Tải bản đầy đủ

Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng NNPTNT Việt Nam Chi nhánh Chợ Cầu Hà Nam

1

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của
tôi, được thực hiện dựa trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức chuyên ngành,
nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của TS.
Nguyễn Thị Minh Hạnh.
Các số liệu, bảng biểu có nguồn gốc rõ ràng và những kết quả trong luận văn
là trung thực, các nhận xét, phương hướng đưa ra xuất phát từ thực tiễn và kinh
nghiệm hiện có.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trần Thị Quỳnh Anh


2

MỤC LỤC



3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
DN
DNNQD
NHNN&PTNT
NHTM
NHTMCP
NHTW
TMCP
TNHH

Nguyên nghĩa
Doanh nghiệp
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Ngân hàng nông nghiệp và phát triền nông thôn
Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại cổ phần
Ngân hàng trung ương
Thương mại cổ phần
Trách nhiệm hữu hạn


4

DANH MỤC BẢNG


5

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ


6

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, hệ thống các ngân hàng phát triền mạnh mẽ và được coi là xương
sống của nền kinh tế. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới từng ngày của nền kinh tế, hệ


thống ngân hàng nói chung, NHNN & PTNT Việt Nam nói riêng phải thể hiện được
vai trò của mình trong xu thế phát triển chung của đất nước.
Từ ngày thành lập đến nay, NHNN & PTNT Việt Nam luôn là một trong năm
ngân hàng quốc doanh lớn, hoạt động có uy tín. NHNN & PTNT Việt Nam đã thể
hiện vai trò và khẳng định vị trí chủ đạo của mình tỏng lĩnh vực đầu tư sản xuất
kinh doanh, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, góp phần lớn vào quá trình
công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông thôn. Và trong tất cả các hoạt động của ngân
hàng, hoạt động tín dụng là hoạt động mũi nhọn mang lại nhiều lợi nhuận cao và
chủ yếu trong tổng thể các hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là hoạt động tín dụng
trung và dài hạn. Nó đóng vai trò quan trọng không chỉ đối với ngân hàng mà còn
đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung. Do đó, trong nền kinh tế thị trường
nhiều cạnh tranh như hiện nay, các ngân hàng nói chung và NHNN & PTNT Việt
Nam nói riêng buộc phải đưa ra các biện pháp, phương pháp hoạt động hiệu quả để
áp dụng vào thực tế.
Nâng cao chất lượng tín dụng là vấn đề luôn được quan tâm hàng đầu trong
các hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động kinh doanh nói riêng. Phát triển phải
đi đều với chất lượng thì mới bền vững. Hoạt động tín dụng ngân hàng lai càng phải
như vậy, vì trong các hoạt động của ngân hàng, tín dụng là hoạt động quan trọng
nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất tổng doanh thu từ hoạt động kinh doanh của ngân
hàng. Trong đó, tín dụng trung và dài hạn là nghiệp vụ quan trọng mang lại nhiều
lợi ích thiết thực cho ngân hàng. Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động trung và dài hạn
còn gặp nhiều khó khăn, rủi ro cao... Vì vậy, nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân
hàng nói chung, và chất lượng tín dụng trung và dài hạn nói riêng luôn là nhiệm vụ
và mục tiêu hàng đầu của các ngân hàng. Để đưa ra được một quyết định đầu tư tín
dụng, các ngân hàng phải cân nhắc kĩ lưỡng ước lượng khả năng rủi ro và sinh lợi


7

dựa trên quy trình phân tích tín dụng. Hoạt động tín dụng có ý nghĩa đặc biệt trong
việc đánh giá sức mạnh tài chính, tự chủ tài chính trong kinh doanh nhu cầu tài
trợ và khả năng hoàn trả của khách hàng. nhưng hoạt động này trong các ngân
hàng còn nhiều bất cập. Do đó mà việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp nâng cao
chất lượng tín dụng trung và dài hạn sẽ góp phần quyết định tới hiệu quả kinh
doanh của ngân hàng. Từ đó giúp cho hoạt động tín dụng của ngân hàng sẽ phát
triển ngày càng bền vững.
Đối với NHNN&PTNT chi nhánh Chợ Cầu việc tăng trưởng tín dụng cũng đã
đáp ứng được yêu cầu tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế địa phương, nhưng tỷ lệ
nợ xấu trong những năm qua vẫn còn tồn đọng. Do đó, để đảm bảo cho chi nhánh
CHợ Cầu luôn phát triển một cách bền vững và hiệu quả thì chi nhánh phải luôn
bám sát và thực hiện đúng theo định hướng: nâng cao,tăng trưởng đi đôi với chất
lượng tín dụng.
Từ định hướng đó, tác giả đã chọn đề tài “Chất lượng tín dụng trung và dài
hạn tại Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam - Chi nhánh Chợ Cầu Hà Nam”.
2.Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đề tài
Qua các quá trình tìm hiểu thực tế và tham khảo tài liệu tại các nguồn website,
thư viện, báo chí,....đã cho thấy hoạt động của ngân hàng thương mại luôn thu hút
được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Đã có khá nhiều các công trình nghiên
cứu về NHTM VN liên quan đến quản lý chất lượng tín dụng tại các NHTM. Đây là
nguồn tư liệu quý giá cho việc nghiên cứu luận văn như:
1. Đỗ Thị Liên Chi (2007), luận văn thạc sĩ: “Giải pháp mở rộng và nâng cao chất

lượng tín dụng tại NHNN&PTNT chi nhánh tỉnh Tiền Giang”, Đại học Kinh tế TP
HCM
Luận văn đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận về mở rộng và nâng cao chất
lượng tín dụng tại NHTM. Đồng thời đã chỉ ra được những điểm mạnh, điểm yếu và
đưa ra được những giải pháp nhằm mở rộng, nâng cao chất lượng tín dụng tại
NHNN&PTNT chi nhánh tỉnh Tiền Giang. Tuy nhiên, luận văn mới chỉ đề cập đến
tín dụng nói chung mà chưa tập trung vào tín dụng trung và dài hạn nói riêng.


