Tải bản đầy đủ (.docx) (12 trang)

nghệ thuật là gì? Đặc trưng của nghệ thuật? phân biệt giữa mối quan hệ giữa nghệ thuật và thẩm mỹ?

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.23 MB, 12 trang )

MỸ HỌC ĐẠI CƯƠNG
NHÓM 6:
ĐỀ: nghệ thuật là gì? Đặc trưng của nghệ thuật? phân biệt giữa mối quan hệ giữa nghệ thuật và thẩm
mỹ?
I.
Khái niệm nghệ thuật?
1. Các quan điểm.
2. Nguồn gốc của nghệ thuật
3. Cấu trúc của nghệ thuật
4. Nghệ sỹ
II.
Đặc trưng của nghệ thuật
III.
Phân biệt mối quan hệ giữa nghệ thuật và thẩm mỹ

WORD

I.
Khái niệm nghệ thuật.
1. Các quan điểm.
Trong thực tế, khái niệm này được dùng với nhiều nghĩa khác nhau:
Nghệ thuật đồng nghĩa với một tài nghệ nào của con người.
Vd: “1 cú sút bóng nghệ thuật” , “ 1 cách trồng cây nghệ thuật”

nguồn: internet
Nghệ thuật dùng để chỉ hoạt động sáng tạo theo nguyên tắc của cái đẹp.
Vd: “ nghệ thuật tạo ra đồ gốm”

nguồn: internet
Trong mỹ học và lí luận văn học, từ nghệ thuật được dùng để chỉ một hành động sáng tạo mang
tính đặc thù với mục đích sáng tạo ra những cái đẹp lảm thỏa mãn nhu cầu thẫm mĩ cho con người


mang ý nghĩa xã hội sâu sắc.


Nhưng đó chưa phải là tất cả những gì về nghệ thuật, đó chỉ là những thứ bề ngoài, trên bề mặt mà
thôi. Thực tế thì:
thật khó thống nhất được quan niệm “thế nào là nghệ thuật?”. Văn hào L.Tôlxtôi trong Nghệ thuật là
gì? có đưa ra gần 70 định nghĩa, song không một định nghĩa nào khiến ông hài lòng. Có hai khuynh
hướng chính trong việc đi tìm bản thể của nghệ thuật theo nghĩa hẹp nhất ĐÓ LÀ:
- trong mối liên hệ với thực tại, nghệ thuật là sự thống nhất sinh động của nhận thức hình tượng
về hiện thực và sự tái hiện cảm tính hiện thực trong một chất liệu nhất định nhờ lao động sáng
tạo của người nghệ sỹ.
- trong mối liên hệ với con người, nghệ thuật là phương tiện bộc lộ tư tưởng, tình cảm của con
người.
Có thể chấp nhận đồng thời cả hai quan niệm đó. Bởi vì, nghệ thuật là một lĩnh vực vô cùng phong
phú và phức tạp. Nhiều cách tiếp cận sẽ bổ sung cho nhau, góp phần xác lập một quan niệm đầy đủ
và thấu đáo về một trong những hiện tượng tinh thần kỳ diệu vào bậc nhất của con người và xã hội
là nghệ thuật.
Nghiên cứu kỹ sẽ thấy mối quan hệ sâu xa của hai quan niệm vừa nêu. Trung tâm của hiện thực là
đời sống của con người. Hơn thế, con người là con người xã hội. Nghệ thuật vì xã hội cũng chính là
nghệ thuật vì con người. Có điều, quan niệm đầu có phần “hướng ngoại” còn quan niệm sau thì
“hướng nội” nhiều hơn. Khi “hướng ngoại”, nội dung phản ánh được đề cao, trong khi “hướng nội”
thì lại coi trọng nội dung tư tưởng. Do thế, việc kết hợp hai cách xem xét bản chất của nghệ thuật là
hoàn toàn cần thiết.
-Trong bối cảnh toàn cầu hóa nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật của phương Đông và phương Tây
cũng xích lại gần nhau hơn, chịu ảnh hưởng lẫn nhau. Nghệ thuật bonsai của Nhật Bản trở nên thời
thượng ở phương Tây. Nhiều nhạc sĩ phương Tây sử dụng nhiều yếu tố âm nhạc phương Đông trong
các tác phẩm của mình.
VẬY: Không một định nghĩa nào về nghệ thuật có thể đầy đủ và khái quát hết. Nhưng nhìn chung,
nghệ thuật là sản phẩm của trí óc được tạo ra để diễn tả ý tưởng của con người và thế giới xung
quanh.

