Tải bản đầy đủ

sang kien giao vien chu nhiem voi viec ren giu vo sach viet chu dep cho hoc sinh lop 1

BÁO CÁO SÁNG KIẾN
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Giáo viên chủ nhiệm với việc rèn giữ vở sạch, viết chữ
đẹp cho học sinh lớp 1
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục và Đào tạo
3. Phạm vi áp dụng sáng kiến: Trường TH&THCS Hoàng Văn Thụ và 1 số
trường trên địa bàn thị xã Nghĩa Lộ
4. Thời gian áp dụng sáng kiến: từ 2014 đến nay
5. Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Nhịp
Năm sinh: 25/08/1980
Trình độ chuyên môn: Cao đẳng Tiểu học
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường TH&THCS Hoàng Văn Thụ
Địa chỉ liên hệ: Tổ 3 phường Cầu Thia, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái
Điện thoại: 01664738846
6. Đồng tác giả ( nếu có)
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP SÁNG KIẾN
1. Tình trạng giải pháp đã biết:
Mục tiêu của phân môn Tiếng Việt ở tiểu học là: Hình thành và phát triển
ở trẻ 4 kỹ năng đọc - nghe - nói - viết. Trong đó hai kỹ năng đọc - viết được ưu

tiên vì học sinh có đọc thông, viết thạo thì mới học được các môn học khác và
mới học được lên lớp trên, Đọc - viết là hai kỹ năng quan trọng như vậy; đặc
biệt rèn học sinh viết chữ là góp phần giáo dục học sinh ý thức trân trọng nét
đẹp văn hoá, truyền thống của dân tộc, đồng thời cũng góp phần quan trọng vào
việc rèn luyện cho học sinh những phẩm chất đạo đức tốt như: Tính cẩn thận,
lòng kiên trì, khiếu thẩm mĩ, óc sáng tạo " Rèn nét chữ" là "Luyện nết người".
Như chúng ta đã biết, về cơ bản, việc dạy học phân môn Tập viết trong
trường tiểu học chính là quá trình hướng dẫn, tổ chức học sinh thực hành luyện
tập về kĩ năng viết chữ. Muốn dạy cho học sinh kĩ năng viết chữ đúng yêu cầu,
luyện cho học sinh viết chữ ngày càng đẹp, ngoài việc nắm vững nội dung,
phương pháp dạy học, giáo viên cần có năng lực thẩm mĩ để cảm nhận được vẻ
đẹp của chữ viết, có khả năng viết chữ đẹp để làm mẫu cho học sinh noi theo.
Thực tế cho thấy, từ khi thực hiện quyết định số 31/ 2002/ QĐ-BGD &
ĐT ngày 14/6/2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo về việc ban hành
mẫu chữ trong trường tiểu học, chất lượng chữ viết của học sinh ngày càng có
những chuyển biến rõ rệt được thể hiện rõ qua các hội thi " Viết chữ đẹp" hàng


năm do các cấp tổ chức. Thường thường lớp nào giáo viên viết chữ đẹp thì lớp
đó có nhiều học sinh viết chữ đẹp.
Để luyện viết chữ đẹp và đúng mẫu, người giáo viên cần kiên trì phấn
đấu- rèn luyện và đúc rút những kinh nghiệm quý báu.
Những năm trước đây mỗi giáo viên đứng 1 lớp phạm vi học sinh mà
giáo viên giảng dạy giáo dục và hướng dẫn chỉ khoảng từ 30 -> 35 HS, thời gian
mỗi tiết học có thể sử dụng triệt để 40 phút /1 tiết học. Từ khi thực hiện thông tư
35/ 2006/TTLT/BGĐT - BNV ngày 23/8/2006 của Bộ GD - ĐT, Bộ nội vụ. Giáo
viên (GV) dạy theo môn theo tiết, phạm vi học sinh (HS) mà GV giảng dạy và
giáo dục tăng lên gấp 3 đến 4 lần. Thời gian GV chuyển lớp từ lớp này sang
lớp kia và ổn định tổ chức cho tiết học đã chiếm ít nhất từ 3 -> 5 phút ( mà 3 ->
5 phút đó rất quan trọng cho việc kiểm tra sách vở, chấm bài tay đôi với HS để
giúp HS nhận ra lỗi sai của mình trong việc rèn chữ). Hơn nữa mỗi lớp có ít
nhất từ 3 đến 7 GV giảng dạy. Mỗi thầy cô có cách trình bày, cách rèn khác
nhau nên khó có 1 bộ vở sạch- đẹp.
Hiện nay có rất nhiều giáo viên đưa ra những giải pháp rèn chữ - giữ vở
cho học sinh, song với đặc thù trường TH&THCS Hoàng Văn Thụ thường
xuyên có từ 95 -> 99 % HS là HS dân tộc thiểu số và có 1 số người cho rằng các
phương tiện hiện đại thay thế chữ viết, chỉ cần biết mặt chữ là được; Hơn nữa
trình độ dân trí của 1 số phụ huynh vùng thấp cho rằng " Biết chữ chẳng để làm
gì, làm ruộng và lấy vợ ( chồng) cần gì học. Đặc biệt, tiếng nói của các em có
nhiều lỗi do ảnh hưởng tiếng mẹ đẻ nên các em thường viết sai. Ví dụ (VD) các


