Tải bản đầy đủ

Tiểu luận Cao cấp lý luận chính trị môn Chủ nghĩa xã hội khoa học

1
1. Mở đầu:
Trong đời sống xã hội, những người lao động sản xuất trong các ngành
công nghiệp, dịch vụ công nghiệp hay những người công nhân đều đóng vai
trò quan trọng sáng tạo ra lịch sử, những người giữ vai trò quyết định sáng tạo
công cụ sản xuất, giá trị thặng dư và chính trị xã hội. Từ vai trò to lớn đó, việc
khẳng định sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân có ý nghĩa
quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Trước sự khủng hoảng và sụp đổ của
chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô, nhiều người đã bộc lộ sự dao động
và hoài nghi về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Bọn cơ hội xét lại và
các thế lực chống cộng có cơ hội mới để phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai
cấp công nhân, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chủ nghĩa xã hội.
Trong giai hiện nay, công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang diễn
ra trên toàn thế giới, chủ nghĩa xã hội đang ở trong thời kỳ thoái trào, nhưng
xu thế chung của lịch sử vẫn đang là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên
chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Do đó, vấn đề làm sáng tỏ sứ
mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân được đặt ra trở nên bức
thiết trên cả hai phương diện: lý luận và thực tiễn.
Nhằm mục đích nâng cao nhận thức, hiểu rõ hơn về sứ mệnh lịch sử toàn
thế giới của giai cấp công nhân, em lựa chọn chủ đề “Sứ mệnh lịch sử toàn
thế giới của giai cấp công nhân - liên hệ với giai cấp công nhân Việt Nam

hiện nay” làm bài thu hoạch môn Chủ nghĩa xã hội khoa học, chương trình
hoàn chỉnh kiến thức Cao cấp lý luận chính trị.
2. Nội dung:
2.1. Khái niệm giai cấp công nhân.
2.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về giai cấp công nhân.
Trong nhiều tác phẩm của mình C.Mác và Ph.Ăngghen đã sử dụng nhiều
thuật ngữ như: giai cấp công nhân, giai cấp vô sản, giai cấp vô sản hiện đại,


2
giai cấp công nhân công nghiệp, giai cấp công nhân hiện đại... Dù khái niệm
giai cấp công nhân có nhiều tên gọi khác nhau như thế nào đi nữa thì theo
C.Mác và Ph.Ăngghen giai cấp công nhân vẫn chỉ mang hai thuộc tính cơ bản:
Thứ nhất, về phương thức lao động, phương thức sản xuất (nghề nghiệp),
đó là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản
xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao. Đây là
tiêu chí cơ bản để phân biệt người công nhân hiện đại với người thợ thủ công
thời trung cổ thay người thợ trong công trường thủ công.
Thứ hai, về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp
côngnhân là những người lao động không có hoặc về cơ bản không có tư liệu
sảnxuất, làm thuê cho giai cấp tư sản và bị bóc lột giá trị thặng dư. Đây là đặc
trưng cơ bản nhất của giai cấp công nhân dưới chế độ tư bản chủ nghĩa. Chính
vì vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen đều gọi giai cấp công nhân dưới chủ nghĩa tư
bản là giai cấp vô sản.
Những quan điểm đó đến nay vẫn giữ nguyên giá trị, vẫn là cơ sở phương
pháp luận để chúng ta nghiên cứu giai cấp công nhân hiện đại, nhất là để làm
sáng tỏ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong thời đại hiện nay.
2.1.2. Định nghĩa giai cấp công nhân:
Ngày nay, với sự phát triển không ngừng của cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ, bộ mặt của chủ nghĩa tư bản đã có những thay đổi to lớn, đi
cùng với nó là sự thay đổi nhất định của giai cấp công nhân so với trước kia.
Cơ cấu ngành nghề của giai cấp công nhân đã có những thay đổi lớn: bên
cạnh công nhân của nền công nghiệp cơ khí, đã xuất hiện công nhân của nền
công nghiệp tự động hoá.
Giai cấp công nhân hiện nay không chỉ bao gồm những người lao động
trong công nghiệp, trực tiếp tạo ra các giá trị vật chất cho xã hội mà còn bao
gồm những người lao động trong các bộ phận dịch vụ công nghiệp, gián tiếp