8

2. Lê Phương Thảo (2013), luận văn thạc sĩ: “Nâng cao chất lượng tín dụng trung và

dài hạn của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần đầu tư và phát triển Việt Nam - Chi
nhánh Ba Đình”, Đại Học Thương Mại.
Luận văn đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng trung và
dài hạn tại NHTM. Tác giả cũng đã đưa ra được các giải pháp thiết thực gắn với
tình hình thực tiễn của ngân hàng nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng tín dụng
trung và dài hạn. Tuy nhiên, do phương pháp và tính chất hoạt động của mỗi ngân
hàng là khác nhau, giải pháp của luận văn có thể phù hợp và mang tính ứng dụng
cao tại BIDV chi nhánh Ba Đình nhưng lại chưa thực sự phù hợp với sự phát triển
của ngân hàng Agribank chi nhánh Chợ Cầu – Hà Nam.
3. Nguyễn Thị Bích Thủy (2012), luận văn thạc sĩ: “Giải pháp nâng cao chất lượng

tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt nam – Chi nhánh Hà Nội”, Học
Viện Tài Chính.
Công trình này đều đã khái quát chung về tình hình hoạt động tín dụng của
NHTM, chỉ ra những tồn tại nguyên nhân từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng tín dụng. Tuy nhiên nghiên cứu chỉ tập trung đưa ra những giải pháp
khắc phục những tồn tại hiện có trong ngân hàng mà chưa quan tâm nhiều đến điều
kiện áp dụng những giải pháp ấy vào thực tế của các NHTM Việt Nam nói chung
hiện nay.
Chính vì thế, luận văn nghiên cứu “Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại
Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam - Chi nhánh Chợ Cầu Hà Nam” sẽ kế thừa những
thành tựu, đồng thời, khắc phục và lấp các khoảng trống trong nghiên cứu từ các
công trình đi trước. Đề tài đi sâu vào thực trạng chất lượng tín dụng trung và dài
hạn tại Ngân hàng là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn của Chi
nhánh Chợ Cầu - Huyện Lý Nhân - Tỉnh Hà Nam.


9

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá các vấn đề về chất lượng tín dụng trung và dài hạn, các chỉ tiêu
đánh giá và nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại ngân
hàng thương mại.
- Phân tích thực trạng chất lượng tín dụng trung và dài hạn đánh giá những
thành công, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động tín
dụng giai đoạn 2014 -2016 trên địa bàn Chợ Cầu - Huyện Lý Nhân – Tỉnh Hà Nam.
- Đề xuất các giải pháp cụ thể, thiết thực góp phần nâng cao chất lượng tín
dụng trung và dài hạn của Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam – Chi nhánh Chợ Cầu
Hà Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu dưới góc độ tiếp cận những vấn đề lý luận và thực tiễn
về chất lượng tín dụng trung và dài hạn của NHNo & PTNT Việt Nam - Chi nhánh
Chợ Cầu Hà Nam.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu các hoạt động tín dụng của ngân hàng, đi
sâu phân tích, đánh giá về chất lượng tín dụng, cụ thể là chất lượng tín dụng trung
dài hạn tại NHNo & PTNT Việt Nam - Chi nhánh Chợ Cầu Hà Nam.
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu dữ liệu và thực tế trong những năm gần đây,
tập trung chủ yếu trong 3 năm 2014, 2015 và 2016 của NHNo & PTNT Việt Nam Chi nhánh Chợ Cầu Hà Nam.
- Về phạm vi vấn đề nghiên cứu: đề tài nghiên cứu về chất lượng hoạt động tín
dụng của ngân hàng, cụ thể là tín dụng trung dài hạn. Từ đó nghiên cứu và đánh giá
thực trạng hoạt động để đưa ra một số giải pháp, kiến nghị giúp nâng cao chất lượng
tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng trong thời gian tới trên địa bàn Chợ Cầu,
Huyện Lý Nhân, Tỉnh Hà Nam.


10

5. Phương pháp nghiên cứu
 Phương pháp luận

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn kết hợp chặt chẽ tư duy biện chứng với
quan điểm lịch sử, xuất phát từ những yêu cầu cụ thể của thực tiễn để xem xét một
cách toàn diện hoạt động của ngân hàng NN&PTNT Việt Nam – Chi nhánh Chợ
Cầu Hà Nam, thực trạng hoạt động tín dụng trong ngân hàng NN&PTNT Việt Nam
– Chi nhánh Chợ Cầu Hà Nam.
 Phương pháp cụ thể