em HS dân tộc thái thường lẫn âm l - đ, b - v,..... HS còn 1 số em là HS kinh
cũng mắc 1 số lỗi như l - n, tr - ch, dân tộc tày không đọc, viết chuẩn các
nguyên âm đôi iê,....Nếu không có biện pháp rèn luyện phối hợp giữa nói và viết
thì các em sẽ đem lỗi đó suốt đời.
VD: Khi các em viết câu: Việt Nam đất nước ta ơi!
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn.
Thành:
Việt Lam đất lước ta ơi!
Mênh mông biển núa đâu trời đẹp hơn.
Hoặc:
Biệt Nam lất nước ta ơi!
Mênh mông viển lúa lâu trời lẹp hơn..
Gây cho người xem chẳng hiểu nội dung bài viết - Thật nguy hiểm!... Vì vậy, tôi
thấy cần phải chọn phương pháp hình thức dạy học, rèn luyện chữ viết cho học
sinh lớp 1 nói riêng và HS tiểu học nói chung. Bởi vậy tôi chọn đề tài sáng kiến:
Giáo viên chủ nhiệm với việc rèn giữ vở sạch, viết chữ đẹp cho học sinh lớp 1
2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
2.1. Mục đích của giải pháp:
Chất lượng chữ viết của học sinh tiểu học, là một trong những yêu cầu cơ
bản của chất lượng học tập môn tiếng việt; Kỹ năng viết chữ đúng, rõ ràng,
2


nhanh, trình bày vở sạch đẹp theo yêu cầu đề ra sẽ góp phần tạo điều kiện cho
các em học sinh học tốt các môn học ở trường. Đồng thời hình thành được nhiều
thói quen và phẩm chất quý báu. Kỹ năng viết chữ được hình thành, rèn luyện
trước tiên trong giờ tập viết, được củng cố và hoàn thiện thêm trong giờ học các
bộ môn khác ở nhiều lúc, nhiều nơi. Do vậy, nó đòi hỏi sự quan tâm và trách
nhiệm của tất cả giáo viên và cán bộ quản lý, từ đó mở rộng ra cả các bậc phụ
huynh và toàn thể xã hội.
Đề tài sáng kiến đề cập nghiên cứu, tìm tòi, kiểm nghiệm thực tế, lựa
chọn phương pháp giảng dạy, biện pháp rèn chữ viết đúng, đẹp, nhanh, giữ vở
sạch cho học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 trường TH&THCS
Hoàng Văn Thụ nói riêng để chất lượng vở sạch – chữ đẹp của nhà trường được
nâng lên.
2.2. Nội dung giải pháp:
2.2.1. Công tác tuyên truyền:
a. Để thu hút sự quan tâm của phụ huynh đến con em họ thì cần làm tốt
công tác tuyên truyền: Cho họ thấy điểm mạnh và khả năng có thể đạt được của
con em họ; Tổ chức cho họ tham quan kết quả của học sinh năm trước ngay khi
họp phụ huynh đầu năm; Đồng thời cho phụ huynh biết kết quả rèn luyện của
con em họ sau từng tuần, từng tháng trên bảng thi đua, trên panô dán kết quả
luyện chữ của lớp, trên những trang vở; tuyên dương trong những buổi chào cờ
về sự tiến bộ, về sự cố gắng, về sự quan tâm của gia đình, kích thích tính sĩ diện
trong mỗi con người.
b. Song song với những việc làm đó, người giáo viên phải biết yêu thương
con em họ bằng những việc làm, bằng những hành động cụ thể, mà họ cảm nhận
được và họ nhìn thấy bằng mắt. Làm tốt được những điều đó chắc chắn sẽ nhận
được rất nhiều từ phụ huynh. Cho dù có khó khăn đến đâu, họ cũng cố gắng đáp
ứng yêu cầu của giáo viên (tuy nhiên giáo viên cần điều tra kỹ hoàn cảnh của
từng em để đặt yêu cầu trong mức có thể)
2.2.2. Công tác nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục:
Để làm tốt được công tác này người giáo viên phải nắm vững nhiệm vụ
của bản thân trong việc dạy học sinh tập viết, hướng dẫn học sinh rèn chữ - giữ
vở. Từ đó, mỗi giáo viên phải tự học, tự bồi dưỡng, kiên trì rèn luyện làm gương
tốt cho học sinh noi theo. Đặc biệt cần lưu ý một số vấn đề sau:
Một là, GV cần dành thời gian hướng dẫn kỹ các nét cơ bản ở tuần một
và tuần hai của chương trình học (tốt nhất là ở chương trình học 36 buổi trong
hè – nếu nhà trường tổ chức). Hướng dẫn thêm hai nét ḋḌ vào buổi chiều học
15 phút đầu giờ. Đây là thời điểm khó khăn nhất của cả thầy và trò vì:
* Trò đang ở giai đoạn chơi chuyển sang giai đoạn học, cầm phấn, cầm
bút viết; Tay các em yếu, mềm cộng với tính hiếu động nếu giáo viên không
kiên trì nhẫn lại, không gần gũi yêu thương, không tạo cho trẻ niềm tin yêu, sự
3