Nghệ thuật là lỉnh vực sáng tạo đa dạng gồm nhiều loại hình: hội họa, điêu khắc, sân khấu, điện
ảnh, kiến trúc, múa, văn học, âm nhạc…

VINCENT VAN GOGH. Starry night, France, 1889. Canvas.


The Kiss (nụ hôn) của Auguste Rodin năm 1889

cuộc thi Nghệ thuật sân khấu Chèo 2013

Cảnh quay bằng 100% nến của phim Barry Lyndon 1974,
Đạo diễn Staley Kubric
2. Nguồn gốc của nghệ thuật
Khoảng một triệu năm trước đây con người đã đứng thẳng, thoát thai khỏi giới động vật. Hình thức
sơ khai nhất của xã hội loài người được hình thành: Xã hội cộng sản nguyên thuỷ.


Công cụ lao động của các cư dân đầu tiên này đều được làm từ đá. Vì vậy, theo khảo cổ học thời kỳ
này được gọi là thời kỳ đồ đá, gồm ba giai đoạn: Đồ đá cũ - đồ đá giữa và đồ đá mới. Ở thời kỳ đồ đá
cũ con người sống bằng săn bắt và đánh cá. Họ biết chế tạo công cụ lao động. Trải qua một thời gian
dài với người Crôma nhông, dấu hiệu về sự làm đẹp đã xuất hiện.

Họ chú ý tới cách ăn mặc, trang trí vách hang bằng các hình vẽ thú vật và họ còn làm những bức
tượng nhỏ bằng nhiều chất liệu như ngà, xương… Tộc người này sống vào cuối thời kỳ đồ đá cũ. Phải
chăng đây là lúc nghệ thuật tạo hình xuất hiện và một đời sống thẩm mỹ đã dần được hình thành?
Không ai có thể khẳng định một cách chắc chắn nghệ thuật tạo hình bắt đầu ra sao và từ bao giờ. Tuy
vậy căn cứ trên các hình vẽ tìm thấy ở một số hang động như Antamira (Tây ban nha) Látxcô (Pháp),

Hình vẽ được khắc trên đá trong
Động Altamira, phía Bắc Tây Ban Nha

một số bức tượng phụ nữ đã được xác định niên đại có thể cho ta hình dung về sự ra đời của nghệ
thuật tạo hình trong đời sống nguyên thuỷ. Từ 30.000 năm đến 10.000 năm trước công nguyên đã
bắt đầu để lại những dấu vết về nghệ thuật tạo hình, theo như cách gọi của chúng ta ngày nay.
Cách chúng ta hơn 5.000 năm trước đây, con người mới phát hiện ra chữ viết, lúc đầu chỉ là những
hình vẽ tượng trưng, những ký hiệu để trao đổi. Ví dụ hình tròn có chấm ở giữa là mặt trời ( )… Dần
dần các chữ tượng hình xuất hiện.
Như vậy thì từ “Nghệ thuật tạo hình” hay “Mỹ thuật” như ta thấy ngày nay xuất hiện sau những
hình vẽ trên vách hang động thời tiền sử rất nhiều. Khi con người thời tiền sử vẽ hoặc khắc vạch lên
vách, trần hang động nơi họ sinh sống có lẽ họ cũng chưa nghĩ rằng đó là những tác phẩm nghệ
thuật tạo hình. Những hình vẽ đó gắn với cuộc sống, với các đồ vật, nơi sinh hoạt của con người.