3


tham gia vào quá trình sản xuất vật chất. Song, dù cho trình độ kỹ thuật có thay
đổi như thế nào đi nữa thì xét theo tiêu chí kinh tế - xã hội, giai cấp công nhân
vẫn tồn tại như một giai cấp đặc thù với cả hai tiêu chí cơ bản nêu trên. Căn cứ
vào những thuộc tính đó, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa như sau về giai cấp
công nhân như sau: “Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình
thành và pháttriển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại,
với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hoá ngày càng
cao; là lực lượng lao động cơ bản tiên tiến trong các quy trình công nghệ, dịch
vụ công nghiệp, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản
xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; đại biểu cho lực lượng
sản xuất và phương thức sản xuất tiên tiến trong thời đại hiện nay”.
2.2. Nội dung sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân.
Sứ mệnh lịch sử đó trong thời đại ngày nay.
2.2.1. Nội dung sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin nội dung sứ mệnh lịch sử
toàn thế giới của giai cấp công nhân được quy định như sau: Trong sự chuyển
biến từ hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa lên hình thái kinh tế - xã hội
cộng sản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là giai cấp trung tâm, có nhiệm vụ
quan trọng nhất, đó là: tiến hành xoá bỏ chế độ cũ, xây dựng hình thái kinh tế
xã hội mới tiến bộ hơn. Thực chất nội dung sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của
giai cấp công nhân đó là:
Trong lĩnh vực kinh tế: giai cấp công nhân tiến hành xoá bỏ chế độ tư hữu
tư nhân về tư liệu sản xuất, xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuát, nâng
cao năng suất lao động ,thoả mãn từng bước nhu cầu phát triển của nhân dân.
Trong lĩnh vực chính trị: giai cấp công nhân phải trở thành giai cấp
thống trị trong xã hội. Muốn vậy nhiệm vụ đặt ra là phải đập tan chính quyền
tư sản, xây dựng nền chuyên chính vô sản mà thực chất là để đảm bảo quyền
lực chính trị thuộc về nhân dân.


4
Trong lĩnh vực xã hội: giai cấp công nhân phải tiến hành xoá bỏ giai cấp
bóc lột, phải xoá bỏ giai cấp nói chung, tạo ra sự bình đẳng trong quan hệ
giữa người với người.
2.2.2. Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử toàn
thế giới của giai cấp công nhân.
Do địa vị kinh tế - xã hội khách quan, giai cấp công nhân là giai cấp gắn
với lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới chủ nghĩa tư bản. Với tính cách như
vậy, nó là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Sau
khi giành chính quyền, giai cấp công nhân, đại biểu cho sự tiến bộ của lịch sử,
là người duy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng một phương thức sản
xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Giai cấp công nhân - con đẻ của nền sản xuất công nghiệp hiện đại, được
rèn luyện trong nền sản xuất công nghiệp tiến bộ, đoàn kết và tổ chức lại
thành một lực lượng xã hội hùng mạnh. Bị giai cấp tư sản áp bức, bóc lột
nặng nề, họ là giai cấp trực tiếp đối kháng với giai cấp tư sản, và xét về bản
chất họ là giai cấp cách mạng triệt để nhất chống lại chế độ áp bức, bóc lột tư
bản chủ nghĩa. Điều kiện sinh hoạt khách quan của họ quy định rằng, họ chỉ
có thể tự giải phóng bằng cách giải phóng toàn xã hội khỏi chế độ tư bản chủ
nghĩa. Trong cuộc cách mạng ấy, họ không mất gì ngoài xiềng xích và được
cả thế giới về mình.
Địa vị kinh tế - xã hội khách quan không chỉ khiến cho giai cấp công
nhân trở thành giai cấp cách mạng triệt để nhất mà còn tạo cho họ khả năng
làm việc đó. Đó là khả năng đoàn kết thống nhất giai cấp, khả năng đạt tới sự
giác ngộ về địa vị lịch sử của khả năng hành động chính trị để từng bước đạt
mục tiêu cách mạng. Đó là khả năng đoàn kết các giai cấp khác trong cuộc
đấu tranh chống tư bản. Đó là khả năng đi đầu trong cuộc đấu tranh của toàn
thể dân lao động và của dân tộc vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó


5
là khả năng đoàn kết toàn thể giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên
quy mô quốc tế theo chủ nghĩa quốc tế vô sản.
2.2.3. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong thời đại ngày nay
Ngày nay trước sự biến đổi không ngừng của thế giới, khi mà chủ nghĩa
tư bản đang thắng thế, phong trào cách mạng trên thế giới đang tạm thoái trào
và đặc biệt là cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra với một tốc
độ chóng mặt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội thì bản thân giai cấp
công nhân cũng đang có nhiều thay đổi. Số lượng công nhân thế giới không
ngừng tăng lên, họ trở thành lực lượng lao động đông đảo, chiếm vị trí quan
trọng hàng đầu trong xã hội. Công nhân ngày càng được nâng cao trình độ, tay
nghề thêm vào đó là xu hướng "trí thức hoá" công nhân đang diễn ra mạnh mẽ
trên toàn cầu. Đời sống của công nhân không ngừng được cải thiện. Tại các
nước phát triển giai cấp công nhân đang được trung lưu hoá, được quan tâm
không chỉ về mặt vật chất mà còn cả về mặt tinh thần.
Dựa trên những thay đổi đó, kẻ thù của chủ nghĩa xã hội khoa học và
một số kẻ cơ hội đang phủ nhận học thuyết Mác - Lênin về sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân. Theo họ giai cấp công nhân ngày càng “teo đi“, “tan
biến” vào các giai cấp, tầng lớp xã hội khác. Nhưng thực tế đã chứng minh đó
là ý kiến hoàn toàn sai lầm, vì giai cấp công nhân hiện nay tuy có sự biến đổi
về mặt số lượng hoặc dịch chuyển vào các giai cấp khác, chất lượng công
nhân không ngừng được năng cao nhưng bản chất của công nhân và giai cấp
công nhân không hề thay đổi.
Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân tuy đang đứng trước những
thách thức lớn, nhưng sự phát triển lực lượng sản xuất thế giới vẫn đang
chuẩn bị những tiền đề khách quan cho giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh
lịch sử của mình. Ở các nước tư bản phát triển, tuy đời sống của một bộ phận
giai cấp công nhân đã được cải thiện. Song điều đó không có nghĩa là công


6
nhân ở các nước này không còn bị bóc lột giá trị thặng dư. Sự thật là toàn bộ
tư liệu sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn nằm trong tay giai cấp tư sản. Mặt khác,
cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ cũng là một trong
những biện pháp "hoàn hảo" và "tinh vi" giúp giai cấp tư sản tiếp tục bóc lột
giá trị thặng dư của công nhân. Cũng có quan điểm cho rằng thời đại ngày nay
là thời đại của nền "văn minh trí tuệ", của "kinh tế tri thức", do đó tri thức mới
là lực lượng tiên phong, có vai trò lãnh đạo cách mạng. Song trí thức không
thể đóng vai trò lãnh đạo thay thế vai trò lãnh đạo thay thế giai cấp công nhân.
Bởi lẽ trong xã hội trí thức chỉ là một tầng lớp, họ chưa bao giờ và không bao
giờ là một giai cấp. Mặt khác, trí thức không có lợi ích đối kháng trực tiếp với
lợi ích của giai cấp tư sản chính vì vậy mà trí thức không có tinh thần cách
mạng triệt để như giai cấp công nhân.
Từ đó, ta có thể khẳng định giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là đấu
tranh để thủ tiêu chế độ tư bản chủ nghĩa và từng bước xây dựng thành công
xã hội mới - xã hội cộng sản chủ nghĩa với giai đoạn đầu là xã hội xã hội chủ
nghĩa trên phạm vi toàn thế giới. Và dù lịch sử thế giới có thay đổi như thế
nào, giai cấp công nhân có những bước chuyển biến ra sao thì sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân không thay đổi và giai cấp công nhân sẽ thực hiện
thành công sứ mệnh lịch sử của mình khi thời cơ đến.
2.3. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam
2.3.1. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam
Giai cấp công nhân nước ta ra đời trước giai cấp tư sản, sau cuộc khai
thác thuộc địa của thực dân Pháp. Cùng với quá trình phát triển của cách
mạng, giai cấp công nhân nước ta sớm trở thành một bộ phận của giai cấp
công nhân quốc tế. Song do điều kiện kinh tế - xã hội và hoàn ra đời nên giai
cấp công nhân Việt Nam ngoài những đặc điểm chung của giai cấp công nhân
quốc tế, còn mang những đặc điểm riêng. Ra đời sau cách mạng tháng Mười