- Phương pháp phân tích thống kê: trên cơ sở các thông tin và tư liệu thu thập từ
các nguồn khác nhau. Luận văn sử dụng phương pháp thống kê kinh tế để hệ thống hóa
và phân tích các dữ liệu nhằm minh họa những nội dung liên quan đến đề tài, tiến hành
so sánh, đánh giá kết hợp với dự báo tình hình để rút ra những nhận xét, kết luận. Trên
cơ sở đó, luận văn khái quát hóa thành những nội dung vừa mang tính lý luận, nguyên
tắc chung, vừa là những mô hình và giải pháp gắn với thực tiễn của ngân hàng.
- Phương pháp điều tra khảo sát: Dữ liệu sơ cấp được thu thập thực tế thông qua
phiếu điều tra khách hàng vay vốn tại Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam – Chi nhánh
Chợ Cầu Hà Nam. Các số liệu và thông tin thu thập được thông qua tiếp cận 200
khách hàng (phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên), phát 200 phiếu và thu về 185 phiếu
hợp lệ. Đây là những thông tin làm căn cứ để đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng
trung và dài hạn của ngân hàng.
Ngoài ra phương pháp được sử dụng để phân tích dữ liệu: đối chiếu, so sánh,
tính chỉ số, tỷ lệ...v...v...
Trong phần trình bày kết quả của luận văn và đề xuất các giải pháp tùy theo
nội dung cụ thể sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh thống kê để
làm rõ vấn đề.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của luận văn đã hệ thống hóa và góp phần
làm rõ hơn về chất lượng tín dụng trung và dài hạn, các chỉ tiêu đánh giá và nhân tố
ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại ngân hàng thương mại.


11

Ý nghĩa thực tiễn: Các kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả chất
lượng tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam – Chi nhánh
Chợ Cầu trên địa bàn huyện Lý Nhân.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở bài và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được chia
thành 3 chương :
Chương 1: Tổng quan về chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại ngân hàng
thương mại.
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng
NN&PTNT Việt Nam – Chi nhánh Chợ Cầu Hà Nam.
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại
Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam - Chi nhánh Chợ Cầu Hà Nam.


12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ
DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Ngân hàng Thương mại và hoạt động tín dụng trung và dài hạn của Ngân
hàng Thương mại
1.1.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại và tín dụng trung và dài hạn
1.1.1.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng, thực hiện các hoạt động
kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi
và sử dụng số tiền này để cho vay, cung ứng các dịch vụ thanh toán và các hoạt
động khác có liên quan.
Khác với các tổ chức kinh doanh khác, mặc dù cùng hoạt động vì mục tiêu lợi
nhuận nhưng đối tượng kinh doanh của Ngân hàng thương mại là tiền tệ, trong đó hoạt
động chủ yếu là huy động tiền gửi trong dân cư và các tổ chức kinh tế để cho vay.
Trên thế giới, có nhiều khái niệm khác nhau về ngân hàng thương mại:
Ở Hoa Kỳ: Ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp
các dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
Ở Pháp: Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường
xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền
mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.
Ở Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam, khoản 2 điều 20: “Ngân
hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động của Ngân hàng
và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt
động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển,
ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân
hàng khác”
Từ những định nghĩa trên về Ngân hàng có thể rút ra được Ngân hàng thương
mại là loại hình doanh nghiệp giao dịch trực tiếp với doanh nghiệp, tổ chức kinh tế,
cá nhân thông qua nghiệp vụ tiền gửi, tiền tiết kiệm rồi sử dụng số vốn đó để cho


13

vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng các dịch vụ ngân
hàng cho các đối tượng trên
Ngoài ra, Ngân hàng thương mại còn thực hiện một loạt các hoạt động khác
như: kinh doanh ngoại hối, tham gia thị trường chứng khoán, góp vốn mua cổ phần,
đầu tư mua trái phiếu, kỳ phiếu và các chứng từ có giá khác, cung cấp dịch vụ tư
vấn, dịch vụ quỹ két, dịch vụ thanh toán…
1.1.1.2. Khái niệm tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng
Trong hoạt động kinh doanh của NHTM, tín dụng trung hạn được hiểu là loại
tín dụng có thời gian hoàn vốn từ 1 đến 5 năm, được sử dụng để thực hiện các dự án
đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. Tín dụng NH trung hạn
được cấp cho khách hàng để mở rộng cải tạo, khôi phục, hoàn thiện, hợp lý hoá quy
trình công nghệ, quy trình sản xuất.
Tín dụng NH dài hạn là loại tín dụng có thời gian hoàn vốn trên 5 năm, được sử
dụng để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời
sống. Hình thức tín dụng này được NHTM cấp cho khách hàng nhằm hỗ trợ việc xây
dựng mới, mở rộng hoặc hoàn thiện quy trình công nghệ, quy trình sản xuất.
Đối với điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay, nhu cầu vốn trung-dài hạn
rất lớn, trong khi các DN chưa có nhiều thời gian để tích luỹ vốn và chưa tích luỹ
được nhiều. Đồng thời việc đầu tư trực tiếp của công chúng qua việc mua trái phiếu,
cổ phiếu do các DN phát hành còn là một vấn đề rất hạn chế. Cho nên trong thực
tiễn nhu cầu về vốn trung- dài hạn của các DN chủ yếu được đáp ứng bởi vốn tự có
cuả DN và đa phần còn lại bằng sự tài trợ của hệ thống NHTM thông qua tín dụng
trung- dài hạn.
1.1.2. Các hình thức tín dụng của Ngân hàng
Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản vay theo nhóm dựa trên một số
tiêu thức nhất định. Phân loại tín dụng một cách khoa học sẽ giúp cho nhà quản trị
lập một quy trình tín dụng thích hợp, giảm thiểu rủi ro tín dụng. Trong quá trình
phân loại có thể dùng nhiều tiêu thức để phân loại, song thực tế các nhà kinh tế học
thường phân loại tín dụng theo các tiêu thức sau đây:


14

 Căn cứ vào mục đích

Dựa vào căn cứ này cho vay thường được chia ra làm các loại sau:
Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây
dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương
mại và dịch vụ.
Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn
lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như
phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu…
Cho vay các định chế tài chính: Bao gồn cấp tín dụng cho các ngân hàng, công
ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các định
chế tài chính khác.
Cho vay cá nhân: Là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua
sắm các vật dụng đắt tiền và các khoản cho vay để trang trải các chi phí thông
thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.
Cho thuê: Cho thuê của các định chế tài chính bao gồm 2 loại cho thuê vận
hành và cho thuê tài chính. Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và động sản,
trong đó chủ yếu là máy móc - thiết bị.
 Căn cứ vào thời hạn cho vay

Theo căn cứ này cho vay được chia làm 3 loại sau:
Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và được sử
dụng để bù đắp sự thiết hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi
tiêu ngắn hạn của cá nhân.
Cho vay trung hạn: Loại cho vay này có thời hạn từ trên 12 tháng đến 5 năm.
Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải
tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các
dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Tín dụng dài hạn là
loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở,
các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.


15

 Căn cứ mức độ tín nhiệm đối với khách hàng

Theo căn cứ này, cho vay được chia làm 2 loại:
Cho vay không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố
hoặc sự bảo lãnh của bên thứ 3, việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách
hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài
chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín
của bản thân khách hàng mà không cần một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung.
Cho vay có bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế
chấp, cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của bên thứ ba.
 Căn cứ phương pháp hoàn trả

Dựa vào căn cứ này cho vay của NHTM được chia làm hai loại:
Cho vay có thời hạn: Là loại cho vay có thoả thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo
hợp đồng, cho vay có thời hạn bao gồm các loại sau:
+ Cho vay chỉ có một thời hạn trả nợ
+ Cho vay có nhiều thời hạn trả nợ cụ thể
+ Cho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn trả nợ cụ thể
Cho vay không có thời hạn cụ thể: Với loại cho vay này, ngân hàng có thể yêu
cầu hoặc người đi vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước một
thời gian hợp lý, thời gian này có thể thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
 Căn cứ xuất xứ tín dụng

Dựa vào căn cứ này cho vay chia làm hai loại:
- Cho vay trực tiếp: Trước khi cấp tiền ra, ngân hàng có mối liên hệ trực tiếp
đối với người vay để thẩm định khách xem xét tình hình người vay…
- Cho vay gián tiếp: Ngân hàng bỏ tiền ra cho vay nhưng không có liên hệ
gì với người vay. Vì dụ: cho vay hợp vốn đối với ngân hàng khác.
1.1.3. Phân loại tín dụng trung và dài hạn
1.1.3.1.Cho vay theo đầu tư dự án
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về dự án đầu tư như: quan niệm về
Ngân hàng Thế Giới, ISO 8402 ... Nhìn chung các quan niệm vay đều có những


16

điểm khác nhau khi tếp cận dự án đầu tư. Nhưng khi xem xét một dự án đầu tư họ
đều chú ý đặc trưng sau :
- Dự án đầu tư có mục tiêu rõ ràng cần đạt tới khi thực hiện.
- Dự án đầu tư không phải là một nghiên cứu hay dự báo mà là một quá trình
tác động để đạt đến mục tiêu mong đợi.
- Dự án đầu tư là một hoạch định cho tương lai nên bao giờ cũng có bất ổn
định và rủi ro nhất định.
- Các hoạt động của dự án đầu tư theo một kế hoạch (trong một khoảng thời
gian ) và có giới hạn nhất định về nguồn lực.
Xét về mặt hình thức thì dự án đầu tư là tập hồ sơ, tài liệu trình bầy một cách
chi tiết và co hệ thống một chương trình hoạt động và các chi phí tương ứng để đạt
mục tiêu nhất định trong tương lai. Các khoản cho vay dự án có thể được thế chấp
trên cơ sở bảo lãnh theo đó người cho vay có thể khôi phục vốn từ những tổ chức
thực hiện bảo lãnh nếu như dự án không trả nợ đúng kế hoạch đã định. Tuy nhiên,
khoản vay cũng có thể cung cấp không dựa trên cơ sơ bảo lãnh, không có người
đứng ra bảo lãnh, dự án tồn tại hay sụp đổ dưa trên chính giá trị của nó. Trong
trường hợp này người cho vay đối mặt với rủi ro rất lớn và họ yêu cầu một mức lãi
suất cao hơn những khoản cho vay có đảm bảo. Các khoản vay như vậy ngân hàng
thường đòi hỏi các tổ chức tài trợ dự án phải thế chấp tài sản cho đén khi dự án
hoàn tất.
1.1.3.2. Cho vay luân chuyển
Một khoản tín dụng luân chuyển cho phép khách hàng kinh doanh có thể vay
tới một mức tối đa xác định trước, hoàn trả toàn bộ hoặc một phần khoản vay, và
tiếp tục vay khi có nhu cầu cho đến khi hợp đồng tín dụng hết hạn. Là một trong
những khoản cho vay kinh doanh linh hoạt nhất, yêu cầu tín dụng luân chuyển
thường được ngân hàng chấp nhận mà không đòi hỏi bảo đảm bằng bất cứ tài sản
nào. Các khoản cho vay như vậy có thể là ngắn hạn hoặc có thể kéo dài 3 , 4 thậm
chí 5 năm. Loại hình tín dụng này được áp dụng nhiều nhất khi khách hàng không
chắc chắn về thời gian của các luồng tiền mặt hoặc về quy mô chính xác của nhu


