên địa bàn Hà Nội [1].
Ngoài ra, còn một số bài viết liên quan đến vấn đề PTDL và
QLNN về du lịch tiêu biểu như:
- Nguyễn Minh Đức (2006), QLNN đối với hoạt động thương


11
mại, du lịch, Tạp chí QLNN, số 132 [6].
- Trần Xuân Ảnh (2007), Giải pháp tăng cường QLNN về thị
trường du lịch, Tạp chí tài chính, ngày 03/4/2014 [2].
- Võ Thị Thắng (2001), Tăng cường QLNN để du lịch Việt Nam
phát huy vai trò ngành kinh tế mũi nhọn, Tạp chí QLNN, số 7[14].
Ba bài viết trên đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về
Quản lý PTDL cũng như đã đưa ra được những giải pháp, kiến nghị
nhằm tăng cường công tác QLNN về du lịch, về PTDL ở nước ta.
Tại Ba Vì, đề tài HĐDL gần đây cũng đã được nghiên cứu
trong Luận văn thạc sĩ Kinh tế chính trị của Chu Thanh Ngân
(2013), Phát triển kinh tế du lịch ở Ba Vì – Hà Nội [10]. Luận văn đã
nêu lên được thực trạng phát triển kinh tế du lịch ở Ba Vì thời gian
qua, cũng như những định hướng, giải pháp để phát triển kinh tế
du lịch ở Ba Vì.
Như vậy, cho đến thời điểm hiện nay, chưa có công trình
nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu về
“Quản lý phát triển du lịch huyện Ba Vì, Hà Nội”. Chính vì vậy, đề
tài luận văn của em có tính mới, không trùng lắp với các công trình
nghiên cứu nói trên. Đề tài của em sẽ kế thừa và phát triển các
vấn đề lý luận của các công trình nghiên cứu trước đây để nghiên
cứu thực trạng và đề xuất giải pháp, kiến nghị hoàn thiện Quản lý
phát triển du lịch huyện Ba Vì.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Đề tài hướng tới mục tiêu đề xuất được một số giải pháp và
kiến nghị hoàn thiện quản lý PTDL huyện Ba Vì, Hà Nội nhằm góp
phần thúc đẩy PTDL huyện Ba Vì nói riêng và du lịch Hà Nội Nói
chung.
Để giải quyết được mục tiêu nghiên cứu nói trên, đề tài cần
phải thực hiện được 3 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý PTDL
tại điểm đến du lịch.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý PTDL huyện Ba Vì, Hà


12
Nội những năm qua; từ đó nhận định những thành công, hạn chế
đồng thời xác định nguyên nhân của những thành công, hạn chế
trong quản lý PTDL huyện Ba Vì, Hà Nội.
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị thiết thực, có tính
khả thi nhằm hoàn thiện quản lý PTDL huyện Ba Vì, Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý PTDL tại điểm đến
du lịch, cụ thể là huyện Ba Vì, Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Về nội dung: Quản lý phát triển du lịch là một nội dung khá
lớn và phức tạp. Trong đề tài giới hạn nghiên cứu các vấn đề lý
luận và thực tiễn liên quan đến nội dung quản lý PTDL tại điểm
đến du lịch, không nghiên cứu phương pháp và công cụ quản lý
PTDL tại điểm đến du lịch. Các nội dung bao gồm: (1) Xây dựng và
tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch và chính sách PTDL; (2) Xây
dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật
trong HĐDL; (3) Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và
thông tin về du lịch; (4) Tổ chức, quản lý đào tạo nguồn nhân lực
và nghiên cứu, ứng du lịch KHCN vào PTDL; phục vụ PTDL; (5) Tổ
chức điều tra và đánh giá TNDL; (6) Tổ chức hợp tác quốc tế và
xúc tiến du lịch trong và ngoài nước; (7) Tổ chức bộ máy QLNN về
du lịch và phối hợp giữa các cơ quan QLNN trong việc quản lý PTDL;
(8) Quản lý cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về HĐDL; và (9)
Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm
pháp luật về du lịch.
- Về không gian: Đề tài giới hạn nghiên cứu tại huyện Ba Vì,
Hà Nội.
- Về thời gian: Đề tài giới hạn sử dụng dữ liệu thứ cấp nghiên
cứu thực trạng trong 5 năm gần đây (2011-2015) và kết hợp sử
dụng dữ liệu sơ cấp nghiên cứu thực trạng được khảo sát và phỏng
vấn vào thời điểm đầu năm 2016. Đề tài định hướng đề xuất giải
pháp và kiến nghị hoàn thiện quản lý PTDL huyện Ba Vì, Hà Nội
đến năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài


13
5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
Đề tài sử dụng cả dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Trong đó:
- Dữ liệu thứ cấp được thu thập bao gồm những vấn đề lý luận
chung về quản lý PTDL tại điểm du lịch; đặc điểm HĐDL của huyện
Ba Vì, Hà Nội; các nội dung xây dựng quy hoạch, chính sách, văn bản
pháp luật về HĐDL; công tác đào tạo nguồn nhân lực, hợp tác và xúc
tiến du lịch;… của huyện Ba Vì, Hà Nội. Những dữ liệu này được kế
thừa từ các sách, giáo trình, công trình nghiên cứu khác đã được
công bố, được trích từ website và được xin Phòng Văn hóa – Thông
tin huyện Ba Vì, Sở Du lịch Hà Nội,…
- Dữ liệu sơ cấp được thu thập bằng phương pháp khảo sát như
sau: Tiến hành khảo sát cán bộ Sở Du lịch Hà Nội, cán bộ QLNN về
du lịch của Ba Vì, các lãnh đạo DNDL trên địa bàn thông qua việc xây
dựng phiếu khảo sát dưới dạng câu hỏi đóng và mở đi sâu vào các
vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu là công tác quản lý PTDL ở
huyện Ba Vì (Phụ lục 1); sau đó tiến hnh thu thập lại các phiếu khảo
sát đã phát ra, tổng hợp các câu trả lời, tính toán phần trăm các ý
kiến trên tổng số lượng phiếu trả lời (Phụ lục 2); số liệu tổng hợp
được sẽ là cơ sở dữ liệu hữu ích giúp cho việc đánh giá thực trạng
quản lý PTDL hiện nay của huyện Ba Vì. Ngoài ra, quá trình nghiên
cứu đề tài cũng đã tiến hành phỏng vấn một số chuyên gia trong lĩnh
vực du lịch; các cán bộ, lãnh đạo quản lý du lịch của Huyện trong
việc hoạch định, xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách, kế
hoạch PTDL du lịch, các văn bản quy phạm pháp luật trong HĐDL
cũng như công tác xúc tiến du lịch của Huyện; lấy đó làm cơ sở phân
tích xem có phù hợp với thực trạng PTDL hiện nay của Huyện không.
5.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
- Phương pháp thống kê: đề tài sử dụng phần mềm excel để
thống kê các kết quả khảo sát DNDL và khách du lịch.
- Phương pháp tổng hợp: đề tài đã sử dụng phương pháp này
để tổng hợp các kết quả quan sát, phỏng vấn, tổng hợp các ý kiến
đánh giá trên phiếu khảo sát, các tài liệu thu thập được từ nhiều
nguồn để đưa ra các kết luận, đánh giá phục vụ cho mục đích nghiên
cứu của đề tài.


14
- Phương pháp so sánh: phương pháp này được sử dụng nhằm
so sánh các chỉ tiêu kết quả hoạt động kinh doanh, nguồn lực HĐDL,
… của huyện Ba Vì, Hà Nội.
- Phương pháp phân tích: từ các kết quả thống kê, tổng hợp, so
sánh, đề tài đã sử dụng phương pháp này để phân tích các nội dung
quản lý PTDL huyện Ba Vì, Hà Nội.
- Phương pháp đánh giá: phương pháp này được sử dụng nhằm
đánh giá thực trạng quản lý PTDL huyện Ba Vì, Hà Nội. Đề tài đã
mạnh dạn đưa ra những nhận định về thành công, hạn chế của quản
lý PTDL huyện Ba Vì, Hà Nội; đồng thời đánh giá các nguyên nhân
dẫn đến những thành công và hạn chế nói trên.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về khoa học: Đề tài đã góp phần hệ thống hóa và sáng tỏ
thêm một số vấn đề lý luận cơ bản về PTDL, nội dung quản lý PTDL
tại điểm đến du lịch; các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý PTDL của
điểm đến du lịch.
Về thực tiễn: Đề tài làm tài liệu giá trị cho công tác giảng
dạy, học tập của các giáo viên, cao học viên và sinh viên các
trường đại học, cao đẳng khối kinh tế và quản trị kinh doanh. Kết
quả nghiên cứu của đề tài còn là tài liệu có ý nghĩa cho các cơ
quan QLNN về du lịch của Hà Nội nói chung và huyện Ba Vì nói
riêng. Các cơ quan QLNN về du lịch có thể vận dụng hoạch định và
tổ chức thực hiện, góp phần PTDL trên địa bàn huyện Ba Vì, Hà
Nội.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời cam đoan, lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng
biểu, danh mục sơ đồ hình vẽ, phần mở đầu, kết luận, danh mục
tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được
kết cấu làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý phát triển
du lịch tại điểm đến du lịch
Chương 2: Thực trạng quản lý phát triển du lịch huyện Ba Vì,
Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị hoàn thiện quản lý


15
phát triển du lịch huyện Ba Vì, Hà Nội.

CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ
PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM, ĐỊNH NGHĨA CƠ BẢN
1.1.1. Du lịch và hoạt động du lịch
1.1.1.1. Khái niệm du lịch
HĐDL đã có từ lâu trong lịch sử phát triển của loài người.
Những năm gần đây, du lịch phát triển nhanh ở nhiều nước trên
thế giới. Đối với nhiều quốc gia, du lịch trở thành ngành kinh tế
quan trọng, nguồn thu ngoại tệ lớn.
Tuy nhiên, khái niệm "Du lịch" được hiểu rất khác nhau bởi
nhiều lẽ như:
Xuất phát từ ngữ nghĩa của từ "Du lịch" được dùng ở mỗi
nước. Trong ngôn ngữ tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga sử
dụng các từ Tourism, Le Toursime, Typuzm. Do đó "du lịch" có
nghĩa là: khởi hành, đi lại, chinh phục không gian. Ở Đức sử dụng
từ Derfremdenverkehrs có nghĩa là lạ, đi lại và mối quan hệ. Do
đó, ở Đức nhìn nhận du lịch là mối quan hệ, vận động đi tới các
vùng, địa danh khác lạ của người đi du lịch.
Xuất phát từ các đối tượng và nhiệm vụ khác nhau của các
đối tượng đó khi tham gia vào HĐDL. Đối với người đi du lịch thì
đó là cuộc hành trình và lưu trú ở một địa danh ngoài nơi cư trú
thường xuyên nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của
mình. Đối với các chủ cở sở KDDL thì đó là quá trình tổ chức các


16
điều kiện sản xuất, dịch vụ phục vụ người đi du lịch nhằm đạt lợi
nhuận tối đa. Đối với chính quyền địa phương có địa danh du lịch,
thì đó là việc tổ chức các điều kiện về CSHT, cơ sở vật chất, kỹ
thuật để phục vụ du khách; tổ chức các hoạt động kinh doanh đa
dạng giúp đỡ việc lưu trú, việc hành trình của du khách; tổ chức
tiêu thụ sản phẩm sản xuất tại địa phương, tăng nguồn thu cho
dân cư, cho ngân sách, nâng cao mức sống của dân cư; tổ chức
các hoạt động quản lý hành chính nhà nước bảo vệ môi trường tự
nhiên, xã hội của vùng v.v..
Xuất phát từ quan niệm và giác độ quan tâm của những
người đưa ra định nghĩa: Quan tâm đến cung du lịch, GS.TS
Hunziker cho rằng: "Du lịch là tập hợp cácmối quan hệ, hiện
tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những
người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú
thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời" quan
niệm này đã bao quát nội dung du lịch nhưng lại thiếu phân loại cụ
thể các mối quan hệ và chưa quan tâm đầy đủ đến các hoạt động
tổ chức du lịch và sản xuất hàng hoá và dịch vụ đáp ứng cầu của
du khách.
Trong Luật du lịch do Quốc Hội nước Cộng Hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp lần thứ 7 thông qua ngày
14/6/2005 đưa ra định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên
quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên
của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ
dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. [11, tr.6]
Theo định nghĩa trên, có thể rút ra những luận điểm cơ bản
về du lịch như sau:
- Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường
xuyên.
- Chuyến du lịch ở nơi đến mang tính tạm thời, trong một thời
gian ngắn.
- Mục đích của chuyến du lịch là thỏa mãn nhu cầu tham
quan, nghỉ dưỡng hoặc kết hợp đi du lịch với giải quyết những
công việc của cơ quan và nghiên cứu thị trường, nhưng không vì


