Tải bản đầy đủ

Pháp luật về hủy phán quyết của trọng tài thương mại ở việt nam hiện nay

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

PHẠM QUỐC TUẤN

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ HỦY PHÁN QUYẾT CỦA
TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PHẠM QUỐC TUẤN

2017 - 2019
Hà Nội – 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI


LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT VỀ HỦY PHÁN QUYẾT CỦA
TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
PHẠM QUỐC TUẤN

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.NGUYỄN THỊ THU HIỀN

Hà Nội – 2019


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi vô cùng biết ơn sâu sắc và gửi lời cảm ơn chân
thành đến TS. Nguyễn Thị Thu Hiền - Người đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo
mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu Luận văn của mình.
Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, các quý thầy, cô
của nhà trường, đặc biệt là các thầy, cô Khoa sau đại học Trường Đại học mở Hà Nội
đã tạo điều kiện thuận lợi giúp cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn
thành luận văn thạc sĩ.
Tôi thân gửi lời cảm ơn đến gia đình và những người thân yêu đã luôn ở cạnh
động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu của
mình.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Hội đồng chấm luận
văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này.
Hà Nội, ngày 22 tháng 9 năm 2019
TÁC GIẢ

Phạm Quốc Tuấn


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả
nêu trong Luận văn chưa được công bố trong một công trình nào khác. Các số liệu, thí
dụ trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính khách quan, chính xác, tin cậy và trung thực.
Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và các nghĩa vụ tài chính theo quy định của
Trường Đại học Mở Hà Nội.


Hà Nội, ngày 22 tháng 9 năm 2019
NGƯỜI CAM ĐOAN

Phạm Quốc Tuấn


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TTTM

: Trọng tài thương mại

BLDS

: Bộ luật dân sự

BLTTDS

: Bộ luật tố tụng dân sự

NQHĐTP : Nghị quyết Hội đồng thẩm phán
BTTTT

: Bộ Thông tin và Truyền Thông


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ VẤN ĐỀ HỦY
PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI ............................................... 7
1.1. Tổng quan về trọng tài thương mại ................................................................... 7
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của trọng tài thương mại ............................................... 7
1.1.2. Phân loại trọng tài thương mại ........................................................................ 10
1.2. Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài .......................................... 12
1.2.1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại của trọng tài ............................ 12
1.2.2. Thỏa thuận trọng tài ........................................................................................ 13
1.2.3. Tố tụng trọng tài .............................................................................................. 15
1.2.4. Phán quyết của trọng tài thương mại ............................................................... 18
1.2.5. Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài – tính ưu việt và những hạn
chế ............................................................................................................................. 21
1.3. Hủy phán quyết của trọng tài thương mại....................................................... 23
1.3.1. Khái quát về hủy phán quyết của trọng tài thương mại .................................... 23
1.3.2. Tác động của việc hủy phán quyết trọng tài thương mại................................... 24
Kết luận Chương 1................................................................................................... 31
Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM ................................ 32
VỀ HỦY PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI ............................. 32
2.1. Tổng quan pháp luật về hủy phán quyết của trọng tài thương mại ở Việt
Nam hiện nay ........................................................................................................... 32
2.2. Một số nội dung cơ bản..................................................................................... 33
2.2.1. Các căn cứ huỷ phán quyết của trọng tài thương mại....................................... 33
2.2.2. Nghĩa vụ chứng minh ....................................................................................... 43
2.2.3. Thời hạn yêu cầu hủy phản quyết trọng tài....................................................... 44


2.2.4. Thẩm quyền của tòa án trong việc hủy phán quyết trọng tài.......................... 45
2.2.5. Thủ tục hủy phán quyết của trọng tài thương mại ......................................... 46
Kết luận Chương 2................................................................................................... 52
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ .................................... 53
HỦY PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI ................................... 53
3.1. Những ưu điểm và hạn chế của pháp luật Việt Nam về hủy phán quyết của
trọng tài thương mại ................................................................................................ 53
3.1.1. Những ưu điểm................................................................................................. 53
3.1.2. Những hạn chế và nguyên nhân........................................................................ 54
3.2. Xu hướng giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài và tình hình hủy
phán quyết của trọng tài thương mại tại Việt Nam ............................................... 56
3.2.1. Xu hướng giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại tại Việt Nam ......... 56
3.2.2. Tình hình hủy phán quyết trọng tài thương mại tại Việt Nam ........................... 58
3.3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hủy phán quyết
của trọng tài thương mại ......................................................................................... 61
Kết luận Chương 3................................................................................................... 64
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 67