17

cầu vay vốn trong tương lai. Tín dụng luân chuyển giúp hãng có thể giảm mức độ
biến động trong chu kì kinh doanh, cho phép hãng vay thêm tiền mặt trong lúc khó
khăn khi mà doanh số bán hàng giảm và cho phép hoàn trả khi nguồn thu bằng tiền
của hãng tăng lên. ở những nơi mà pháp luật quy định về việc ngân hàng phải chấp
nhận mọi yêu cầu vay vốn trong thời hạn của hạn mức tín dụng thì ngân hàng
thường sẽ tính phí cam kết vay vốn trên phần tín dụng không sử dụng hoặc trên toàn
bộ giá trị hợp đồng cho vay luân chuyển.
Cam kết vay vốn thường có 2 loại:
- Loại phổ biến nhất là cam kết vay vốn chính thức, là cam kết có tính chất
hợp đồng trong đó ngân hàng đảm bảo sẽ cho khách hàng vay tới lượng vốn tối đa
xác định trước với lãi suất đã ấn định hoặc với lãi xuất thay đổi trên cơ sở những lãi
xuất cơ bản như LIBOR. Đối với loại cam kết này, ngân hàng có thể không thực
hiện nghĩa vụ cho vay nếu như tình hình tài chính của người vay có những thay đổi
bất lợi nghiêm trọng hoặc khi ngượi vay không thực hiện đầy đủ các điều khoản
trong hợp đồng với ngân hàng.
- Loại thứ hai ít chặt chẽ hơn là hạn mức tín dụng bảo đảm, theo đó ngân hàng
đồng ý cho khách hàng vay trong trường hợp khẩn cấp. Mặc dù lãi suất không được
ấn định trước và khách hàng ít khi có ý định vay tiền theo hình thức này nhưng họ
vẫn kí hợp đồng với mục đích dùng nó như một vật bảo đảm để có thể vay vốn từ
những nguồn khác. Ngân hàng chỉ dùng những cam kết nới lỏng cho các hãng có
chất lượng tín dụng cao nhất và thường định giá thấp hơn nhiều so với lại cam kết
cho vay chính thức. Cam kết tín dụng loại này cho phép khách hàng nhanh chóng
nhận được tiền vay và đây là một ưu điểm quan trọng nếu như khách hàng muốn
vay vốn từ một tổ chức khác.
Trong những năm gần đây một loại hình tín dụng luân chuyển mới đã xuất
hiện thông qua việc sử dụng thẻ tín dụng. Hiện nay, hơn 1/3 các doanh nghiệp sử
dụng thẻ tín dụng như một nguồn vốn hoạt động hiệu quả và nhờ đó tránh việc phải
thường xuyên lập các đơn xin vay cho ngân hàng. Tuy nhiên một vấn đề hạn chế đối
với việc sử dụng loại vốn này là chi phí vay vốn thường rất cao.


18

1.1.3.3. Cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc
cho thuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở
hợp đồng cho thuê với bên thuê. Bên cho thuê cam kết mua máy móc thiết bị,
phương tiên vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm
quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán
tiền thuê trong suốt thời hạn thuê được hai bên thoả thuận.
Cho thuê tài chính về bản chất là một hoạt động tín dụng trong đó mục đích
của người cho thuê cũng giống như mục đích của người cho vay là thu lãi tiền vốn
đầu tư, còn mục đích của người đi vay cũng như ngưòi đi thuê là sử dụng vốn.
Nhưng cho thuê tài chính vẫn có đăc trưng riêng biệt cụ thể:
- Hình thức cấp tín dụng của cho thuê tài chính là bằng tài sản, người đi thuê
chỉ có quyền sử dụng tài sản, định kỳ thanh toán tiền thuê theo thoả thuận.
- Thời gian cho thuê thường chiếm phân lớn thời gian hoạt động của tài sản,
trong thời gian nàyngười đi thuê không được huỷ hợp đồng ngang. Hết thời hạn của
hợp đồng thuê có thể được chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản hay tiếp tục thuê
theo thoả thuận hai bên
- Bên cho thuê dễ dàng kiểm tra việc sử dụng tài sản đánh giá hiệu quả sử
dụng tài sản thuê, phát hiện sớm những rủi ro tiềm ẩn để có những biện pháp sử lý
kịp thời.
Tất cả tài sản cho thuê phải được bảo hiểm trong suốt thời gian cho thuê,
việc mua bảo hiểm phải được thưc hiện trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm tại một
công ti bảo hiểm được phép hoạt động tại Việt Nam do bên cho thuê chỉ định.
Qui trình quản lý và theo dõi hồ sơ bảo hiểm tài sản cho thuê do giám đốc bên
cho thuê quyết định.
1.1.3.4. Cho vay tiêu dùng
Nhằm giúp người tiêu dùng có nguồn vốn tài chính để trang trải nhu cầu về
nhà ở, đồ dùng gia đình ... Ngân hàng Thương Mại thực hiện cho vay tiêu dùng, căn
cứ vào cách thức hoàn trả, cho vay tiêu dùng có thể chia làm 3 loại sau:


19

- Cho vay tiêu dùng trả một lần: Theo cách cho vay này, khách hàng thanh
toán cho ngân hàng một lần cho đến khi đến hạn. Loại cho vay này thường áp dụng
đối với khoản vay vó giá trị nhỏ, thời gian cho vay không dài.
- Cho vay tiêu dùng trả góp: Loại cho vay thường áp dụng đối với các khoản
vay có giá trị lớn hay thu nhập đinh kỳ của người vay không đủ khả năng thanh toán
hết một lần số nợ vay.
- Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: Cho vay tiêu dùng tuần hoàn là khoản cho vay
trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng. Trong thời gian thoả
thuận, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập từng thời kỳ, khách hàng thực hiện
vay và trả nợ một cách tuần hoàn theo một hạn mức tín dụng. Hình thức cho vay
này có rủi ro tương đối thấp nhưng có lãi suất cao, tuy nhiên ngân hàng chịu những
chi phí cao về dịch vụ và quản lý.
1.1.3.5. Cho vay hợp vốn
Cho vay hợp vốn là hình thức cho vay trong đó có từ 2 hay nhiều tổ chức
tín dụng tham gia vào một dự án đầu tư hay phương án sản xuất kinh doanh của
một khách hàng vay vốn. Bên cho vay hợp vốn là hai hay nhiều tổ chức tín dụng
cam kết với nhau để thực hiện đồng tài trợ cho một dự án. Bên nhận tài trợ là
pháp nhân hay tổ tổ chức có nhu cầu và được bên đồng tài trợ cấp tín dụng để
thực hiện dự án.
Điều kiện áp dụng cho vay hợp vốn:
- Nhu cầu xin cấp tín dụng để thực hiện dự án của bên nhận tài trợ vượt quá
giới hạn cho vay của một ngân hàng theo quy định hiện hành
- Khả năng tài chính và nguồn vốn của một ngân hàng không đáp ứng được
nhu cầu cấp tín dụng của dự án đầu tư.
- Nhu cầu phân tán rủi ro của ngân hàng.
- Bên nhận tài trợ có nhu cầu huy động vốn từ nhiều ngân hàng.
Nguyên tắc tổ chức việc cho vay hợp vốn:
- Các thành viên tự nguyện tham gia và phối hợp với nhau để thực hiện.
- Các thành viên thống nhất lựa chọn một ngân hàng làm đầu mối.


20

- Hình thức cấp tín dụng và phương thức giao dịch giữa các bên tham gia cho
vay hợp vốn với bên nhận tài trợ phải được các bên thoả thuận ghi trong hợp đồng
cho vay hợp vốn.
Trường hợp có vấn đề phát sinh trong quá trình hợp vốn, các bên tham gia cho
vay hợp vốn cùng thoả thuận và thống nhất với bên nhận tài trợ để xử lý theo hợp
đồng. Mọi tranh chấp do vi phạm hợp đồng cho vay hợp vốn và hợp đồng tín dụng
được các bên giải quyết trên cơ sở đàm phán thoả thuận. Trường hợp không giải
quyết được các bên có quyền khởi kiện theo qui định của pháp luật.
1.1.4 Đặc điểm của tín dụng trung và dài hạn
1.1.4.1. Tính rủi ro lớn
Bản chất của tín dụng trung –dài hạn khác so với tín dụng ngắn hạn là thời hạn
cho vay dài hơn. Tín dụng ngắn hạn đáp ứng nhu cầu thanh toán ngắn hạn do đó có
tính nâng cao, có thể xem như là một bộ phận đảm bảo khả năng thanh toán của
ngân hàng. Trái lại, tín dụng dài hạn thương được đầu tư vào mở rộng sản xuất, xây
dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới trang thiết bị khoa học công nghệ, dây chuyền sản xuất
hiện đại, tức là các dự án chưa có khả năng sinh lời trong thời gian ngắn nên thời
hạn của các khoản tín dụng này thường dài và chỉ được hoản trả khi xuất hiện
nguồn thu từ dự án, mà thời hạn cho vay càng dài thì tính rủi to càng cao.
1.1.4.2. Lãi suất cao
Đặc điểm này thực chất là hậu quả của đặc điểm trên. Một khoản vay chứa
đựng nhiều rủi ro hơn chắc chắn phải trả lãi suất cao hơn để có thể bù đắp cho
những rủi ro có thể xảy ra.
1.1.4.3.Giá trị khoản vay lớn
Đối tượng chủ yếu của tín dụng trung và dài hạn là chính là những chi phí để
hình thành nên cơ sở vật chất kỹ thuật mới hoặc cải tạo, mở rộng, nâng cấp cơ sở
vật chất kỹ thuật đã có sẳn của doanh nghiệp. Đây là hoạt động rất đa dạng và phức
tạp, cần phải có sự sắp xếp, bố trí các công việc một cách khoa học, tiến hành thực
hiện theo một trình tự nhất định, có sự quản lý chặt chẽ. Đặc biệt đòi hỏi không thể
thiếu được đó là doanh nghiệp phải có một khối lượng vốn lớn nhằm tạo ra một tài


21

sản cố định, một năng lực sản xuất mới. Vì vậy, giá trị khoản vay lớn cũng là một
đặc điểm của tín dụng trung và dài hạn.
1.1.5 Vai trò của tín dụng trung và dài hạn
1.1.5.1 Vai trò của tín dụng trung và dài hạn đối với doanh nghiệp
- Tín dụng trung dài hạn là nguồn tài trợ giúp doanh nghiệp có điều kiện
mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường. Mở rộng quy mô sản xuất, mở
rộng thị trường là mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp
ngày càng lớn mạnh, cạnh tranh hơn trong nền kinh tế thị trường. Doanh nghiệp
nào cũng muốn mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường nhưng hoạt động
này cần phải có nguồn vốn lớn và trong thời gian dài, không thể một sớm một
chiều được. Đây là điều mà không phải doanh nghiệp nào cũng làm được với
nguồn vốn tự có của mình. Do vậy, nhu cầu vốn trung dài hạn để sản xuất kinh
doanh là rất lớn. Có nhiều cách để một doanh nghiệp huy động nguồn vốn trung
dài hạn như: vay ngân hàng, phát hành cổ phiếu,... Song, với những lợi thế đặc
thù, tín dụng trung dài hạn ngân hàng là hình thức được các doanh nghiệp ưu tiên
chọn lựa hơn cả.
- Tín dụng trung và dài hạn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới
công nghệ, thay đổi cơ cấu sản xuất. Xã hội, nền kinh tế toàn cầu đang biến đổi
từng ngày cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ. Ứng dụng khoa học
công nghệ kỹ thuật trong sản xuất giúp sản xuất ngày càng mở rộng, giảm giá
thành, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tín dụng trung dài hạn sẽ
giúp các doanh nghiệp làm được việc đó, giúp doanh nghiệp thích nghi với tình
hình thị trường, với đặc thù của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp
kinh doanh có hiệu quả.
- Tín dụng trung và dài hạn là trợ thủ đắc lực của doanh nghiệp trong việc
thỏa mãn và chớp cơ hội kinh doanh. Cơ hội kinh doanh xuất hiện trên thị trường
nhưng không phải lúc nào doanh nghiệp cũng có đủ nguồn vốn để chớp lấy được
những cơ hội ấy. Chớp lấy cơ hội kinh doanh là một việc hết sức quan trọng vì
nó giúp cho doanh nghiệp ngày càng phát triển, có được cơ hội mà các doanh