hứng thú khám phá các nét chữ thì chất lượng chữ viết của trẻ không như mong
muốn.
* Thời gian này phải cho trẻ “Chơi mà học”, “Học mà chơi” ví dụ như:
Tổ chức thi viết đúng, thi tìm nhanh nét chữ (chữ cái) do giáo viên yêu cầu, vẽ
lại nét đó (viết lại chữ đó) vào bảng con hoặc viết nhanh các chữ cái có trong
tranh:
Giáo viên vừa nói vừa vẽ " Cô cho em 2 điểm (được số 2 và chữ q). Mẹ
cho em năm trăm (được chữ o). Em đi mua ngòi bút (được chữ v). Mẹ đánh cho
ba roi ( được chữ i). Em chạy vòng quanh sân ( Được chữ s). Thế là được 1 con
vịt. Con vịt đang bơi dưới nước sóng to này( được chữ n, m, p). Có con cá đang
bơi ( được chữ l).Trên bầu trời có mây ( Được số 8, số 3, chữ b)..
Học sinh nhìn tranh viết nhanh các chữ cái và số như q, o, v, m, n, p , b, s,
l, 2, 3, 8,.. với hoạt động này HS rất hứng thú và nhớ rất lâu.

Nghĩa là giáo viên cần vận dụng phối hợp, linh hoạt và sáng tạo các
phương pháp trong dạy học.
Hai là, GV cần giúp các em nắm vững toạ độ và chiều hướng của các nét
chữ, quy trình viết các chữ cái. Ví dụ như: Hướng dẫn viết chữ h
Nét khuyết trên có sáu toạ độ chính ( như mẫu) , cần giúp học sinh xác
định các tọa độ mà nét chữ cần đi qua. Nhưng học sinh chưa biết đếm, việc xác
định điểm với trẻ là rất khó lên giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào dòng kẻ
trong vở để chấm điểm. Hướng dẫn các em xác định đi, xác định lại kiên trì
một vài lần các em sẽ nhớ và nhớ rất lâu.
4


Các tọa độ của nét khuyết trên:











5


Hướng dẫn các em ghép với các tọa độ của nét móc 2 đầu:










6


Với các nét khuyết dưới (ngược), học sinh rất khó xác định đúng độ dài
(cao) của chữ. Có thể cho học sinh dùng tờ giấy kê dài gấp một mép xuống dưới
vở để tờ kê không xê dịch làm cữ bên dưới nét, hoặc dùng thước trong kiểm tra.
Việc dùng thước kiểm tra chỉ thực hiện sau khi viết xong. Nên quy định
mua cùng một loại thước bản dẹt, trong có vạch cm rõ ràng. Việc làm đó rất tiện
lợi cho việc học toán về cm: vẽ, đo độ dài; tiện cho việc kẻ hết bài đúng, đẹp (vì
với bề mặt dẹt của thước học sinh có chỗ để tay giữ chặt thước khi kẻ).
Ba là, GV cần làm tốt công tác thi đua, khen thưởng, kịp thời đúng lúc,
đúng đối tượng. Nhắc nhở, động viên trẻ phấn đấu.
Bốn là, GV cần hướng dẫn trẻ (phụ huynh) chuẩn bị rẻ lau bằng vải bông
dệt hoặc khăn rửa mặt cũ, mỗi em một chiếc bằng 1/2 chiếc khăn mặt nhỏ, giặt
sạch khi mang đến lớp gấp làm bốn (4 mặt ngoài dùng lau bảng, mặt trong dùng
lau tay khi chuẩn bị viết bài) dùng song gấp lại như cũ thành nền nếp thường
xuyên.
Năm là, GV phải phát huy hết tác dụng của tờ kê: Giữ cho vở sạch không
bị mồ hôi tay làm ướt giấy khi viết sẽ bị nhoè; giữ vở không bị quăn mép; làm
cữ để xác định độ dài của chữ.
Sáu là, GV thường xuyên nhắc nhở cách cầm bút, tư thế ngồi, cách để
vở, ... không được phép lơ là, phải tạo cho mình một thói quen (học sinh bắt đầu
cầm phấn, hay bút là giáo viên phải chú ý, nhắc nhở, động viên, biểu dương).
Bảy là, GV chú ý xử lý tốt quan hệ giữa âm và chữ để học sinh không còn
đọc sai, dẫn đến viết sai. Ví dụ:
+ Âm b: Cho học sinh nhìn miệng cô để phát âm (làm theo ), mím hai môi
để phát âm qua môi.
+ Âm v: Cũng nhìn miệng cô để thực hành làm theo - xoè môi ra để phát
âm, thậm chí cho học sinh dùng tay vén môi trên lên để phát âm từ 1 đến 2 lần
các em sẽ làm được và phát âm đúng.
+ Âm l - d : Là âm khó sửa với các em cần có biện pháp kích thích kết
hợp với phương pháp rèn. Ví dụ tôi đã làm như sau: Trước tiên cho học sinh
nhìn miệng cô phát âm, kết hợp với gương để so sánh vị trí đặt lưỡi của cô và
của trò, đồng thời thường xuyên kích thích trẻ sửa bằng cách yêu cầu học sinh
gọi tên cô giáo “cô Liên” nếu học sinh gọi sai thành “cô Điên” thì phỏng vấn
vui: Cô có bị điên không? Con ghét cô lắm phải không?... Cứ như vậy học sinh
sẽ chú ý sửa. Chắc chắn học sinh sẽ không con mắc lỗi nữa.
+ Âm l - n: Để chữa lỗi này tương tự chúng ta phải trực quan hoá sự mô
tả âm vị và hướng dẫn học sinh quan sát, tự kiểm tra xem mình đang phát âm
âm nào. Âm n là âm mũi, khi phát âm, sờ tay vào mũi sẽ thấy mũi rung. Còn khi
phát âm âm l mũi không rung. Sau đó cho HS luyện phát âm âm l bằng cách bịt
chặt mũi đọc : la, lo, lô, lu, lư. Khi bịt chặt mũi HS không thể phát âm các tiếng:
na, no, nô, nư.
7