17
mục đích định cư hoặc tìm kiếm việc làm để nhận thu nhập nơi
đến viếng thăm.
- Du lịch là thiết lập các quan hệ giữa khách du lịch với nhà
cung ứng các dịch vụ du lịch, chính quyền địa phương và dân cư ở
địa phương.
Trên cơ sở nhu cầu trên thị trường, khả năng khai thác và các
điều kiện PTDL, người ta thường kết hợp các yếu tố này với nhau
để xác định các loại hình du lịch. Việc phân loại các loại hình du
lịch căn cứ vào những tiêu thức cơ bản như sau:
Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ: Du lịch được chia ra làm 3 loại
hình là du lịch nội địa, du lịch quốc tế, du lịch quốc gia.
Căn cứ vào đặc điểm địa lý của điểm du lịch: Du lịch được
chia làm 4 loại hình là du lịch miền biển, du lịch núi, du lịch đô thị,
du lịch thôn quê.
Căn cứ vào mục đích của chuyến đi du lịch: Du lịch được chia
làm 10 loại hình là du lịch thiên nhiên, du lịch văn hóa, du lịch xã
hội, du lịch hoạt động, du lịch giải trí, du lịch thể thao, du lịch
chuyên đề, du lịch tôn giáo, du lịch sức khỏe và du lịch dân tộc
học.
Ngoài ra, có thể phân chia loại hình du lịch theo một số tiêu
thức phân loại khác.
1.1.1.2. Khái niệm hoạt động du lịch
Trong Luật du lịch do Quốc Hội nước Cộng Hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp lần thứ 7 thông qua ngày
14/6/2005 đưa ra định nghĩa: “HĐDL là hoạt động của khách du
lịch, tổ chức, cá nhân KDDL, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan đến du lịch.”. [11, tr.6]
HĐDL có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế
phát triển, những lợi ích mà HĐDL đem lại rất to lớn, cụ thể như
sau:
- Thông qua HĐDL, đông đảo quần chúng nhân dân có điều
kiện tiếp xúc với những thành tựu văn hóa phong phú và lâu đời
của các dân tộc. Làm lành mạnh nền văn hóa địa phương, đổi mới
truyền thống cổ xưa, phục hồi ngành nghề truyền thống, bảo vệ


18
vùng sinh thái. Từ đó hiểu biết thêm những yếu tố văn minh của
nhân loại nhằm nâng cao dân trí, tăng thêm lòng yêu nước, tinh
thần đoàn kết quốc tế, hình thành những phẩm chất đạo đức tốt
đẹp trong nhân dân… Điều này quyết định sự phát triển cân đối
về nhân cách của mỗi cá nhân trong toàn xã hội.
- HĐDL làm tăng khả năng lao động, trở thành nhân tố quan
trọng để đẩy mạnh sản xuất xã hội và nâng cao hiệu quả của nó
- HĐDL góp phần giải quyết vấn đề lao động và việc làm, có
nghĩa là làm giảm tỷ lệ thất nghiệp.
- Các HĐDL là cơ sở quan trọng kích thích sự phát triển kinh
tế, là nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước.
- HĐDL đóng vai trò như một nhân tố củng cố hòa bình, đẩy
mạnh giao lưu quốc tế, giúp cho nhân dân các nước hiểu biết thêm
về đất nước, con người, lịch sử truyền thống dân tộc, qua đó tranh
thủ sự đoàn kết giúp đỡ của các nước.
- Ngoài ra du lịch còn giúp cho việc khai thác, bảo tồn các di
sản văn hóa của dân tộc có hiệu quả, góp phần bảo vệ và phát
triển môi trường thiên nhiên xã hội.
Như vậy, HĐDL ở đây được tiếp cận bao gồm các dịch vụ
trực tiếp và gián tiếp cho du lịch. Ở một chừng mực nhất định,
HĐDL có thể được coi đồng nghĩa với khái niệm ngành du lịch.
1.1.2. Điểm đến du lịch
1.1.2.1. Khái niệm điểm đến du lịch
Khi nói đến HĐDL tức là nói đến hoạt động rời khỏi nơi cư trú
thường xuyên để đến một nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu theo
những mục đích khác nhau. Địa điểm mà khách du lịch lựa chọn
trong chuyến đi có thể là một địa danh cụ thể, một khu vực, một
vùng lãnh thổ, một quốc gia, thậm chí là châu lục. Trong các tài
liệu khoa học về du lịch, các địa điểm này được gọi chung là điểm
đến du lịch.
Trên phương diện địa lý, điểm đến du lịch được xác định theo
phạm vi không gian lãnh thổ. Điểm đến du lịch là một vị trí địa lý
mà một du khách đang thực hiện hành trình đến đó nhằm thỏa
mãn nhu cầu theo mục đích chuyến đi của người đó.Với quan niệm


