Tải bản đầy đủ

Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần đầu tư phát triển Thành Đạt

i

LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Trần Thị Thơm
Lớp : CHKT5 đợt 1
Mã học viên: 0551070051
Sau quá trình nghiên cứu, khảo sát tại Công ty cổ phần đầu tư phát triển
Thành Đạt tôi đã chọn lựa đề tài luận văn: “Hoàn thiện kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần đầu tư phát triển
Thành Đạt”
Tôi xin cam đoan:
•Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi.
•Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
•Mọi số liệu trong đề tài đều được sự cho phép của Công ty mà tôi khảo sát.
Hà Nội, ngày…... tháng …..năm 2017
Tác giả luận văn

Trần Thị Thơm


ii


LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và biết ơn sâu sắc tới
PGS.TS. Lê Thị Thanh Hải - giảng viên hướng dẫn khoa học cho tác giả - đã
hướng dẫn, chỉ bảo nhiệt tình và định hướng khoa học cho tác giả trong suốt quá
trình nghiên cứu, thu thập số liệu, khảo sát thực tế và thực hiện luận văn.
Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các cán bộ lãnh đạo,
cán bộ phòng kế toán Công ty cổ phần đầu tư phát triển Thành Đạt đã tạo điều
kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình điều tra, khảo sát, thu thập số liệu phục
vụ cho việc phân tích, tổng hợp số liệu để viết luận văn.
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn trường Đại học Công nghiệp Hà
Nội, các thầy giáo, cô giáo, cán bộ Khoa sau đại học, khoa kế toán – kiểm
toán - Đại học Công nghiệp Hà Nội, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ,
động viên, chia sẻ với tác giả trong quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Tác giả luận văn

Trần Thị Thơm


iii

MỤC LỤC
Công ty CP Đầu tư Thành Đạt...........................................................................................127
Công ty CP Đầu tư Thành Đạt...........................................................................................129
BẢNG TRÍCH KHẤU HAO MÁY THI CÔNG...............................................................137
Công ty CP Đầu tư phát triển Thành Đạt...........................................................................137


iv

DANH MỤC VIẾT TẮT
Chữ Viết Tắt

Đầy đủ tiếng Việt

TP

Thành Phố

CHXHCN



Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

CP

Cổ Phần

DN

Doanh nghiệp

GTVT

Giao thông vận tải

VLXD

Vật liệu xây dựng

HMCT

Hạng mục công trình

CNVC

Công nhân viên chức

TGNH

Tiền gửi Ngân hàng

GTGT

Thuế giá trị gia tăng

TNDN

Thu nhập doanh nghiệp



Quyết định

TK

Tài khoản

TSCĐ

Tài sản cố định

MTC

Máy thi công

CT LM

Công trình chân giá đỡ Long Môn

Đầy đủ tiếng Anh


v

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Công ty CP Đầu tư Thành Đạt...........................................................................................127
Công ty CP Đầu tư Thành Đạt...........................................................................................129
BẢNG TRÍCH KHẤU HAO MÁY THI CÔNG...............................................................137
Công ty CP Đầu tư phát triển Thành Đạt...........................................................................137


vi

DANH MỤC CÔNG THỨC
Công ty CP Đầu tư Thành Đạt...........................................................................................127
Công ty CP Đầu tư Thành Đạt...........................................................................................129
BẢNG TRÍCH KHẤU HAO MÁY THI CÔNG...............................................................137
Công ty CP Đầu tư phát triển Thành Đạt...........................................................................137


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đổi
mới nền kinh tế, chúng ta đã đạt được không ít những thành tựu to lớn, đóng
góp không nhỏ vào sự phát triển này không thể không nhắc đến ngành xây
dựng cơ bản – ngành sản xuất vật chất quan trọng tạo ra cở sở vật chất – kỹ
thuật cho nền kinh tế quốc dân.
Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự
quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp luôn phải đứng trước sự cạnh tranh
gay gắt không chỉ với những doanh nghiệp trong nước mà còn cả với những
doanh nghiệp nước ngoài. Do đó muốn tồn tại và phát triển thì nhiệm vụ của
các doanh nghiệp không chỉ là không ngừng tăng cường, đổi mới công nghệ
sản xuất, nâng cao năng suất lao động mà còn phải chú trọng công tác quản lý
chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận nhưng vẫn sản xuất ra
được những sản phẩm có chất lượng cao.
Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng cơ bản không chỉ có
ý nghĩa to lớn trong phạm vi ngành mà còn có ý nghĩa kinh tế - xã hội rất to
lớn đối với các ngành khác và toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Thực tế hiện nay
việc quản lý và hạch toán kế toán ở các doanh nghiệp xây dựng cơ bản nói
riêng còn chưa tốt dẫn đến tình trạng thất thoát, lãng phí vật tư, lao động, tiền
vốn. Vì vậy, việc quản lý chặt chẽ cũng như hạch toán một cách đầy đủ, kịp
thời các chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là rất cần thiết nhằm mục đích
kiểm tra, giám sát đồng thời cung cấp thông tin kịp thời phục vụ cho việc ra
quyết định của các nhà quản trị doanh nghiệp.
Xuất phát từ các lý do trên, tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện kế toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong Công ty cổ phần đầu tư phát
triển Thành Đạt” làm đề tài nghiên cứu của mình.