+ Dấu thanh ngã là một lỗi khó sửa nhất vì học sinh không biết điều khiển
tiếng (hỏi) ngược về thanh hầu. Đây là dấu thanh gãy - tắc thanh hầu, nên hướng
dẫn học sinh giữ chặt môi không cho hơi phát qua đường miệng, đồng thời đẩy
hơi xuống cổ (cho học sinh đặt tay ở cổ) để học sinh cảm nhận được độ rung của
hơi bị tắc (om) tại đó và dồn qua khoang mũi ra ngoài ( thậm chí cho học sinh
dùng gương so sánh cách phát âm của cô với trò), đồng thời cho HS chắp các
tiếng cùng vần với tên gọi thanh : bã, đã, giã -> sau đó chắp tiếng cùng loại âm
tiết với tên gọi thanh: ngõ, khẽ, cũ ( âm tiết mở) -> cuối cùng, chắp bất kì âm
đầu, các vân với các thanh -> kết quả qua nhiều ngày rèn luyện cho đến nay
(tháng tư) lớp 1B của tôi không còn em nào phát âm sai dấu thanh này.
Tóm lại, cách phát âm nhầm lẫn này là tập quán là thói quen của các em,
để sửa cho các em phát âm đúng dẫn đến viết đúng thì không phải ngày một
ngày hai là sửa được. Giáo viên cần kiên trì, bền bỉ phối hợp cùng một lúc nhiều
biện pháp rèn ở mọi nơi, mọi lúc, kể cả các lớp trên cũng phải luôn chú ý rèn
cho các em.
Tám là, GV thường xuyên phân loại đối tượng, chia nhóm học tập theo
từng tuần, từng tháng, từng kỳ cho các em học hỏi lẫn nhau đồng thời tiện cho
việc giáo viên theo dõi, giúp đỡ.
Luôn chấm chữa bài tay đôi, chỉ cho các em những lỗi sai, cách sửa
những lỗi đó.
Chín là, GV đến tuần 25 hết chương trình học vần chuyển sang chương
trình tập đọc, người giáo viên cần dành thời gian giúp cho HS củng cố, luyện
viết chữ đẹp. Biện pháp thực hiện chủ yếu là đi từ dễ đến khó theo từng nhóm
chữ như:
* Nhóm 1. Gồm 8 chữ cái i, u, ư, t, p, n, m, v, r:Hầu hết các chữ cái ở
nhóm 1 đều có chiều cao 1 đơn vị (ĐV) - ( Riêng chữ cái p có độ cao 2 đơn vị
chữ, chữ cái r cao 1,25 ĐV và chữ cái t cao 1,5 ĐV), bề rộng cơ bản của chữ là
3/4 ĐV ( riêng chữ cái m rộng 1,5 ĐV). Chữ cái ở nhóm này thường được cấu
tạo bởi các nét móc ( móc xuôi, móc ngược, móc hai đầu). Khi luyện viết chữ,
hai nét móc xuôi và móc hai đầu cần đuợc cần chú trọng vì chúng khó viết hơn
nét móc ngược; 4 chữ cái n, m, v, p cần được luyện tập nhiều lần để nét viết
mềm mại, đẹp mắt.
* Nhóm 2. Gồm 5 chữ cái: l, b, h, k, y.
Các chữ cái ở nhóm 2 thường có chiều cao 2,5 đơn vị chữ, bề rộng cơ
bản của chữ là 3/4 đơn vị. Về cấu tạo, chữ cái ở nhóm này thường có nét
(khuyết xuôi (khuyết trên) và nét khuyết ngược ( khuyết dưới)), có những điểm
gần gũi với các chữ cái ở nhóm 1 ( VD: nửa dưới của chữ b giống chữ v, nửa
dưới của chữ h giống chữ n, nửa trên của chữ y giống chữ u,..). Khi luyện viết
chữ, hai nét khuyết xuôi và nét khuyết ngược đều cần được chú trọng; tập trung

8


luyện viết cho đẹp 4 chữ cái l, b, h, k ( chú ý tạo vòng xoắn ở chữ b và chữ k
vừa phải, hợp lí trong hình chữ).