22

nghiệp khác không có, tạo thế dẫn đầu. Tín dụng trung dài hạn sẽ giúp doanh
nghiệp thực hiện được điều này. Khi doanh nghiệp đi vay vốn tại ngân hàng
thương mại sẽ có thể được điều chỉnh kỳ hạn nợ, tránh được các chi phí phát
hành, lệ phí bảo hiểm, lệ phí đăng ký,... Việc trả nợ cũng được xây dựng theo
một sự phân chia ổn định và hợp lý để doanh nghiệp có thể chủ động tìm kiếm
các nguồn trả nợ một cách dễ dàng.
1.1.5.2 Vai trò của tín dụng trung và dài hạn đối với nền kinh tế
- Tín dụng trung dài hạn thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn, điều
hòa lượng cung cầu về vốn trong nền kinh tế, giúp nền kinh tế phát triển theo
chiều sâu. Ngân hàng thương mại có chức năng chủ yếu là trung gian tài chính,
tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và cho vay đối với các đối tượng
có nhu cầu. Ngân hàng thương mại là một kênh truyền dẫn vốn hiệu quả từ nơi
thừa vốn đến nơi thiếu vốn, nó giúp các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế
nói chung hoạt động liền mạch , không đứt quãng, hiệu quả cao. Những điều này
cũng được thể hiện rõ trong hoạt động tín dụng trung, dài hạn. Thông qua cho
vay trung dài hạn mà xây dựng được cơ sở hạ tầng, đổi mới khoa học công nghệ,
đấy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng, đầu tư phát triển kinh tế, thúc đẩy lưu
thông hàng hóa, đẩy nhanh quá trình chu chuyển tiền tệ.
- Tín dụng trung và dài hạn có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn. Chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn là chủ trương chung của
Đảng và Nhà nước ta và tín dụng trung dài hạn có vai trò quan trọng trong vấn
đề này. Đầu tư cho vay trung dài hạn góp phần phát triển khoa học công nghệ,
tạo công ăn việc làm, ổn định lạm phát, nâng cao đời sống dân cư, phát triển lực
lượng lao động, giúp nền kinh tế tăng trưởng ổn định.
- Tín dụng trung và dài hạn tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế đối
ngoại. Hiện nay trong nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế của một quốc gia không
đứng độc lập riêng rẽ mà nằm trong tổng thể của nền kinh tế thế giới và chịu sự
ảnh hưởng nhất định của nó. Tín dụng trung dài hạn đã trở thành một trong


23

những phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau thông qua các hình thức:
tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu, tín dụng hỗ trợ phát triển, cho vay viện trợ,.... Vì
vậy nâng cao chất lượng tín dụng là nhiệm vụ có ý nghĩa to lớn với sự phát triển
kinh tế quốc gia nói riêng và nền kinh tế toàn cầu nói chung. Đối với nước ta,
vấn đề này là hết sức cấp thiết vì nhu cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa là rất lớn trong khi quá trình sử dụng vốn lại có nhiều bất cập, hiệu
quả thấp, gây thất thoát lãng phí.
1.1.5.3 Vai trò của tín dụng trung và dài hạn đối với hoạt động của ngân hàng
- Tín dụng trung dài hạn mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, nâng
cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Các khoản tín dụng trung dài hạn có
đặc điểm số lượng lớn, lãi suất cao, thời gian dài, do vậy nó là hoạt động có tính
chiến lược của ngân hàng, mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng. Từ đó sẽ
giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại.
- Giúp tạo ra và duy trì khách hàng của mình trong tương lai. Bằng việc
cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng đã duy trì và tạo ra các khách hàng của
mình trong tương lai. Ngân hàng là ngành có môi trường cạnh tranh gay gắt.
Điều đó bắt buộc mỗi ngân hàng phải không ngừng vận động, đa dạng hóa hoạt
động cho vay, đa dạng hóa khách hàng nếu muốn đứng vững trên thị trường
trước sự cạnh tranh của các ngân hàng khác. Tín dụng trung dài hạn chính là một
công cụ hiệu quả để lôi kéo khách hàng mới về phía mình và giữ chân được các
khách hàng truyền thống.
- Tín dụng trung và dài hạn còn là cách thức khả thi để giải quyết nguồn
vốn huy động còn dư thừa tại mỗi ngân hàng thương mại.
1.2 Chất lượng tín dụng trung và dài hạn của NHTM
1.2.1 Khái niệm chất lượng tín dụng trung và dài hạn
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn đứng vững và phát triển,tất
yếu phải không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động .Trong các yếu tố như: chất
lượng, giá cả...mà doanh nghiệp phải cạnh tranh trên thị trường, thì chất lượng là yếu tố
quan trọng nhất. Chất lượng được nâng cao đảm bảo thoả mãn nhu cầu của khách hàng