2

2. Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp đã có một số
tác giả nghiên cứu như:
- Luận văn thạc sỹ “ Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành công trình
xây dựng tại công ty Cổ phần xây dựng số 5” của tác giả Vũ Thị Kim Chinh KTQD (2015): luận văn đã hệ thống hóa được những vấn đề chung về kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại các công ty xây dựng.
Tuy nhiên, tổng quan các công trình nghiên cứu còn sơ sài, thực trạng kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành công trình xây dựng tại công ty chưa trình
bày rõ quá trình nhận thầu, chia thầu và tính giá thành.
- Luận văn thạc sỹ “Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
xây lắp tại công ty Cổ phần 471” của tác giả Nguyễn Thị Thùy Vân – ĐHTM
(2015): về mặt nội dung, luận văn đã nêu được các vấn đề và lý luận cơ bản
liên quan đến đề tài nghiên cứu, thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xây lắp trên cả hai phương diện kế toán tài chính và kế toán
quản trị, đồng thời rút ra các giải pháp có tính khả thi phù hợp với công ty.
Tuy nhiên tác giả có cách sắp xếp các mục chưa thật hợp lý và chưa nêu bật
được phương pháp kế toán nếu doanh nghiệp tổ chức khoán chi phí.
- Luận văn thạc sỹ “Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành công trình
giao thông tại công ty cổ phần giao thông xây dựng số 1” của tác giả Phạm
Thị Phượng – HVTC (2015): luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận của vấn
đề nghiên cứu, trình bày và phân tích thực trạng về kế toán tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành công trình giao thông tại Công ty cổ phần giao thông
xây dựng số 1, từ đó trình bày ưu nhược điểm và đưa ra giải pháp hoàn thiện.
Tuy nhiên hệ thống sổ sách chứng từ chưa thực sự được đầu tư.
- Luận văn thạc sỹ “Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại các
doanh nghiệp xây dựng thuộc tổng công ty xây dựng Thăng Long” của tác giả


3

Nguyễn Thị Huệ - ĐHTM (2015): về cơ bản luận văn đã nêu được những nội
dung cơ bản về kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp
tại các doanh nghiệp xây dựng thuộc tổng công ty xây dựng Thăng Long.
- Luận văn thạc sỹ “Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
xây dựng tại doanh nghiệp tư nhân xây dựng Xuân Trường” của tác giả
Nguyễn Thị Hoàn – ĐHTM (2015) : luận văn đã thực hiện được đầy đủ các
yêu cầu đặt ra khi nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp tại doanh nghiệp tư nhân xây dựng Xuân Trường. Mặc dù
doanh nghiệp nghiên cứu đảm bảo quy mô về vốn tuy nhiên quy mô về kết
cấu doanh nghiệp chưa có sự phân cấp công ty mẹ con nên nhìn chung vấn đề
nghiên cứu chưa quá phức tạp.
Qua các công trình nghiên cứu về chi phí sản xuât và tính giá thành sản
phẩm của các tác giả, tôi thấy vẫn còn nhiều bất cập vì vậy tôi chọn đề tài
“Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong
Công ty cổ phần đầu tư phát triển Thành Đạt” để nghiên cứu sâu hơn và
hoàn thiện, toàn diện để đáp ứng nhu cầu thực tế cho đơn vị mình công tác.
3. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
- Về mặt lý luận: Phân tích và hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản
về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp
xây lắp.
- Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu, khảo sát và đánh giá thực trạng kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần đầu tư phát
triển Thành Đạt; từ đó chỉ ra ưu điểm và những hạn chế còn tồn tại trong kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần đầu tư
phát triển Thành Đạt; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty.


4

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài chủ yếu đi sâu vào hệ thống hóa và phân tích những vấn đề lý
luận và công tác thực tiễn về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp làm cơ sở cho việc vận dụng lý luận
vào thực tiễn kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty cổ phần đầu tư phát triển Thành Đạt thông qua việc đề xuất và phân tích
các giải pháp hoàn thiện.
Phạm vi nghiên cứu:
Không gian và nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về kế
toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần đầu tư phát
triển Thành Đạt trên góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị.
Thời gian nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm trong Công ty cổ phần đầu tư phát triển Thành Đạt trong
năm tài chính 2016.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn sẽ phải nghiên cứu, giải
quyết được những vấn đề sau:
- Nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp;
- Phân tích thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
trong Công ty cổ phần đầu tư phát triển Thành Đạt, từ đó tìm ra những
nguyên nhân tồn tại cần khắc phục;
- Đề xuất một số giải pháp có cơ sở khoa học và khả thi nhằm hoàn thiện
kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong Công ty cổ
phần đầu tư phát triển Thành Đạt.