Lascaux, thuộc tỉnh Dordogne, mien tây nước pháp
Về một mặt nào đó, trong tư duy nguyên thuỷ việc vẽ hình cũng giống như việc săn bắt hay các công
việc khác. Nó không chỉ mang ý nghĩa nghệ thuật mà còn gắn với cái có ích. Ngoài ra nghệ thuật tạo
hình lúc này còn gắn với những tín ngưỡng, ma thuật. Theo E. H. Gombrich, tác giả cuốn “Câu
chuyện nghệ thuật” thì “Tranh và tượng được họ dùng để thực hành pháp thuật”. “Những người thợ
săn thời kỳ này nghĩ rằng chỉ cần vẽ hình con mồi và có lẽ tấn công chúng bằng giáo mác hay rìu đá,
những con thú thật sẽ khuất phục sức mạnh của họ”. Tất nhiên đây là sự phỏng đoán của con người
ngày nay khi nghiên cứu về 2 lịch sử mỹ thuật của thời nguyên thuỷ.
Ngoài 2 ý nghĩa trên, các hình vẽ còn có ý nghĩa là những thông tin nhắn gửi cho các thế hệ sau về
cuộc sống, sinh hoạt của con người thời tiền sử. Ví dụ qua các hình vẽ thú vật như bò rừng, ngựa,
voi, ma mút… cho chúng ta biết về các động vật thời nguyên thuỷ, ở bức tranh khác ta được chứng
kiến cách đánh cá, cách quăng lưới, cách sử dụng các con cá mồi lớn. Thậm chí con người thời kỳ đó
vẽ chỉ để giải trí.
-Thuyết bắt chước: là sự mô phỏng các sự vật xung quanh, nghệ thuật là sự sáng tạo trên căn cứ
có sẵn của thế giới hiện thực khách quan.
-Thuyết Du hí: Nghệ thuật giải trí lành mạnh: nghệ thuật Múa, âm nhạc ra đời.
-Thuyết ma thuật: Nghệ thuật không phải thứ tôn giáo thần bí, ma thuật .Tính chất ma thuật
được thể hiện ở những gia đoạn sơ khai, mông muội khi con người cảm thấy mình quá nhỏ bé

trước thế lực siêu nhiên.
- Thuyết Biểu hiện: Biểu hiện cảm xúc của tác giả được thể qua tác phẩm
Còn theo quan điểm của chủ nghĩa mac- lê nin thì: nghệ thuật ra đời từ thực tiễn đời sống, cụ
thể là từ lao động sáng tạo, từ sự đòi hỏi được thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của con người xã hội
3. CẤU TRÚC CỦA ĐỜI SỐNG NGHỆ THUẬT
(Sinh hoạt nghệ thuật)
Sinh hoạt nghệ thuật là một bộ phận quan trọng của đời sống thẩm mĩ.
Công chúng nghệ thuật
Nghệ sĩ và Tác phẩm nghệ thuật