19
này, điểm đến du lịch vẫn chưa định rõ còn mang tính chung
chung, nó chỉ xác định vị trí địa lý phụ thuộc vào nhu cầu của
khách du lịch, chưa xác định được các yếu tố nào tạo nên điểm
đến du lịch.
Xem xét trong mối quan hệ kinh tế du lịch, điểm đến du lịch
được hiểu là yếu tố cung du lịch. Sở dĩ như vậy là do chức năng
của điểm đến chính là th mãn nhu cầu mang tính tổng hợp của
khách du lịch. Suy cho cùng, điểm đến du lịch là yếu tố hấp dẫn du
khách, thúc đẩy sự thăm viếng và từ đó làm tăng sức sống cho
toàn bộ hệ thống du lịch. Cho nên xét trên nhiều phương diện,
điểm đến du lịch là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống du lịch.
1.1.2.2. Phân loại điểm đến du lịch
Điểm đến du lịch có ý nghĩa khác nhau trong mỗi chuyến
hành trình của du khách. Trong chuyến hành trình của mình, du
khách có thể dừng lại ở điểm đến này lâu hơn điểm đến kia. Khi
xem xét vị trí của từng điểm đến trong chuyến đi của khách, người
ta chia điểm đến du lịch thành 2 loại:
- Điểm đến cuối cùng
Điểm đến cuối cùng thường là điểm xa nhất tính từ điểm xuất
phát gốc của du khách hoặc là địa điểm mà khách

dự định sử

dụng phần lớn thời gian.
Trong chuyến hành trình của khách du lịch, điểm đến cuối
cùng có thể được xem là điểm đến quan trọng và hấp dẫn nhất đối
với họ. Thường những điểm đến này có sự kết hợp của các yếu tố
một cách hợp lý, đa dạng thỏa mãn tốt nhu cầu của khách. Khách
du lịch dùng phần lớn thời gian ở đây có nghĩa là họ sẽ sử dụng
dịch vụ nhiều hơn và chi tiêu nhiều hơn đem lại lợi ích đáng kể cho
điểm đến du lịch.
- Điểm đến trung gian
Điểm đến trung gian hoặc điểm ghé thăm là địa điểm khách
dành thời gian ngắn hơn để nghỉ ngơi qua đêm hoặc thăm viếng
một điểm hấp dẫn du lịch. Các điểm đến trung gian này cũng có
vai trò trong việc giúp khách có chỗ dừng chân hợp lý trong những
chuyến hành trình dài. Khách du lịch cũng có thể tham quan du lịch


20
tại các điểm đến này nhưng thường ít sử dụng dịch hơn.
1.1.3. Phát triển du lịch
1.1.3.1. Quan niệm về phát triển du lịch
PTDL là sự gia tăng sản lượng và doanh thu cùng mức độ đóng
góp của ngành du lịch cho nền kinh tế, đồng thời có sự hoàn thiện
về mặt cơ cấu kinh doanh, thể chế và chất lượng kinh doanh của
ngành du lịch. Phát triển du

có thể được nhận thức đầy đủ khi

nghiên cứu 5 nội dung sau:
Thứ nhất, là sự tăng trưởng. Những chỉ tiêu quan trọng nhất
thể hiện sự tăng trưởng là: Mức gia tăng lượng khách du lịch; Mức
tăng thu nhập từ du lịch; Mức tăng quy mô CSVCKT; số lượng việc
làm tăng thêm từ PTDL.
Thứ hai, mức độ thay đổi phương thức tiến hành các HĐDL
theo hướng ngày càng hiện đại và hiệu quả đem lại từ các HĐDL
đó. Cụ thể là những sản phẩm du lịch, những hướng phát triển
hiệu quả có tốc độ phát triển nhanh, những công nghệ, phương
thức phục vụ hiện đại có năng suất cao được chú trọng phát triển;
CSHT cho PTDL được đầu tư có hiệu quả bảo đảm sự phát triển có
tính bền vững cao.
Thứ ba, mức độ và chất lượng tham gia của du khách, dân
cư và chính quyền địa phương cũng như các nhà KDDL và quá
trình phát triển ngày càng tự giác, tích cực trên cơ sở tinh thần
cộng đồng và sự hài hòa về lợi ích.
Thứ tư, PTDL hiện tại không làm tổn hại đến khả năng
hưởng thụ du lịch của các thế hệ tương lai.
Thứ năm, PTDL phải bảo đảm sự hài hoà giữa 3 mục tiêu:
kinh tế - xã hội và môi trường. Về kinh tế phải bảo đảm duy trì
nhịp tăng trưởng theo thời gian và sự tăng trưởng phải dựa trên cơ
sở tăng năng suất lao động và hiệu quả cao chứ không phải chỉ
dựa trên sự gia tăng của các yếu tố đầu vào. Về mặt xã hội, ít
nhất phải được hiểu trên cơ sở quan điểm toàn diện và bình đẳng
giữa những người, giữa các bên tham gia vào quá trình HĐDL
không phải chỉ là thu nhập và trên tất cả các phương diện khác.
Tiếp đến phải quan tâm đến sự bình đẳng giữa các thế hệ. Mở