7
Nga, giai cấp công nhân nước ta là giai cấp thuần nhất về tư tưởng, sớm tập
trung về lực lượng, sớm giác ngộ cách mạng, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin
và tổ chức được chính Đảng của mình. Hơn nữa, giai cấp công nhân Việt Nam
được kế thừa truyền thống đấu tranh anh hùng bất khuất của dân tộc, lại phải
chịu ba tầng áp bức nặng nề nên họ có tinh thần cách mạng cao. Đa số công
nhân xuất thân từ nông dân và các tầng lớp lao dộng khác nên có mối liên hệ
khăng khít, thường xuyên, chặt chẽ với giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức
cũng như các giai tầng khác trong xã hội.
Trong giai đoạn từ những năm 30 của thế kỷ XX, sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân Việt Nam là lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong
của mình là Đảng Cộng Sản Việt Nam đánh đuổi bè lũ thực dân Pháp và đế
quốc Mĩ, giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Suốt chặng đường dài ngót thế
kỷ gian nan thử thách ấy, giai cấp công nhân Việt Nam đã được tôi luyện và
trưởng thành về mọi mặt, xứng đáng là lực lượng nòng cốt của liên minh cồng
nông, trí thức vững chắc.
Trong giai đoạn hiện nay khi mà đất nước ta đã và đang tiến hành công
cuộc đổi mới trên tất cả các lĩnh vực thì giai cấp công nhân Việt Nam phải "tự
mình trở thành dân tộc", tiêu biểu cho quyền lợi của dân tộc, đặt quyền lợi
dân tộc lên trên quyền lợi giai cấp, giữ vững bản chất cách mạng, bản lĩnh
chính trị của mình, lấy mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân
chủ văn mình để phấn đấu và đặc biệt là trở thành lực lượng đi đầu trong công
cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá, xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới.
Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung
ương khoá X đã khẳng định: "Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử
to lớn: Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong của mình là
Đảng Cộng Sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên
tiến, hiện đại; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội;


8
lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước vì
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh; lực lượng
nòng cốt trong liên minh GIAI CẤP CÔNG NHÂN với giai cấp nông dân và
tầng lớp trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng".
2.3.2. Thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay
- Về số lượng, cơ cấu:
Thời gian qua, số lượng công nhân Việt Nam có xu hướng tăng nhanh
theo quy mô nền kinh tế. Khi bắt đầu công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại
hoá, đội ngũ công nhân nước ta có khoảng 5 triệu người. Đến cuối năm 2005,
số lượng công nhân trong các doanh nghiệp và cơ sở kinh tế thuộc mọi thành
phần kinh tế ở nước ta là 11,3 triệu người, chiếm 13,5% dân số, 26,46% lực
lượng lao động xã hội. Hiện nay, cả nước có hơn 12,3 triệu công nhân trực
tiếp làm việc trong các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi
thành phần kinh tế.
Công nhân thuộc các doanh nghiệp nhà nước có xu hướng giảm do sự
sắp xếp lại cơ cấu. Nhưng đây là lực lượng nòng cốt của giai cấp công nhân
nước ta. Công nhân thuộc các thành phần kinh tế ngoài nhà nước và các
doanh nghiệp có vốn FDI tăng mạnh do số lượng các doanh nghiệp này tăng
nhanh. Ngoài ra, lực lượng lao động ở nước ngoài cũng là bộ phận quan trọng
tạo nên sự lớn mạnh của giai cấp công nhân Việt Nam. Bộ phận này được tiếp
xúc và làm việc trong môi trường công nghiệp hiện đại, có điều kiện học tập,
rèn luyện chuyên môn, tay nghề, nâng cao tác phong công nghiệp.
Công nhân làm việc trong các ngành công nghiệp và xây dựng chiếm
70,9%, ngành dịch vụ và thương mại chiếm 24,3%, các ngành khác chiếm
4,8%. Riêng các cơ sở kinh tế cá thể, công nhân chủ yếu làm việc trong các
lĩnh vực dịch vụ và thương mại chiếm 66,7%, 33,33% làm việc trong lĩnh vực
công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.