Giới nghiên cứu,phê bình, giảng dạy,


đánh giá – định hướng
Đây là mối quan hệ tay ba, xoay quanh một trung tâm là tác phẩm nghệ thuật. Ba chủ thể này
có quan hệ gắn bó, mật thiết, tác động ảnh hưởng lẫn nhau.
4. Nghệ sỹ
Những khái niệm của Phương Tây về nghệ thuật và nghệ sĩ:
Art, Artist, Fine Arts, Arts, Artistic, . . .
Phân biệt ý nghĩa và quá trình biến đổi của những thuật ngữ ấy :
Ban đầu, châu Âu dùng “Art” chỉ để gọi mĩ thuật (hội họa), về sau mới gọi chung mọi nghệ
thuật là arts, và dùng “Fine Art“ để gọi riêng mĩ thuật.
Tương tự, lúc đầu Artist chỉ dành gọi họa sĩ, về sau gọi tất cả các nghệ sĩ (trừ nhà văn nhà thơ
gọi là writer, poet).
Ngày nay, “Arts” lại được dùng chỉ các bộ môn khoa học xã hội – nhân văn (ví dụ: Master of
Arts – thạc sĩ thuộc các ngành KHXH – nhân văn, viết tắt MA, hoặc cử nhân KHXH –nhân văn là
Bachelor of Arts – viết tắt BA ).
Hi Lạp cổ đại :
Nghệ sĩ chính là những vị thần linh cao quí như: Apollon, Athena, rồi đến những người có
dòng máu thần linh (có cha hoặc mẹ là thần linh, như Pigmalion, Orphee ).

Ấn Độ cổ đại có các nàng tiên múa Apsara. Trung Quốc có các nàng Tố nữ thần ca múa . . . Khi
ấy con người coi trọng nghệ thuật đến mức sùng bái, nghệ thuật là điều kì diệu chỉ có thần linh mới
sáng tạo ra được, nên người xưa đã thần thánh hóa (thần tượng hóa) các nghệ sĩ.
Người Việt Nam cũng tin rằng nghệ sĩ được trời phú cho tài năng đặc biệt.
Trong bộ môn Mỹ học, tất cả những người sáng tạo và biểu diễn nghệ thuật đều gọi chung là
nghệ sĩ.
a. Nghệ sĩ là ai ?
Nhà văn
Văn nhân
Văn sĩ
Thi nhân, thi sĩ
Họa sĩ
Nhạc sĩ
diễn viên
ca sĩ
thuật gia
tác gia
học trò, thư kí
tác gia
thi nhân
họa gia
âm nhạc gia
diễn viên
ca thủ
Nghệ sĩ là người sáng tạo những giá trị thẩm mĩ, trước hết là cái đẹp. Nghệ sĩ lao động tự
nguyện, đam mê để sáng tạo ra tác phẩm, sống hết mình với mọi xúc cảm trong cái thế giới nghệ
thuật của mình. Tác phẩm nghệ thuật phải chứa đựng tình yêu, niềm tin và lòng nhân ái của nghệ
sĩ.



Sáng tạo nghệ thuật phải luôn luôn đổi mới không lặp lại) và tạo ra một dòng chảy liên tục
(theo truyền thống, tránh sự quái dị). Do đó, lao động của nghệ sĩ là không ngừng tìm tòi sáng tạo.
Nghệ sĩ là người trước hết có năng lực bẩm sinh (năng khiếu). Ví dụ, họa sĩ có khả năng nhận
thức, phân biệt màu sắc, sáng tối, nhạc sĩ nghe rõ mọi âm thanh và có thể tạo ra những âm thanh trữ
tình (giai điệu, nhịp điệu …). Nhà văn dùng ngay ngôn ngữ của dân tộc mình .để kể chuyện, miêu tả,
biểu lộ xúc cảm và tư tưởng. Nhưng trước hết, nghệ sĩ là người giàu cảm xúc, tình cảm, kế đó là: trí
tưởng tượng.
Nghệ sĩ cần phải có vốn sống và kiến thức văn hóa.
Và cuối cùng, một điều kiện tưởng như chỉ là phụ nhưng không thể thiếu: nghệ sĩ phải có sức khỏe
(không ít nghệ sĩ kiệt sức, chết sớm vì sáng tác)
b. Ba cấp độ năng lực nghệ sĩ
Năng khiếu
Tài năng (nhiều vẻ khác nhau)
Thiên tài (đỉnh cao của thời đại, tác phẩm khái quát được cả thời đại, xây dựng được nhân vật
lí tưởng của thời đại, đặt ra hoặc/ và trả lời được vấn đề của thời đại . . . ).
c . Sáng tạo nghệ thuật là gì ?
Là quá trình tái tạo hiện thực và tự biểu hiện (đưa cái tôi vào tác phẩm).
Người họa sĩ vẽ cái cảm thấy chứ không phải cái nhìn thấy, đồng thời gởi gắm tình cảm, tư
tưởng (tâm hồn) của mình vào tác phẩm nghệ thuật.
Khi vẽ người là vẽ tâm hồn nhân vật thể hiện qua diện mạo, dáng người, đôi mắt, nụ cười (kể
cả trang phục, cảnh vật, . . . ánh sáng). Bức tranh có hồn thường được biểu hiện rõ nét theo thứ tự
từ cao xuống thấp với: đôi mắt – miệng – đôi tay – dáng người -cảnh vật và ánh sáng.
d - Bút pháp – Phong cách – Phương thức sáng tác
Người ta thường lẫn lộn giữa bút pháp và phong cách, chúng ta cần phân biệt rõ.
Bút pháp
Là những biện pháp cụ thể và các phương tiện sáng tạo (ví dụ : bút pháp Nguyễn Bính, bút
pháp Nguyễn Tuân . . .)
Phong cách
Thiên về tính cách, thói quen riêng của nghệ sĩ, phong cách chi phối bút pháp . Phong cách
thường ổn định, hầu như suốt thời gian dài, có thể suốt đời. Còn bút pháp có thể thay đổi, tự trùng