21
rộng cơ hội lựa chọn hưởng thụ các sản phẩm du lịch của thế hệ
hôm nay, nhưng không làm tổn hại đến cơ hội lựa chọn của thế hệ
mai sau. Về mặt môi trường, chứa đựng tư tưởng cơ bản sau: các
quyết định khai thác TNDL đặc biệt là tài nguyên thiên nhiên phải
bảo tồn, tái sinh các hệ sinh thái, bảo đảm chất lượng môi trường
cho hiện tại và cho tương lai; bảo đảm sự phối hợp giữa các hoạt
động KDDL với các hoạt động kinh tế, xã hội khác.
1.1.3.2. Nội dung phát triển du lịch tại điểm đến du lịch
Để PTDL của địa phương cần phải phát triển nhu cầu du lịch,
khả năng cung du lịch và tạo lập môi trường cho PTDL.
Phát triển nhu cầu du lịch bao gồm nội dung nâng cao nhận
thức của du khách đối với loại hình du lịch và thúc đẩy du khách
lựa chọn các chương trình du lịch, các điểm tham quan du lịch tại
điểm đến du trong chuyến đi của mình.
Để phát triển nhu cầu du lịch, các địa phương cần thiết phải
tăng cường tuyên truyền, thông tin, quảng bá nhằm nâng cao
nhận thức của du khách về du lịch, về TNDL đặc sắc của địa
phương, từ đó để khơi gợi nhu cầu của du khách, đa dạng hoá thị
trường khách du lịch.
Thị trường khách du lịch là các nhóm khách hàng đang có
mong muốn và sức mua sản phẩm du lịch nhưng chưa được đáp
ứng. Nếu xét dưới góc độ một quốc gia, thị trường khách du lịch
bao gồm thị trường khách nội địa và thị trường khách quốc tế.
Ngày nay, cùng với tốc độ phát triển nhanh của lĩnh vực du lịch, xu
hướng tâm lý khách hàng cũng có những thay đổi rõ rệt, tác động
đáng kể tới nhu cầu cụ thể cho chuyến đi du lịch của mình. Họ
không chỉ thực hiện chuyến tham quan, trải nghiệm điểm đến du
lịch thụ động mà còn chủ động đóng vai trò là chủ thể sáng tạo
trong các HĐDL. Nắm bắt được xu hướng trên, để PTDL, các địa
phương cần tận dụng tốt yếu tố sáng tạo, xác định nhu cầu các
phân khúc khách hàng, định vụ phân khúc thị trường để mở rộng
và đa dạng thị trường khách du lịch.
Phát triển khả năng cung du lịch bao gồm nội dung phát triển
TNDL và phát triển hệ thống các DNDL, cơ sở kinh doanh cung cấp


22
chương trình du lịch và các dịch vụ kèm theo.
Trước hết, để phát triển khả năng cung du lịch, cần thiết phải
phát triển các TNDL có sự độc đáo, hấp dẫn có khả năng thu hút
khách hàng. Bên cạnh đó, cũng cần phải phát triển các doanh
nghiệp lữ hành khai thác TNDL nhân văn địa phương nhằm đa
dạng các loại hình du lịch, với các sản phẩm dịch vụ du lịch hấp
dẫn. Điểu này, đồng nghĩa với việc phải đa dạng hoá và nâng cao
chất lượng chương trình du lịch, sản phẩm dịch vụ du lịch.
Chương trình du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết được
định trước cho chuyến đi từ nơi xuất phát đến điểm kết thúc
chuyến đi để thoả mãn nhu cầu của khách trong chuyến đi du lịch.
Ở bất cứ quốc gia nào, tuỳ thuộc vào đặc điểm xã hội, dân cư, địa
lý, bề dày văn hoá lịch sử, các sản phẩm du lịch đều chứa đựng
những bản sắc độc đáo, được gắn kết chặt chẽ với nhau trong một
tiến trình lịch sử thống nhất của một dân tộc. Chúng được hình
thành và phân bổ rộng rãi ở nhiều địa danh, tồn tại dưới nhiều hình
thức khác nhau, cả vật thể và phi vật thể. Tuy nhiên, khi xây dựng
chương trình du lịch, cần thu thập đầy đủ những thông tin cơ bản
về cung – cầu du lịch, am hiểu về nhu cầu, thị hiếu sở thích của
từng nhóm thị trường khách, bên cạnh đó có khả năng phát hiện ra
những liên kết mới để tạo ra những sản phẩm, chương trình du lịch
độc đáo trên cơ sở hiểu biết về TNDL và các cơ sở KDDL. Việc đa
dạng các sản phẩm, chương trình du lịch sẽ giúp cho khách hàng
có nhiều sự lựa chọn hơn, từ đó thúc đẩy PTDL.
Để nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, cn phải nâng cao
chất lượng nhân lực và cơ sở vật chất. Nhân lực du lịch là đội ngũ
hướng dẫn viên các chương trình du lịch, thuyết minh viên tại các
điểm du lịch, nhân viên trực tiếp tham gia cung cấp dịch vụ du lịch
khác. Đội ngũ nhân lực này cần được đào tạo vững vàng về mặt
chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp giỏi, khả năng giao tiếp tốt,
thông thạo ngoại ngữ, am hiểu về kiến thức văn hoá, lịch sử. Hệ
thống cơ sở vật chất bao gồm toàn bộ các phương tiện vật chất và
phương tiện kỹ thuật tham gia cung cấp dịch vụ du lịch. Hệ thống
cơ sở vật chất này cần được thường xuyên đầu tư, nâng cấp, cải