5

6. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
+ Phương pháp điều tra, khảo sát: tác giả tiến hành khảo sát ở các bộ
phận quản lý, các phòng ban, bộ phận kế toán ở Công ty cổ phần đầu tư phát
triển Thành Đạt, đặc biệt kế toán trưởng và các kế toán viên trực tiếp liên
quan trực tiếp đến công tác kế toán cũng như các nhà quản lý như Kế toán
trưởng, trưởng các phòng ban, bộ phận trong công ty
+ Phương pháp quan sát thực tế quan sát môi trường làm việc, quan sát
sự vận hành của các bộ phận trong bộ máy kế toán trong việc vận dụng
nguyên tắc, chính sách, qui định, văn bản pháp quy về kế toán do nhà nước
ban hành, dựa vào đặc điểm của Công ty cổ phần đầu tư phát triển Thành Đạt
để quan sát xem mô hình tổ chức kế toán đã phù hợp hay chưa? Tác giả tiến
hành quan sát hệ thống chứng từ kế toán từ các khâu lập, ký duyệt, quản lý,
hạch toán, luân chuyển và xử lý chứng từ kế toán; quá trình lựa chọn áp dụng
hệ thống sổ kế toán; quá trình vận dụng hệ thống báo cáo kế toán. Ngoài ra
tác giả còn quan sát việc tổ chức trang bị, phương tiện, thiết bị phục vụ cho
việc tính toán, bảo quản số liệu, tài liệu, cách tổ chức bộ máy kế toán để đánh
giá đo lường hiệu quả tổ chức kế toán tại Công ty cổ phần đầu tư phát triển
Thành Đạt
+ Phương pháp phỏng vấn: Tác giả thực hiện phỏng vấn thông qua các
cuộc trao đổi giữa tác giả với một số nhà quản lý cũng như người trực tiếp
hoặc gián tiếp thực hiện công tác kế toán tại Công ty cổ phần đầu tư phát triển
Thành Đạt, nhằm tìm hiểu kinh nghiệm và nhận thức của những người này về
thực trạng tổ chức kế toán tại Công ty cổ phần đầu tư phát triển Thành Đạt.


6

- Phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, phân tích thông tin.
+ Tổng hợp kết quả khảo sát, khái quát thành nhóm các vấn đề, mô tả
thực trạng theo nhóm các vấn đề được khái quát: Từ dữ liệu đã thu thập được,
đưa ra các thông tin, các kết luận phù hợp.
+ Phân tích đánh giá vấn đề nghiên cứu: Ghi chép, thống kê, đưa vào
luận văn các số liệu thu thập được và để đưa ra kết luận về thực trạng làm căn
cứ đưa ra giải pháp hoàn thiện.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học
Đề tài được thực hiện nhằm củng cố, hệ thống hóa và làm sáng tỏ những
vấn đề chung nhất thuộc lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm của doanh nghiệp trên góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị.
Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài sẽ có những đóng góp nhất định vào việc hoàn thiện
kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trên góc độ kế toán tài
chính và kế toán quản trị.
8. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, luận văn gồm 3 phần chính như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp.
Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
trong Công ty cổ phần đầu tư phát triển Thành Đạt.
Chương 3: Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
tại Công ty cổ phần đầu tư phát triển Thành Đạt.
Kết Luận


7

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH XÂY DỰNG CƠ BẢN ẢNH
HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP
Hoạt động sản xuất xây lắp là 1 hoạt động xây dựng mới, mở rộng, khôi
phục cải tạo cơ sở vật chất cho nền kinh tế. Xây lắp là 1 ngành sản xuất vật
chất mang tính chất sản xuất công nghiệp, nhưng có đặc điểm riêng biệt khác
với ngành sản xuất khác, ảnh hưởng đến công tác quản lý và công tác kế toán.
Sản xuất xây lắp có những đặc điểm sau đây:
- Sản phẩm xây lắp mang tính chất riêng lẻ đó là những công trình, vật
kiến trúc... có qui mô lớn, kỹ thuật sản xuất phức tạp, sản xuất đơn chiếc, thời
gian sản xuất dài, mỗi sản phẩm xây lắp có yêu cầu về mặt cấu trúc, mỹ thuật,
hình thức địa điểm xây dựng khác nhau. Đặc điểm này đòi hỏi phải lập dự
toán (dự toán thiết kế, dự toán thi công), quá trình xây lắp phải luôn luôn sát
với dự toán, phải lấy dự toán làm căn cứ tổ chức thực hiện.
- Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá trị dự toán (hoặc giá thoả
thuận khi trúng thầu hoặc giá chỉ định thầu). Tính chất hàng hoá của sản phẩm
xây lắp không thể hiện rõ (vì đã quy định giá cả, người mua, người bán từ
trước thông qua hợp đồng giao thầu). Vì vậy việc tiêu thụ được thực hiện
thông qua việc bàn giao công trình hoàn thành cho chủ đầu tư.
- Hoạt động xây lắp mang tính chất lưu động, tiến hành chủ yếu ngoài
trời. Sản phẩm xây lắp được cố định tại nơi sản xuất, còn phương tiện sản
xuất (máy móc thi công, công nhân) phải di chuyển theo địa điểm sản xuất.
Đặc điểm này làm cho công tác quản lý, kế toán tài sản, vật tư lao động phức