lặp với mình hoặc tác giả khác. Nghệ sĩ được coi là thành công khi đã hình thành được phong cách
nghệ thuật của mình.
Phong cách có 2 tính chất tối thiểu là:
tính dân tộc (phong cách dân tộc)
tính thời đại (phong cách thời đại)
Ví dụ, họa sĩ Bùi Xuân Phái ưa vẽ phố cổ Hà Nội, thích dùng bột màu đen, nâu, xám. Họa sĩ
Nguyễn Phan Chánh quen vẽ tranh lụa, màu nâu diễn tả làng quê Việt Nam truyền thống. Họa sĩ nhà
bác học thiên tài Leonardo Da Vinci ưa vẽ màu hồng và trắng, con người trần tục nổi bật trên nền
phông cảnh. Hai nhà thơ Nguyễn Khuyến và Nguyễn Bính đều thích làm thơ về cảnh vật và tình quê
nhưng thuộc hai giai đoạn khác nhau, có một số bút pháp giống nhau nhưng phong cách thì hoàn
toàn khác biệt.
Nhìn chung , bút pháp và phong cách hợp lại thành cá tính sáng tạo.
Phương thức sáng tác: là sản phẩm của một trào lưu sáng tác văn học. Nhiều người thường
gọi là “phương pháp sáng tác”. Nhưng nhiều người phản đối, cho rằng nghệ sĩ sáng tác theo cách
riêng, không theo “phương pháp” nào. (Vì những lẽ trên, chúng tôi đề xuất cách gọi “phương thức
sáng tác” bao gồm cả trào lưu chung và cá tính sáng tạo của nghệ sĩ) .
Theo Từ điển văn học (Nxb Giáo Dục –1992): mục từ “Phương pháp sáng tác”- là hệ thống
những nguyên tắc tư tưởng- nghệ thuật chi phối toàn bộ quá trình hoạt động sáng tạo để xây dựng