9
Giai cấp công nhân Việt Nam chiếm tỷ lệ không lớn so với dân số cả
nước nhưng hằng năm đóng góp khoảng 50% tổng sản phẩm xã hội và bảo
đảm hơn 60% ngân sách nhà nước.
- Về chất lượng giai cấp công nhân
Độ tuổi bình quân của công nhân nước ta nhìn chung trẻ, nhóm công
nhân từ 18 đến 30 tuổi chiếm 36,4%, đặc biệt trong các doanh nghiệp đầu tư
nước ngoài công nhân dưới 25 tuổi chiếm 43,4%, từ 26-35 tuổi chiếm 34,7%,
từ 36-45 tuổi chiếm 14%. Hầu hết công nhân được tiếp cận với kinh tế thị
trường nên năng động, thích ứng nhanh với công nghệ hiện đại.
Trình độ học vấn của công nhân trong tất cả các khu vực kinh tế có xu
hướng được nâng lên: năm 1985, tỷ lệ công nhân có học vấn trung học phổ
thông là 42,5% thì năm 2003 tăng lên 62,2%, năm 2005 tăng lên 69,3%(6).
Tuy nhiên, so với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá và so
với trình độ công nhân ở các nước trong khu vực và thế giới thì trình độ học
vấn của công nhân nước ta còn thấp. Mặt khác, lực lượng công nhân có trình
độ học vấn cao phân bố không đồng đều, thường tập trung ở một số thành phố
lớn và một số ngành kinh tế mũi nhọn.
Trình độ nghề nghiệp của công nhân tuy đã được nâng cao, nhưng nhìn
chung chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Trình độ chuyên môn, tay nghề của
công nhân các loại hình doanh nghiệp năm 2005 như sau: lao động có trình độ
từ cao đẳng trở lên chiếm 16,1%, lao động có trình độ trung cấp chiếm 14,6%,
công nhân kỹ thuật chiếm 28,1%, lao động không được đào tạo chiếm 41,2%.
Năm 2010, số lao động có trình độ đại học trở lên là 5,7 %, cao đẳng là 1,7 %,
trung cấp là 3,5 %, dạy nghề 3,8 %. Tình trạng mất cân đối trong cơ cấu lao
động kỹ thuật khá lớn. Nhiều doanh nghiệp có thiết bị công nghệ cao nhưng lại
thiếu công nhân lành nghề. Đặc biệt, chỉ có 75,85% công nhân đang làm những
công việc phù hợp với ngành nghề đào tạo. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ
tới năng suất, chất lượng sản phẩm, gây lãng phí trong đào tạo nghề.