8

tạp, đồng thời lại chịu tác động của môi trường tự nhiên dễ làm tài sản mất mát,
hư hỏng. Vì vậy, doanh nghiệp cần có kế hoạch điều động phù hợp đảm bảo
hoàn thành công trình đúng tiến độ.
- Thời gian thi công và thời gian sử dụng sản phẩm xây lắp rất lâu dài,
chất lượng được xác định cụ thể trong hồ sơ thiết kế kỹ thuật. Do đó đòi hỏi
công tác quản lý và kế toán phải thực hiện tốt để cho chất lượng công trình
thực hiện đúng như dự toán thiết kế,...
- Trong các doanh nghiệp xây lắp, cơ chế khoán đang được áp dụng rộng
rãi với hình thức giao khoán khác nhau: khoán gọn công trình (khoán toàn bộ
chi phí), khoán từng khoản mục chi phí nên phải hình thành bên giao khoán,
bên nhận khoán và giá khoán.
Những đặc điểm trên có ảnh hưởng lớn tới công tác hạch toán kế toán
làm cho phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây
lắp có những đặc điểm riêng. Để phát huy đầy đủ vai trò là công cụ quản lý
kinh tế, công tác kế toán trong các doanh nghiệp xây lắp phải được tổ chức
phù hợp với các đặc điểm sản xuất kinh doanh, quy trình sản xuất sản phẩm
xây lắp trong xây dựng cơ bản và thực hiện nghiêm túc chế độ kế toán do nhà
nước ban hành.
1.2. CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ PHÂN LOẠI CHI PHÍ SẢN
XUẤT XÂY LẮP
1.2.1. Khái niệm và bản chất chi phí sản xuất xây lắp
Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động xây lắp
nói riêng cần có sự kết hợp của ba yếu tố: Sức lao động của con người, tư liệu
lao động như máy móc, nhà xưởng và đối tượng lao động như nguyên vật
liệu, nhiên liệu. Các yếu tố này tham gia vào quá trình sản xuất hình thành các
yếu tố tương ứng như khấu hao tài sản cố định, chi phí nguyên vật liệu, tiền
công... Các chi phí đó được lượng hóa bằng tiền.


9

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01: Chi phí là tổng giá trị các khoản
làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra,
các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn
chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu.
Bên cạnh đó có thể hiểu chi phí là một phạm trù kinh tế gắn liền với sản
xuất và lưu thông hàng hóa. Chi phí doanh nghiệp là những khoản chi phí phát
sinh gắn liền với doanh nghiệp trong quá trình bắt đầu từ mua vật liệu, tạo ra
sản phẩm đến khi tiêu thụ nó. Đó là những hao phí lao động xã hội được biểu
hiện bằng tiền trong hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp được
xem xét theo từng kỳ kế toán.
“Chi phí sản xuất xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về
lao động vật hóa, lao động sống và các chi phí cần thiết khác mà doanh
nghiệp bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất xây lắp trong một thời kỳ nhất
định.”
Có rất nhiều cách định nghĩa về khái niệm chi phí sản xuất khác nhau
nhưng đều có những điểm chung. Tóm lại, có thể định nghĩa về chi phí sản
xuất xây lắp là toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa và các
chi phí cần thiết khác được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ phát sinh trong
hoạt động sản xuất xây lắp của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
1.2.2. Phân loại chi phí sản xuất xây lắp
Để thuận tiện cho việc quản lý và hạch toán chi phí sản xuất đáp ứng
được yêu cầu của kế toán, thúc đẩy doanh nghiệp tăng cường tiết kiệm chi
phí, hạ giá thành sản phẩm, thì phải tùy thuộc vào góc độ xem xét chi phí sản
xuất trên những khía cạnh khác nhau mà phân loại chi phí sản xuất theo
những tiêu thức khác nhau.
Việc phân loại chi phí sản xuất một cách khoa học và hợp lý không chỉ
có ý nghĩa quan trọng đối với việc hạch toán mà còn là tiền đề quan trọng của