23
tạo phù hợp với nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.
Tạo lập môi trường cho PTDL bao gồm các nội dung tạo dựng
và hoàn thiện chính sách quản lý đối với du lịch. Cụ thể, Nhà nước,
địa phương cần có chính sách quản lý, gìn giữ TNDL nhân văn,
đồng thời có chính sách quản lý khai thác đi đôi với bảo vệ, tôn tạo
TNDL nhân văn. Bên cạnh đó, Nhà nước, địa phương cũng cần có
chinh sách hỗ trợ cơ sở kinh doanh về nguồn lực để tham gia PTDL,
tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh trong PTDL.
1.1.4. Quản lý phát triển du lịch tại điểm đến du lịch
1.1.4.1. Quan niệm về quản lý phát triển du lịch tại điểm đến
du lịch
Quản lý PTDL tại điểm đến du lịch là tạo môi trường thông
thoáng, ổn định, hỗ trợ, thúc đẩy các HĐDL phát triển sôi động
nhưng có trật tự, nhằm giải quyết hài hòa các lợi ích.
Trên cơ sở hệ thống các quan điểm của các tác giả về Quản
lý PTDL tại điểm đến du lịch trong phần lịch sử nghiên cứu, chúng
ta có thể thấy: Quản lý PTDL tại điểm đến du lịch là phương thức
mà bằng công cụ quản lý pháp luật và bộ máy quản lý, nhà nước
tác động vào đối tượng quản lý để định hướng cho HĐDL vận
động, phát triển đến mục tiêu nhất định.
Quan điểm trên được tác giả lựa chọn làm cơ sở lý luận thống
nhất cho toàn bộ luận văn. Khái niệm này bao hàm những nội
dung cơ bản như nhà nước (các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư
pháp) là chủ thể quản lý; các cơ quan xã hội vận động và phát
triển trong lĩnh vực du lịch là đối tượng quản lý và pháp luật là cơ
sở và là công cụ để nhà nước thực hiện sự quản lý. Chủ thể QLNN
là tập hợp các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội được
nhà nước ủy quyền. Trong các cơ quan, tổ chức đó cán bộ, công
chức nhà nước có quyền và nghĩa vụ được xác định cụ thể, rõ ràng.
Với tư cách là chủ thể quản lý, nhà nước phải thực hiện hàng loạt
các nhiệm vụ: từ việc xây dựng, ban hành pháp luật đến việc tổ
chức, thực hiện pháp luật; đồng thời nhà nước còn thực hiện sự
kiểm tra, kiểm soát và tiến hành xử lý những vi phạm pháp luật
đối với HĐDL. Với vai trò đó, nhiệm vụ của nhà nước là định hướng