24

cả về chất lượng và giá cả, tạo điều kiện nâng cao khả năng chiếm lĩnh thị trường của
doah nghiệp. Chất lượng được các nhà kinh tế định nghĩa bằng nhiều cách.
Chất lượng cho vay trung và dài hạn được hiểu theo đúng nghĩa là vốn cho
vay trung và dài hạn của ngân hàng được khách hàng đưa vào quá trình sản xuất
kinh doanh, dịch vụ… để tạo ra một số tiền lớn hơn vừa để hoàn trả ngân hàng gốc
và lãi vừa trang trải chi phí khác và có lợi nhuận.
Chất lượng tín dụng trung dài hạn là chất lượng của các khoản vay có thời
hạn trên một năm, được đánh giá là có chất lượng tốt khi vốn vay được sử dụng
đúng mục đích phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh đem lại hiệu quả,
đảm bảo trả nợ cho ngân hàng đúng hạn, vừa có lợi nhuận vừa đem lại hiệu quả
kinh tế xã hội
Từ khái niệm trên ta thây rằng khách hàng, NHTM, và bối cảnh kinh tế là ba
nhân tố được đề cập đến khi xem xét chất lượng hoạt động tín dụng trung dài hạn.
Do đó chúng ta xem xét chất lượng tín dụng trung dài hạn trên ba giác độ đó


Đối với Ngân hàng Thương mại: chất lượng tín dụng trung dài hạn thể hiện ở phạm
vi, mức độ giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực của ngân hàng và phải bảo
đảm được khả năng cạnh tranh trên thị trường. Chất lượng tín dụng trung dài hạn
thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận hợp lý, dư nợ tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn hợp lý, đảm
bảo cơ cấu giữa nguồn vốn ngắn hạn, trung dài hạn trong nền kinh tế.



Đối với khách hàng: chất lượng tín dụng trung dài hạn là sự thoả mãn yêu cầu
hợp lý của khách hàng với lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản nhưng vẫn tuân thủ đúng
những quy định của tín dụng



Đối với nền kinh tế: khoản tín dụng trung dài hạn có chất lượng phải hỗ trợ cho
hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết công ăn việc làm, xây dựng cơ sở hạ tầng
kinh tế, vừa thúc đẩy tiêu dùng, thu hút tối đa nguồn vốn trong nước, đồng thời
tranh thủ vốn đầu tư nước ngoài phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế.
Như vậy, chúng ta có thể rút ra một số vấn đề về cách tiếp cận khái niệm chất
lượng cho vay hay chất lượng tín dụng:
Chất lượng cho vay trung và dài hạn là một khái niệm tương đối, nó vừa mang
tính cụ thể, vừa manh tính trừu tượng .


25

Chất lượng cho vay trung và dài hạn là một chỉ tiêu tổng hợp , nó phản ánh
mức độ thích nghi của ngân hàng với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể
hiện sức mạnh của ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại.
Chất lượng cho vay trung và dài hạn không tự nhiên sinh ra, nó là kết quả của
quá trình kết hợp các hoạt động giữa những người trong cùng một tổ chức, giưã các
tổ chức với nhau vì một mục đích chung. Do đó để nâng cao chất lượng cho vay
trung và dài hạn cần phải có sự quan tâm đặc biệt đến công tác quản lý đồng bộ.
Phân tích và đánh giá đúng chất lượng cho vay trung và dài hạn, xác định
đựoc nguyên nhân của những tồn tại trong lĩnh vực này sẽ giúp ngân hàng tìm được
những biện pháp quản lý thích hợp.
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng trung và dài hạn
1.2.2.1 Từ phía khách hàng
- Dự án sử dụng vốn vay có đủ cơ sở pháp lý, kinh tế, kỹ thuật để thực hiện được.
- Các lãi suất tiền vay (chi phí vốn vay) cạnh tranh.
Đây là tiêu chí được khách hàng quan tâm hàng đầu khi tiếp cận với nguồn
vốn của ngân hàng. Trong một ngân hàng cụ thể thì lãi suất của các khoản vay là
không hoàn toàn giống nhau, nó phụ thuộc vào mức độ rủi ro tiềm ẩn của mỗi
khoản vay đó, mức độ rủi ro nhiều hay ít là do đánh giá chủ quan của ngân hàng.
Đối với tín dụng trung và dài hạn, thời gian vay dài, giá trị khoản vay lớn nên ngân
hàng phải xem xét rất kỹ lưỡng và thông thường lãi suất cho vay sẽ tỷ lệ thuận với
mức độ rủi ro của khoản vay.
Còn xét trên tổng thể ngành ngân hàng trên cơ sở cạnh tranh giữa các ngân
hàng thương mại thì lãi suất dịch vụ tín dụng nói chung và tín dụng trung và dài hạn
nói riêng của các Ngân hàng thường không giống nhau.
-

Thời gian bình quân để xét duyệt một khoản vay trung và dài hạn
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay, thời gian được
đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng có thể ảnh hưởng rất lớn, quyết định sự
thành bại của một phương án kinh doanh. Chính vì thế mà tiêu chí này ảnh hưởng
rất lớn đến việc lựa chọn Ngân hàng để vay vốn của khách hàng. Để tránh mất đi


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×