10

kế hoạch hóa, kiểm tra phân tích chi phí sản xuất của toàn doanh nghiệp, cũng
như các bộ phận cấu thành bên trong của doanh nghiệp. Tùy theo yêu cầu
quản lý, đối tượng cung cấp thông tin, góc độ xem xét chi phí. Mà chi phí sản
xuất được phân theo các cách chủ yếu sau:
1.2.2.1. Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi
phí (yếu tố chi phí)
Theo cách phân loại này những khoản chi phí có chung tính chất kinh tế
được xếp chung vào một yếu tố, không kể chi phí đó phát sinh ở địa điểm nào
và dùng vào mục đích gì trong sản xuất kinh doanh. Theo cách phân loại này
chi phí sản xuất được chia thành các yếu tố sau:
- Chi phí nguyên liệu và vật liệu: Bao gồm nguyên liệu, vật liệu chính,
vật liệu phụ, nhiên liệu, thiết bị xây dựng cơ bản... mà doanh nghiệp đã sử
dụng để xây dựng các công trình, hạng mục công trình.
- Chi phí nhân công: Gồm hai bộ phận chi phí là chi phí tiền lương, tiền
công và chi phí về các khoản trích theo lương: BHYT, BHXH, KPCĐ của
công nhân viên xây dựng công trình, hạng mục công trình hoặc tổ, đội xây
dựng.
- Yếu tố chi phí khấu hao TSCĐ: Là toàn bộ số tiền trích khấu hao các
loại TSCĐ sử dụng cho hoạt động sản xuất xây lắp.
- Yếu tố chi phí CCDC: Là toàn bộ giá trị CCDC sử dụng trong hoạt
động sản xuất xây lắp.
- Yếu tố dịch vụ mua ngoài: Là toàn bộ số tiền chi trả về các dịch vụ mua
từ bên ngoài: tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại ... phục vụ cho các hoạt
động sản xuất xây lắp của doanh nghiệp.
- Yếu tố các chi phí khác bằng tiền: Là toàn bộ chi phí khác dùng cho
hoạt động xây lắp ngoài các yếu tố trên như chi phí tiếp khách, hội họp, hội
nghị.


11

Cách phân loại này thể hiện các thành phần ban đầu của chi phí bỏ vào
sản xuất, tỷ trọng từng loại chi phí trong tổng số làm cơ sở cho việc kiểm tra
tình hình thực hiện dự toán chi phí, lập kế hoạch cung ứng vật tư, tính nhu cầu
vốn và thuyết minh báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Đồng thời phục vụ
cho việc lập các cân đối chung (lao động, vật tư, tiền vốn…). Tuy nhiên cách
phân loại này không biết được chi phí sản xuất sản phẩm là bao nhiêu trong
tổng chi phí của doanh nghiệp.
1.2.2.2. Phân loại chi phí theo mục đích và công dụng của chi phí
(khoản mục chi phí)
Theo cách phân loại này những khoản chi phí có cùng công dụng kinh tế,
cùng mục đích sử dụng được xếp thành một khoản mục, không phân biệt tính
chất kinh tế của nó như thế nào. Theo cách này chi phí sản xuất được chia
thành các khoản mục sau: chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp; chi phí nhân
công trực tiếp; chi phí sử dụng máy thi công; chi phí sản xuất chung. Trong đó:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: Là chi phí về toàn bộ giá trị nguyên
liệu, vật liệu, nhiên liệu,…xuất dùng cho sản xuất xây lắp trong kỳ.
- Chi phí NCTT: là toàn bộ chi phí về các loại tiền lương, tiền công và phụ
cấp phải trả cho công nhân trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất.
- Chi phí sử dụng máy thi công: Bao gồm toàn bộ chi phí có liên quan
đến máy thi công như chi phí vật liệu chi máy hoạt động, chi phí tiền lương và
các khoản phụ cấp lương của công nhân trực tiếp điều khiển máy.
- Chi phí sản xuất chung: Bao gồm những chi phí phục vụ cho quá trình
sản xuất tại đội, công trình xây dựng. Chi phí sản xuất chung gồm nhiều loại
chi phí gồm nhiều loại chi phí có nội dung kinh tế khác nhau như lương nhân
viên quản lý, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền…
Các khoản mục chi phí này là cơ sở tạo nên giá thành sản xuất sản phẩm.
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp theo dõi được từng khoản mục chi phí