24
cho HĐDL hình thành, vận động và phát triển theo một trật tự nhất
định. Với tư cách là đối tượng quản lý, HĐDL phải được tổ chức và
vận động trên cơ sở các quy định của pháp luật và chịu sự kiểm
tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Với tư
cách là cơ sở và là công cụ để nhà nước thực hiện sự quản lý,
pháp luật phải được xây dựng trên cơ sở đảm bảo sự chính xác,
đầy đủ, thống nhất, là những chuẩn mực để đối tượng quản lý dựa
vào đó vận động, phát triển và để chủ thể quản lý thực hiện sự
kiểm tra, giám sát đối tượng quản lý.
1.1.4.2. Đặc điểm quản lý phát triển du lịch tại điểm đến
du lịch
Quản lý PTDL tại điểm đến du lịch nổi lên một số đặc điểm cơ
bản như sau:
Một là, Nhà nước tổ chức và quản lý PTDL diễn ra trong nền
kinh tế thị trường. Xuất phát từ đặc trưng của nền kinh tế thị
trường là tính phức tạp, năng động và nhạy cảm. Vì vậy, quản lý
PTDL đòi hỏi phải có một chủ thể có tiềm lực về mọi mặt để đứng
ra tổ chức và điều hành, chủ thể ấy không ai khác chính là Nhà
nước - vừa là người quản lý, vừa là người tổ chức HĐDL. Để hoàn
thành sứ mệnh của mình, Nhà nước phải ban hành pháp luật, đề ra
các chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch PTDL... và dùng
các công cụ này tác động vào lĩnh vực du lịch.
Hai là, hệ thống công cụ như pháp luật, chính sách, chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch... PTDL là cơ sở, là những công cụ để
Nhà nước tổ chức và quản lý PTDL tại điểm đến du lịch. Trong nền
kinh tế thị trường, HĐDL diễn ra hết sức phức đến tạp với sự đa
dạng về chủ thể, về hình thức tổ chức và quy mô hoạt động... Dù
phức tạp thế nào đi chăng nữa, sự quản lý của Nhà nước cũng
phải bảo đảm cho hoạt động PTDL có tính tổ chức cao, ổn định,
công bằng và có tính định hướng rõ rệt.
Ba là, QLNN đối với PTDL tại điểm du lịch đòi hỏi phải có một
bộ máy Nhà nước mạnh, có hiệu lực, hiệu quả và một đội ngũ
cán bộ QLNN có trình độ, năng lực thật sự. QLNN đối với phát
triển thị trường du lịch phải tạo được những cân đối chung, điều


25
tiết được thị trường, ngăn ngừa và xử lý những đột biến xấu, tạo
môi trường pháp lý thuận lợi cho mọi HĐDL phát triển. Và để thực
hiện tốt điều này thì tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ QLNN
không thể khác hơn là phải được tổ chức thống nhất, đồng bộ, có
hiệu quả từ trung ương đến địa phương.
Bốn là, quản lý PTDL tại điểm đến du lịch còn xuất phát từ
chính nhu cầu khách quan của sự gia tăng vai trò của chínlịchh
sách, pháp luật... trong nền kinh tế thị trường với tư cách là công
cụ quản lý.
1.1.4.3. Chức năng và vai trò quản lý phát triển du lịch tại
điểm đến du lịch
a. Chức năng quản lý PTDL tại điểm du lịch
Thứ nhất, ban hành các văn bản pháp luật về du lịch, xây
dựng và thực hiện hàng loạt các chính sách kinh tế để PTDL và xây
dựng một cơ chế có hiệu lực để đưa chính sách và thể chế quản lý
vào hoạt động KDDL.
Thứ hai, tổ chức hướng dẫn thực hiện và kiểm tra việc thực
hiện các văn bản pháp luật, các quy chế, các chế độ, tiêu chuẩn
định mức kinh tế - kỹ thuật, quy trình, quy phạm trong HĐDL.
Thứ ba, tổ chức tuyên truyền, quảng cáo du lịch, nghiên cứu
ứng dụng khoa học; đào tạo bồi dưỡng cán bộ; hợp tác quốc tế;
bảo vệ môi trường du lịch.
Thứ tư, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý các vi phạm luật
trong quản lý PTDL; thúc đẩy du lịch nước ta phát triển theo định
hướng chung của đất nước; hạn chế, đi đến xóa bỏ hiện tượng
không lành mạnh, mặt trái của PTDL đem lại mà nhiều nước đi
trước đã mắc phải trong hoạt động PTDL (mại dâm, văn hóa đồi
trụy, nghiện hút...)
b. Vai trò quản lý PTDL tại điểm du lịch
Vai trò định hướng. Vai trò định hướng của Nhà nước đối với
PTDL tại điểm đến du lịch được thể hiện thông qua các chiến lược,
kế hoạch phát triển thị trường du lịch, phân tích và xây dựng các
chính sách về thị trường du lịch, quy hoạch và định hướng chiến
lược phát triển thị trường. Đồng thời xây dựng hệ thống luật pháp


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×