nên tác phẩm nghệ thuật mà trước hết là biến nội dung cuộc sống thành nội dung nghệ thuật và
cùng với nội dung, chi phối sự tạo thành hình thức tác phẩm.
Trong hội họa có những phương thức như cổ điển, hiện thực, lãng mạn, dada, trừu tượng, lập
thể, biểu hiện, siêu thực .v.v…Trong văn học cũng có nhiều phương thức như : phương thức huyền
thoại, phương thức sử thi, p.t ngụ ngôn, p.t hiện thực, p.t lãng mạn , p.t cổ điển, pt. huyền ảo . v.v…
Tuy nhiên, Hiện thực và Lãng mạn là hai phương thức chủ yếu hầu như chi phối suốt lịch sử
văn học nghệ thuật của loài người (những phương thức khác gần gũi hoặc là nhánh phái sinh, hỗn
hợp của 2 phương thức đó) .
Học thuyết Mác–Lê nin khẳng định: dù sáng tác theo phương thức nào cũng phải lấy cái đẹp
chân chính làm chuẩn mực gắn kết trong bộ ba Chân-Thiện- Mĩ. Cái đẹp chân chính phải là sự gợi

mở con đường đi đến một thế giới mới tốt đẹp hơn.
II ĐẶC TRƯNG CỦA NGHỆ THUẬT
-

Phản ánh, sang tạo bằng hình tượng: Để làm nổi trội lao động và tư duy của người nghệ sĩ,
người ta hay so sánh với lao động và tư duy của nhà khoa học. Biêlinxki từng phân biệt tư duy
luận lý với tư duy hình tượng là người này chứng minh và người kia phơi bày và cả hai đều
thuyết phục, có điều người này bằng luận chứng lôgíc còn người kia lại bằng những bức tranh.

Sau giờ trực chiến. (Tranh: Hoàng Hoa Mai)
Kết quả cuối cùng là nhà khoa học có được những khái niệm, còn người nghệ sĩ đưa ra những
hình tượng. Cả hai đều sáng tạo, song tính chất của sự sáng tạo ở họ không hoàn toàn giống
nhau. Nhà khoa học phát hiện ra những bản chất và qui luật vốn tiềm ẩn trong thực tại. Người
nghệ sĩ phải tự mình làm ra những sản phẩm mới mẻ chưa từng xuất hiện. Giữa khái niệm khoa
học và hình tượng nghệ thuật, vì vậy, có những điểm khác biệt cơ bản.
- vẻ độc đáo của thẩm mỹ. Nghệ thuật luôn chú ý tới cái cụ thể, sinh động muôn hình vạn trạng của
sự vật, hiện tượng, con người ngoài đời sống. Cái cá biệt, đơn lẻ luôn có chỗ đứng và luôn được yêu
cầu có chỗ đứng trong tác phẩm nghệ thuật. Cái chung, cái khái quát phải tìm được sự biểu hiện
thông qua cái riêng, cái cụ thể.
Chẳng hạn: miêu tả đôi mắt. Không thể có đôi mắt trừu tượng trong nghệ thuật. Phải là đôi mắt này,
đôi mắt kia, không giống nhau và không được phép giống nhau. Càng đặc sắc, phẩm chất thẩm mỹ
càng cao.



-Tình cảm, tư tưởng của con người trong nghệ thuật. Nói một cách đơn giản, bất kỳ hiện tượng nào
từ đời sống muốn đi vào tác phẩm nghệ thuật phải được đặt trong tương quan tư tưởng - thẩm mỹ
với con người. Nghệ thuật là tiếng nói đặc biệt của con người về cuộc sống, vì cuộc sống. Mọi cái xa
lạ với con người, với đời sống vật chất và tinh thần của con người đều khó tìm thấy chỗ đứng trong
tác phẩm nghệ thuật. Ngày trước có nhà phê bình ở ta đưa ra hai ví dụ để phân biệt thơ với những gì

không phải là thơ. Một câu văn vần:
Con mèo, con chó có lông
Bụi tre có mắt, nồi đồng có quai
Và câu kia là ca dao:
Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay
Nhà phê bình nhận định rất đúng rằng câu sau là thơ, là nghệ thuật, còn câu đầu dẫu có vần có điệu
nhưng không có gì dính dáng với thi ca, nghệ thuật cả. Đó là bởi câu ca dao muốn nhắn gửi một tâm
tình sâu nặng đến người đọc. bản chất của nghệ thuật vốn luôn được xem là phương tiện chủ yếu để
biểu lộ tư tưởng và tình cảm của con người trước tự nhiên và xã hội.