12

phát sinh từ đó đối chiếu với dự toán công trình để xác định tăng giảm ở khoản
mục nào, do vậy theo dõi được việc thực hiện kế hoạch giá thành và hạ giá.
1.2.2.3. Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và
các khoản mục trên Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh.
Cách phân loại này căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí sản xuất bỏ ra
và khối lượng sản phẩm hoàn thành để phân loại hay xem xét sự biến động
của chi phí khi mức độ hoạt động thay đổi. Chi phí sản xuất được chia thành:
Chi phí bất biến: (Định phí, cố định): Là những chi phí không thay đổi
khi khối lượng công việc, sản phẩm hoàn thành thay đổi, nhưng khi tính cho
một đơn vị sản phẩm thì chi phí này thay đổi.
Chi phí khả biến ( biến phí, biến đổi): Là những chi phí thay đổi khi khối
lượng công việc, sản phẩm hoàn thành thay đổi theo tương quan tỷ lệ thuận.
Song biến phí cho một đơn vị sản phẩm lại không đổi.
Chi phí hỗn hợp: là những chi phí bao gồm các yếu tố của cả định phí và
biến phí như chi phí tiền điện thoại, tiền nước...
Theo cách phân loại này giúp ta trong công việc xác định phương án đầu
tư thông qua mô hình chi phí trong mối quan hệ giữa chi phí - khối lượng - lợi
nhuận, xác định điểm hoà vốn cũng như việc tính toán phân tích tình hình tiết
kiệm chi phí và định ra những biện pháp thích hợp để phấn đấu hạ thấp chi phí
cho doanh nghiệp.
1.2.2.4. Phân loại khả năng quy nạp chi phí vào các
đối tượng kế toán chi phí
Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất được chia thành 2 loại:
- Chi phí trực tiếp: Là các chi phí sản xuất quan hệ trực tiếp với từng đối
tượng chịu chi phí (từng loại sản phẩm được sản xuất, từng công việc được
thực hiện…). Các chi phí này được kế toán căn cứ trực tiếp vào các chứng từ
phản ánh chúng để tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng liên quan.


13

- Chi phí gián tiếp: Là những chi phí sản xuất liên quan đến nhiều đối
tượng chịu chi phí, chúng cần được tiến hành phân bổ cho các đối tượng chịu
chi phí theo tiêu thức phân bổ thích hợp.
1.2.2.5. Phân loại chi phí theo mối quan hệ của chi phí và đối tượng
tập hợp chi phí
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất được chia thành hai loại chi phí
sản phẩm và chi phí thời kỳ.
- Chi phí sản phẩm: Là những chi phí gắn liền với các sản phẩm được sản
xuất ra hoặc các khoản chi phí gắn liền với quá trình mua hàng hóa. Những
khoản chi phí này liên quan đến sản phẩm làm dở cuối kỳ, thành phẩm hàng
hóa tồn kho. Khi thành phẩm, hàng hóa còn đang tồn kho thì chi phí này được
phản ánh ở khoản mục hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán, khi thành phẩm,
hàng hóa được tiêu thụ thì chi phí này thể hiện ở trị giá vốn của thành phẩm,
hàng hóa xuất bán phản ánh trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
- Chi phí thời kỳ: Là những chi phí phục vụ cho hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp và được sử dụng để xác định lợi nhuận tại kỳ nó phát sinh
ví dụ như chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp.
Tác dụng của việc phân loại này là cung cấp thông tin để tính toán xác
định chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh nhằm đảm bảo quan hệ đối
chiếu về mặt số liệu giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị.
Tóm lại, mỗi cách tập hợp chi phí sản xuất đều có ý nghĩa riêng phục vụ
cho từng đối tượng quản lý, từng đối tượng cung cấp thông tin cụ thể và luôn
bổ sung cho nhau nhằm quản lý có hiệu quả toàn bộ chi phí phát sinh trong
phạm vi từng doanh nghiệp, trong từng thời kỳ nhất định.


14

1.3. GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP VÀ PHÂN LOẠI GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP
1.3.1. Khái niệm và bản chất giá thành sản phẩm xây lắp
Mục đích của việc bỏ ra một lượng chi phí của các nhà sản xuất là để tạo
nên những giá trị sử dụng nhất định, nhằm đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của xã hội.
Sau quá trình sản xuất ra sản phẩm có những khoản chi phí liên quan đến khối
lượng sản phẩm, công việc, lao vụ hoàn thành gọi là giá thành sản phẩm.
“Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí bằng tiền phát sinh trong
quá trình sản xuất tính cho một khối lượng sản phẩm xây lắp hoàn thành theo
qui định. Giá thành hạng mục công trình hoặc công trình hoàn thành toàn bộ
là giá thành sản phẩm cuối cùng của công việc xây lắp.”
Vậy giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí lao động
sống, lao động vật hoá và các hao phí khác mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên
quan đến một khối lượng sản phẩm, công việc lao vụ hoàn thành nhất định.
Những chi phí đưa vào giá thành sản phẩm phải phản ánh được giá trị thực
của các tư liệu sản xuất và các chỉ tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp hao
phí lao động sống.
1.3.2. Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
Khác với giá thành sản phẩm trong các loại hình doanh nghiệp sản xuất
khác, giá thành sản phẩm của doanh nghiệp xây lắp có đặc điểm riêng là mỗi
công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây dựng hoàn thành đều có
một giá thành riêng. Khi nhận thầu một công trình, giá bán (giá nhận thầu) đã
có trước khi thi công công trình, tức là giá bán có trước giá thành thực tế. Do
đó giá thành thực tế của công trình chỉ quyết định tới lãi, lỗ của doanh nghiệp
do thi công công trình đó mà thôi.