9


10


* Nhóm 3. Gồm 10 chữ cái: o, ô, ơ, a, ă, â, d, đ, q, g.
Các chữ cái ở nhóm này thuộc loại độ cao khác nhau 6 chữ cái có chiều
cao 1 đơn vị chữ, chữ cái d, đ, q cao 2 đơn vị chữ, riêng chữ g cao 2,5 đơn vị
chữ; bề rộng cơ bản của hầu hết các chữ cái trong nhóm 3 là 3/4 đơn vị. Nhóm
chữ này thường được cấu tạo bởi các nét cong kín ( chữ o), tạo sự liên hệ gần
gũi về hình dạng giữa các chữ. Do vậy muốn luyện viết đẹp các chữ cái ở nhóm
3, phải tập trung luyện viết thật tốt chữ o - từ chữ o dễ dàng chuyển sang viết
các chữ ô, ơ, a, ă, â, d, đ, q, g, dễ tạo được các nét cong đẻ viết được các chữ
còn lại ở nhóm 4. Khi luyện viết các chữ cái ở nhóm này cần lưu ý:
+ Chữ o: Kẻ đường dọc trong hình vuông để tạo một hình chữ nhật
( chiều rộng bằng 3/4 cạnh hình vuông)-> đặt bút dưới cạnh trên của hình chữ
nhật ( khoảng 1/5 chiều cao), viết nét cong kín để tạo chữ o, sao cho 4 góc của
hình chữ nhật có 4 khoảng trống bằng nhau ( nếu các khoảng trống không đều
nhau thì chữ o sẽ bị méo).
+ Chữ a: Viết đúng mẫu chữ o-> Khi viết nét móc ngược ( phải) để tạo
thành chữ a, cần chú ý đoạn tiếp giáp với o phải thẳng, tạo được 2 góc ( trên,
dưới) tương đối bằng nhau để chữ a cân đối.
+ Các chữ cái d, đ, q, g được viết với độ cao 2 ĐV hoặc 2,5 ĐV, cũng cần
lưu ý viết đúng chữ o tạo 2 góc tương tự như ở chữ a ( khi viết nét móc ngược
( phải) hay viết nét thẳng đứng, nét khuyết dưới).
* Nhóm 4. Gồm các chữ cái còn lại c, x, e, ê, s:
Các chữ cái trên được viết trên cơ sở tạo nét con trái, cong phải hoặc kết hợp
giữa nét thẳng xiên và nét cong phải ở chữ s ( có vòng xoắn nhỏ ở đầu chữ).
Mười là, GV cần phát huy triệt để thiết bị hiện đại (nếu có), đầu tư soạn
giảng bài giảng điện tử với những tiết học thật sự lôi cuốn học sinh. Nhất là
phân môn Tập viết, Tiếng Việt 1,..giờ học các môn này không còn là nỗi sợ hãi
đối với những giáo viên chữ viết xấu;
Học sinh được quan sát được tỉ mỉ trên máy chiếu từ quy trình viết đến
cách tô, cách viết, cách trình bày ( vở tập viết đặt dấu chấm hướng đẫn điểm đạt
bút sai, vậy viết đúng sẽ phải bắt đầu từ đâu? );
Học sinh được nhìn bài viết chữ đẹp của anh chị lớp trước, việc làm đó sẽ
kích thích các em muốn và cố gắng viết đẹp như mẫu để được chọn làm mẫu;
Từ đó chất lượng tiết học được nâng lên, giáo viên có nhiều thời gian để
quan tâm đến học sinh, giúp đỡ học sinh hơn; Học sinh có nhiều thời gian để
luyện viết.
Tuy nhiên, để đạt được những hiệu quả trên giáo viên cần dành thời gian
nghiên cứu, học hỏi và rèn luyện bản thân về tính kiên trì, tỉ mỉ, đồng thời phát
huy khă năng sáng tạo, tích cực tham gia các lớp học bồi dưỡng.
Với nhà trường phải làm tốt công tác xã hội hoá xây dựng cơ sở vật
chất trang bị đủ máy chiếu cho các lớp
11


2.2.3. Phát huy nội lực - Huy động nguồn lực bên ngoài:
Muốn sách vở của học sinh sạch - đẹp; có đầy đủ đồ dùng học tập đối
với HS có hoàn cảnh khó khăn thì thật là khó khăn. Ngoài biện pháp tích cực
như đã nói ở trên thì cần sự “ hỗ trợ” của giấy bóng kính bọc vở, có bút mực,
bút chì, tẩy,...Muốn có sự " Hỗ trợ " đó thì cần phải có 1 số biện pháp sau:
+ Tại lớp và nhà trường đã tổ chức quyên góp, ủng hộ, liên hệ với các tổ
chức xã hội khác để nhận sự giúp đỡ
+ Làm tốt công tác xã hội hoá - tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức trong
và ngoài nhà trường ( Công đoàn, Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên, Hội cha mẹ
học sinh và các tổ chức khác trong và ngoài nhà trường).
3. Khả năng áp dụng của giải pháp:
Giải pháp đã được thực nghiệm và rất có hiệu quả; Giải pháp có thể áp
dụng rộng rãi trong nhà trường tiểu học nói chung và trường TH&THCS Hoàng
Văn Thụ nói riêng.
4. Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
giải pháp
Qua vận dụng kiểm nghiệm thực tế nhiều năm đã đạt được kết quả tốt.
Năm học 2016 – 2017 kết quả như sau (với sĩ số 30 em):
THÁNG

XẾP LOẠI VỞ SẠCH CHỮ ĐẸP

CÒN SAI LỖI Đ - L , L - N,
V-B, DẤU SẮC - DẤU NGÃ.