Em thúy của trần văn cẩn


em Thúy với mái tóc ngắn, nét mặt thơ ngây, đáng yêu ngồi khép nép trên chiếc ghế mây, đôi vai gầy
nhỏ bé, gương mặt hướng về phía trước bằng đôi mắt mở to tròn. Bức tranh gây xúc động bởi chính
thông điệp giản dị về sự trong sáng, thánh thiện. Xem tranh ta như thấy được yên ả, thanh bình, như
thấy được yêu thương… những tình cảm giúp con người muốn xa lánh, trút bỏ những điều ác để
hướng về cái thiện. Ánh mắt của “em Thúy” đã chạm vào và tạo nên những xáo đ ông n ôi tâm để
mỗi người như được gặp lại tuổi thơ của chính mình…
Chú trọng con người, nghệ thuật không vì thế mà tự hạn chế trong việc thể hiện tính muôn
vẻ của thế giới. Đời sống loài vật, cảnh trí tự nhiên luôn hấp dẫn người nghệ sĩ. Và những cái đó đi
vào tác phẩm nghệ thuật không phải lúc nào cũng như minh chứng của đời sống con người. Đôi khi
chúng có ý nghĩa độc lập, khiến công chúng không thể không lưu tâm khi tiếp nhận những giá trị
nghệ thuật.

IV.

Phân biệt mqh giữa nghệ thuật và thẩm mỹ


Cần phân biệt khái niệm nghệ thuật theo nghĩa nghiêm ngặt này với khái niệm thẩm mỹ. Nhiều
người đồng nhất chúng, thậm chí có người coi đời sống nghệ thuật chỉ là một bộ phận của đời sống
thẩm mỹ. Có thể thấy sự khác biệt của thẩm mỹ và nghệ thuật qua một số biểu hiện chủ yếu sau đây:
- Nhìn chung, khái niệm thẩm mỹ rộng hơn khái niệm nghệ thuật. Cái thẩm mỹ có thể tồn tại trong
thiên nhiên, xã hội, con người và trong cả nghệ thuật.
- Nghệ thuật là lĩnh vực hoạt động độc lập của người nghệ sỹ. Cái thẩm mỹ thì khác, bao giờ cũng chỉ
là một yếu tố trong các hoạt động, các sản phẩm, các hiện tượng khách quan.
- Về phương diện nội dung, nghệ thuật phong phú hơn thẩm mỹ.
Ngoài nội dung thẩm mỹ, nghệ thuật còn bao gồm những nội dung khác như nội dung chính trị, khoa
học, đạo đức, tôn giáo… thể hiện thế giới tình cảm của con người


- Những hiện tượng thẩm mỹ có thể hình thức không đẹp. Đối với tác phẩm nghệ thuật, bất kể nội
dung ra sao, hình thức bao giờ cũng phải đẹp. Tsecnưsepxki từng nhận xét chính xác rằng: vẽ một
khuôn mặt đẹp hoàn toàn khác với vẽ một cách đẹp.
- Chủ thể thẩm mỹ
Chủ thể sáng tạo: Người lao đông và nghê nhân, đều là người sáng tạo thẩm mỹ
Chủ thể phê bình, đánh giá: mọi người lao đ ông, nghi êp dư và chuyên nghi êp.
Chủ thể nghê thuât
Chủ thể sáng tạo: Nghê sĩ,
Chủ thể phê bình, đánh giá: công chúng ngh ê thu ât, nhà phê bình nghiên cứu, nhà giáo, nhà báo.
Như vậy, mặc dù có nhiều điểm giống nhau, thẩm mỹ và nghệ thuật là hai khái niệm riêng biệt, độc
lập.



Xem Thêm

×