15

1.3.2.1. Phân loại giá thành theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành
Trong XDCB, sản phẩm xây dựng là nhà cửa, vật kiến trúc ... mà giá trị của
nó được xác định bằng giá trị dự toán thông qua hợp đồng giữa bên giao thầu và
bên nhận thầu trên cơ sở thiết kế kỹ thuật thi công, định mức và đơn giá do nhà
nước quy định cho từng khu vực thi công và phân tích theo định mức.
- Giá trị dự toán là giá thanh toán cho khối lượng công tác xây lắp hoàn
thành theo dự toán
Giá trị dự toán

=

Giá trị dự toán xây lắp công trình

+

Thuế và lãi định mức

Công thức 1.1: Công thức tính giá thành dự toán
Giá trị dự toán là cơ sở để kế hoạch hoá việc cấp phát vốn đầu tư XDCB,
là căn cứ xác định hiệu quả công tác thiết kế cũng như căn cứ để kiểm tra việc
thực hiện kế hoạch khối lượng thi công và xác định hiệu quả hoạt động kinh
tế của doanh nghiệp xây lắp.
Trong đó:
+ Lợi nhuận định mức trong xây dựng cơ bản được Nhà nước quy định
trong từng thời kỳ.
+ Giá trị dự toán của công trình, hạng mục công trình được xác định dựa
vào định mức đánh giá của cơ quan có thẩm quyền và dựa trên mặt bằng giá cả
của thị trường.
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành được xác định từ những điều kiện và
đặc điểm cụ thể của một doanh nghiệp xây lắp trong một kỳ kế hoạch nhất định.
Căn cứ vào giá thành dự toán và căn cứ vào điều kiện cụ thể, năng lực
thực tế sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch, doanh
nghiệp tự xây dựng những định mức kinh tế kỹ thuật và đơn giá để xác định
những hao phí cần thiết để thi công công trình trong một kỳ kế hoạch.


16

Như vậy, giá thành kế hoạch là một chỉ tiêu để các doanh nhiệp xây lắp
tự phấn đấu để thực hiện mức lợi nhuận do hạ giá thành trong kỳ kế hoạch.
Giá thành

=

Giá thành

-

Mức hạ giá

kế hoạch
dự toán
thành kế hoạch
Công thức 1.2: Công thức tính giá thành kế hoạch
DN phải khai thác mọi tiềm năng của mình ra để ra các biện pháp tổ chức
quản lý sản xuất phù hợp với điều kiện thi công công trình cụ thể để hoàn thành
tốt kế hoạch hạ giá thành.
- Giá thành thực tế: Là toàn bộ chi phí sản xuất thực tế phát sinh để hoàn
thành quá trình thi công do kế toán tập hợp được. Giá thành thực tế biểu hiện
chất lượng, hiệu quả về kết quả hoạt động của doanh nghiệp xây lắp.
So sánh giá thành thực tế với giá thành kế hoạch cho thấy mức độ hạ giá
thành kế hoạch của doanh nghiệp.
So sánh giá thành thực tế với giá thành dự toán, phản ánh chỉ tiêu tích
luỹ của doanh nghiệp, từ đó có thể dự định khả năng của doanh nghiệp trong
năm tới.
So sánh giá thành thực tế với giá thành định mức cho thấy mức độ hoàn
thành định mức đã đề ra của doanh nghiệp đối với từng khối lượng xây lắp cụ thể.
1.3.2.2. Phân loại giá thành theo phạm vi chi phí trong giá thành
Theo cách phân loại này chia thành: giá thành sản xuất toàn bộ và giá
thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ.
Giá thành sản xuất toàn bộ bao gồm: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,
chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất
chung tính cho sản phẩm hoàn thành. Còn giá thành toàn bộ của sản phẩm
tiêu thụ bao gồm giá thành sản xuất toàn bộ và chi phí ngoài sản xuất (chi phí
bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp) tính cho sản phẩm tiêu thụ.