A

B

C

9

1

8

21

8

10

3

11

17

7

11

7

13

10

6

12

11

15

4

4

1

13

15

3

3

Như vậy qua nhiều năm giảng dạy, tìm tòi, nghiên cứu, rèn luyện và thực
nghiệm tôi đã rút ra một số kinh nghiệm rèn chữ giữ vở cho học sinh lớp một
nhằm thực hiện một trong những nhiệm vụ chính của giáo viên chủ nhiệm. Tuy
nhiên đề tài sáng kiến lần này chỉ là một vài kinh nghiệm trong công tác “Rèn
chữ, giữ vở” còn rất nhiều công việc cần phải thực hiện trên lớp trong các môn
học (tập viết, học vần, chính tả, toán,... ) thì phải vận dụng các phương pháp
giảng dạy như thế nào? Cách phối hợp giữa các phân môn đó với việc rèn chữ
giữ vở ra sao?...Thì đề tài chưa đề cập tới. Bởi lẽ thời gian và quá trình thể
nghiệm còn ít ỏi, chưa đi đến được kết luận.
5. Những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu ( nếu có)
12


(Là những người tham gia áp dụng giải pháp mới cùng với tác giả, không
phải là đồng tác giả)
TT

Họ và tên

Năm sinh

Nơi công tác
(hoặc nơi
thường trú)

Chức
danh

Trình độ
chuyên
môn

Trường
28/11/1977 TH&THCS GV
Hoàng



Trường
2 Hoàng Thị Minh Huế 12/12/1974 TH&THCS GV
Hoàng



Lê Thị Kim Anh

Trường
17/4/1976 TH&THCS GV
Hoàng



Nguyễn Thị Liên

Trường
22/7/1977 TH&THCS GV
Hoàng

ĐH

Nguyễn Thị Vẻ

Trường
01/10/1967 TH&THCS GV
Hoàng



6

Trần Thị Hằng

Trường
14/4/1980 TH&THCS GV
Hoàng

ĐH

7

Trường
Đỗ Thị Bích Phượng 14/10/1968 TH&THCS GV
Hoàng



8

Hoàng Thị Tỉnh

Trường
13/10/1962 TH&THCS GV
Hoàng

THHC

Hoàng Thị Chuyển

Trường
20/12/1967 TH&THCS GV
Hoàng

THHC

1

3

4

5

9

Bùi Thị Thắm

Nội dung
công việc
hỗ trợ

13


6. Các thông tin cần được bảo mật : Không có
7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Với giáo viên: Giáo án, đồ dùng dạy học, máy tính,..
- Học sinh: Có đầy đủ đồ dùng học tập: phấn, bảng, rẻ lau, tờ kê vở, bút chì,
tẩy,...
- Phụ huynh: Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng học tập cho con em mình và làm tốt
công tác phối hợp với GV trong công tác thi đua – khen thưởng.
- Với nhà trường:
+ Hỗ trợ kinh phí tu sửa bàn ghế đúng tiêu chuẩn y tế học đường.
+ Cần kiểm tra sát sao hơn nữa việc thực hiện phong trào, tránh tình
trạng qua loa đại khái, chống đối.
+ Cần nhân rộng cá nhân điển hình.
+ Trang bị các phương tiên hiện đại như máy tính, máy ảnh, máy ken ảnh
phụ vụ cho các bài giảng điện tử.
- Với phòng giáo dục và đào tạo.
+ Xây dựng và tổ chức chuyên đề về “vở sạch - chữ đẹp”; chuyên đề về
tập viết của các khối lớp. Để cùng giao lưu, trao đổi kinh nghiệm giữa các
trường.
+ Duy trì chương trình học 36 buổi trong hè.
8. Tài liệu kèm theo: Không có
9. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền:
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong báo cáo là trung thực, đúng sự thật
và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật

Nghĩa Lợi, ngày 18 tháng 02 năm 2017
Người viết báo cáo

Nguyễn Thị Nhịp

14


XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×