10
2.3.3. Những giải pháp xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam:
Thứ nhất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân lao động,
đặc biệt là người lao động ở các khu công nghiệp, khu chế xuất. Từng bước
thực hiện chính sách tiền lương bảo đảm đời sống cho người lao động và có
tích lũy từ tiền lương; đồng thời, mở rộng cơ hội cho công nhân mua cổ phần
trong doanh nghiệp, nhằm góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn
định và tiến bộ, giảm thiểu tranh chấp lao động và đình công trong doanh
nghiệp. Có chính sách cụ thể giải quyết nhà ở cho người lao động và nâng cao
chất lượng đời sống tinh thần cho công nhân.
Thứ hai, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, phát triển đội ngũ công nhân
có trình độ cao, làm chủ được khoa học công nghệ, có kỹ năng lao động, tác
phong công nghiệp, ý thức kỷ luật. Cần kịp thời bổ sung, sửa đổi, xây dựng
chính sách đào tạo và đào tạo lại công nhân; tạo điều kiện cho họ tự học tập
nâng cao trình độ; điều chỉnh, bổ sung quy hoạch mạng lưới các cơ sở dạy
nghề gắn với các ngành, các vùng kinh tế trọng điểm. Khuyến khích các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế dành kinh phí thích đáng và thời
gian cho đào tạo, đào tạo lại công nhân.
Thứ ba, xây dựng và thực hiện nghiêm hệ thống chính sách, pháp luật
liên quan đến việc đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công
nhân. Xây dựng, hoàn thiện các chính sách, pháp luật về lao động, việc làm,
đời sống, nâng cao thể chất cho công nhân. Tăng cường công tác kiểm tra,
giám sát của Nhà nước, tổ chức công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội
khác trong doanh nghiệp, có chế tài xử lý nghiêm các tổ chức và cá nhân vi
phạm chính sách, pháp luật. Khuyến khích, tạo điều kiện cho người lao động
chủ động học tập nâng cao nhận thức, nắm bắt những quy định cơ bản về
quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ lao động, giúp họ tự bảo vệ quyền
và lợi ích chính đáng trong trường hợp cần thiết.


11
Thứ tư, tăng cường vai trò của các cấp uỷ Đảng, Đoàn Thanh niên và đặc
biệt là của Công đoàn trong việc nâng cao đời sống, đảm bảo quyền lợi cho công
nhân nhất là công nhân ở các khu công nghiệp, khu chế xuất. Tăng tỷ lệ tham gia
của công nhân trong cơ cấu tổ chức chính trị - đoàn thể ở doanh nghiệp, nhất là
tổ chức Công đoàn để tăng cường tính đại diện cho lợi ích của công nhân.
3. Kết luận:
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là xoá bỏ chế độ chủ nghĩa tư
bản và chế độ người bóc lột người, giải phóng mình, giải phóng nhân dân lao
động và toàn thể nhân loại thoát khỏi sự áp bức bóc lột, xây dựng thành công
xã hội cộng sản chủ nghĩa. Là một bộ phận của giai cấp công nhân quốc tế,
giai cấp công nhân Việt Nam cũng mang trên mình sứ mệnh lịch sử ấy. Ngoài
ra trong bối cảnh Đảng và Nhà nước ta đang đẩy nhanh quá trình công nghiệp
hóa - hiện đại hóa thì giai cấp công nhân Việt Nam cần: "Coi trọng việc phát
triển về số lượng và chất lượng, nâng cao giác ngộ, bản lĩnh chính trị, trình độ
học vấn và nghề nghiệp, thực hiện “trí thức hoá công nhân”, nâng cao năng
lực ứng dụng và sáng tạo công nghệ mới, lao động đạt năng suất cao, chất
lượng và hiệu quả ngày càng cao, xứng đáng là lực lượng đi đầu trong quá
trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước".
Hiểu đúng, hiểu rõ về giai cấp công nhân, đặc biệt là về sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân là một vấn đề hết sức quan trọng trong nhận thức của
mỗi người, đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên. Qua đó mỗi cá nhân
trong xã hội cần không ngừng nâng cao ý thức trách nhiệm về giai cấp, về
nhận thức xã hội để nâng cao tri thức văn hóa của mình.
Với những ý nghĩa đó, việc phát huy vai trò của giai cấp công nhân để từ
đó xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh luôn là lực lượng đi đầu trong sự
nghiệp xây dựng đất nước là một nội dung quan trọng trong hoạt động của
Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị các cấp ở nước ta.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×