17

Thông tin về giá thành toàn bộ thường đóng vai trò chủ yếu trong các
quyết định mang tính chiến lược dài hạn như quyết định ngừng sản xuất hay
tiếp tục sản xuất. Tuy nhiên việc tính giá thành toàn bộ cho từng loại sản phẩm
là không cần thiết nếu doanh nghiệp không phải đứng trước quyết định mang
tính chiến lược. Cho nên khi phải đưa ra quyết định trong thời gian ngắn hạn,
doanh nghiệp có thể sử dụng chỉ tiêu giá thành toàn bộ theo biến phí.
Giá thành toàn bộ theo biến phí bao gồm biến phí sản xuất (nguyên vật
liệu, nhân công, máy thi công, sản xuất chung) và biến phí ngoài sản xuất
(bán hàng, quản lý doanh nghiệp) tính cho sản phẩm tiêu thụ.
Nhờ có giá thành toàn bộ theo biến phí có thể thiết lập mô hình mối
quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận, từ đó phục vụ cho việc đưa ra các
quyết định ngắn hạn, mang tính sách lược.
Tuy nhiên trong doanh nghiệp việc phân biệt định phí và biến phí chỉ là
tương đối, mặt khác thông tin về biến phí thường hướng các nhà quản trị doanh
nghiệp vào mục đích ngắn hạn, sách lược mà bỏ qua chi phí cố định. Vì vậy để
chuẩn hoá chi phí cố định thay vì bỏ qua chi phí này, doanh nghiệp có thể sử
dụng chỉ tiêu giá thành toàn bộ theo biến phí có phân bổ hợp lý định phí.
Giá thành toàn bộ theo biến phí có phân bổ hợp lý định phí bao gồm
toàn bộ biến phí và một phần định phí được phân bổ theo mức độ hoạt động
chuẩn.
Nội dung của giá thành toàn bộ theo biến phí có phân bổ hợp lý định
phí có thể biểu diễn theo công thức:
n
Z = bp x SL + ĐP x
N
Công thức 1.3: Công thức tính giá thành toàn bộ theo biến phí


18

Trong đó: Z: giá thành toàn bộ theo biến phí có phân bổ hợp lý định phí
bp: biến phí đơn vị
SL: số lượng sản phẩm
ĐP: tổng định phí
N: mức hoạt động chuẩn
n: mức hoạt động thực tế
Phần định phí còn lại: ĐP x N-n gọi là chi phí hoạt động dưới công suất
và được ứng xử như chi phí thời kỳ, tức là được tham gia xác định kết quả
hoạt động kinh doanh trong kỳ.
1.3.2.3. Một số loại giá thành khác được sử dụng trong doanh nghiệp
xây lắp
- Giá đấu thầu xây lắp (giá thành dự thầu công tác xây lắp): là một loại
giá thành dự toán xây lắp do chủ thầu đưa ra để doanh nghiệp xây lắp dựa vào
tính toán giá thành của mình.
- Giá hợp đồng công tác xây lắp: là một loại giá dự toán xây lắp ghi
trong hợp đồng được ký kết giữa chủ đầu tư và doanh nghiệp xây lắp sau khi
thoả thuận giao nhận thầu. Đây chính là giá thành của doanh nghiệp xây lắp
thắng thầu và được chủ đầu tư thoả thuận ký theo hợp đồng giao nhận thầu.
Về nguyên tắc, giá hợp đồng chỉ được nhỏ hơn hoặc bằng giá đấu thầu công
tác xây lắp.
Việc áp dụng giá đấu thầu công tác xây lắp và giá hợp đồng công tác
xây lắp là yếu tố quan trọng của việc hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế trong
xây dựng. Nó sử dụng quan hệ tiền - hàng tạo ra sự mềm dẻo nhất định trong
quan hệ giữa chủ đầu tư và doanh nghiệp xây lắp trong việc chủ động tính giá
thành sản phẩm của mình cũng như chủ động trong kinh doanh, thích hợp với
cơ chế thị trường, cạnh tranh lành mạnh.


19

1.4. KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM XÂY LẮP DƯỚI GÓC ĐỘ KẾ TOÁN TÀI CHÍNH
1.4.1. Quy định kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
xây lắp trong các chuẩn mực kế toán Việt Nam
1.4.1.1. Kế toán chi phí sản xuất xây lắp theo hướng dẫn của Chuẩn
mực kế toán số 01 “Chuẩn mực chung”
Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế
toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc
phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm
khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu. Chi phí bao gồm chi phí sản
xuất kinh doanh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường
của doanh nghiệp và các chi phí khác
Các nguyên tắc kế toán cơ bản trong chuẩn mực kế toán 01 liên quan đến
việc ghi nhận doanh thu, thu nhập và chi phí
a) Nguyên tắc “Cơ sở dồn tích”: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của DN
liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí
phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh , không căn cứ vào thời điểm
thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền. Báo cáo tài chính lập
trên cơ sở dồn tích phản án tình hình tài chính của DN trong quá khứ , hiện tại
và tương lai
Nguyên tắc kế toán này dựa trên cơ sở dự thu – dự chi, là một trong các
nguyên tắc cơ bản nhất chi phối các phương pháp kế toán cụ thể trong kế toán
doanh nghiệp và được xem là nguyên tắc chính yếu đối với việc xác định lợi
nhuận của doanh nghiệp. Theo đó, mọi giao dịch liên quan đến doanh thu, thu
nhập và chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch, không quan
tâm đến thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×