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài là một phương thức giải
quyết tranh chấp được ưa chuộng và sử dụng phổ biến trên thế giới. Đây là phương
thức giải quyết tranh chấp có nhiều ưu điểm như các bên được tự do thỏa thuận và
lựa chọn Trọng tài, thủ tục nhanh gọn, bảo mật, tiết kiệm thời gian và chi phí cho
doanh nghiệp. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, giải quyết tranh chấp thương
mại bằng trọng tài cũng có nhiều hạn chế và rủi ro. Một trong những rủi ro khiến
các doanh nghiệp e ngại khi sử dụng phương thức giải quyết tranh chấp này, đó là,
phán quyết của Trọng tài có thể bị huỷ cho dù nó có giá trị chung thẩm. Thời gian
qua, việc thụ lý và giải quyết đơn yêu cầu hủy phán quyết của trọng tài thương mại
tại các tòa án ở Việt Nam đã tăng rõ rệt. Số trường hợp tòa án hủy phán quyết của
trọng tài trong nước cũng như không công nhận quyết định của trọng tài nước
ngoài, theo đó cũng tăng lên. Điều này phần nào đã làm giảm uy tín và ảnh hưởng
đến hoạt động của hội đồng trọng tài, giảm sự hấp dẫn của môi trường kinh doanh
tại Việt Nam.Ngược lại, trong nhiều trường hợp, các doanh nghiệp Việt Nam cần sử
dụng trọng tài cũng như đệ đơn yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài một cách chủ động
và có chủ đích – điều mà trên thực tế, không nhiều doanh nghiệp Việt Nam có thể
làm được.
Pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại trong những năm vừa qua đã có
nhiều chuyển biến tích cực. Điển hình là sự ra đời của Luật Trọng tài thương mại
thay thế Pháp lệnh trọng tài thương mại trước đây. Đây là một trong những thành
công quan trọng trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về trọng tài thương
mại tại Việt Nam. Những quy định của Luật trọng tài thương mại về hủy phán quyết
trọng tài đã có nhiều thay đổi tích cực hơn, mặc dù vẫn tồn tại một số hạn chế nhất
định.
Ngoài Luật trọng tài thương mại, Việt Nam còn có một số văn bản pháp luật
có liên quan đến trọng tài thương mại như Luật thương mại, Bộ luật tố tụng dân sự,
1


Luật thi hành án dân sự, Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP của Tòa án nhân dân tối
cao về việc hướng dẫn thi hành một số quy định trong Luật Trọng tài thương mại.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng kí kết và tham gia các điều ước quốc tế khác
nhau về trọng tài như Công ước New York năm 1958 về công nhận và cho thi hành
các phán quyết của trọng tài nước ngoài, trở thành thành viên của Trọng tài thường
trực, các Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự, thương mại, các Hiệp định khuyến
khích bảo hộ đầu tư, Hiệp định thương mại tự do v.v.
Với tất cả các lý do nêu trên, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Pháp luật về hủy
phán quyết của trọng tài thương mại ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài Luận văn
Thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam cũng có những công trình nghiên cứu về tranh chấp thương mại
và vấn đề hủy phán quyết trọng tài thương mại như: (i), Trần Xuân Chi Anh (2013),
Vấn đề áp dụng pháp luật trong việc công nhận và thi hành quyết định của Trọng tài
tại Việt Nam, tham luận tại Hội thảo về việc hủy phán quyết trọng tài, công nhận và
thi hành quyết định trọng tài nước ngoài tại Việt Nam, VIAC, ngày 18/10; (ii), Vũ
Ánh Dương (2013), Pháp luật về hủy phán quyết trọng tài và thực tiễn áp dụng tại
Việt Nam, tham luận tại Hội thảo về việc hủy phán quyết trọng tài, công nhận và thi
hành quyết định trọng tài nước ngoài tại Việt Nam, VIAC, ngày 18/10; (iii), Vũ
Ánh Dương (2015), tham luận tại Tọa đàm về hủy phán quyết trọng tài thương mại,
Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Trung tâm trọng tài Quốc tế
Việt Nam và Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20/01; (iv), Phan
Trọng Đạt (2014), Lời khuyên và bài học kinh nghiệm cho các bên khi tham gia vào
tố tụng trọng tài, trình bày tại hội thảo Trọng tài tại Việt Nam: Nắm rõ quy trình và
phát huy hiệu quả trong việc kinh doanh của bạn, Việt Nam, ngày 06/06; (v), Phạm
Duy Nghĩa (2014), Tổng quan về Trọng tài Việt Nam, trình bày tại hội thảo Trọng
tài Việt Nam: Nắm rõ quy trình và phát huy hiệu quả trong việc kinh doanh của bạn,
2


Việt Nam, ngày 06/06; (vi), Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật trung
ương (2013), Trọng tài thương mại và pháp luật về trọng tài thương mại, Đặc san
tuyên truyền pháp luật số 07/2013; ngoài ra còn có các khóa luận tốt nghiệp, luận
văn, luận án.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trong nước đã tập trung phân tích, đánh
giá và bình luận chi tiết về vấn đề huỷ phán quyết của trọng tài thương mại, có phân
tích thực trạng pháp luật Việt Nam và thực trạng huỷ phán quyết trọng tài. Tuy
nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, chuyên sâu pháp luật
về huỷ phán quyết của trọng tài thương mại ở Việt Nam hiện nay để đưa ra các đề
xuất và khuyến nghị hoàn thiện pháp luật.
2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Ở nước ngoài, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề huỷ phán quyết của
trọng tài thương mại và pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực này như; (i) CIETAC
(2013), Working Report of 2012 and Working Plan of 2013; (ii) James và Nicholas
Glouldv (1996), International comercialarbitration: A handbook, LLP London New York – HongKong; (iii) Sách, “The Guide to Challenging and Enforcing
Arbitration

Awards”,

1st

Edition,

2019

đăng

tại

địa

chỉ

https://globalarbitrationreview.com/edition/1001323/the-guide-to-challenging-andenforcing-arbitration-awards-first-edition;(iv) Okezie Chukwumerije (1994),Choice
of law in internationalcomercialarbitration, Quorum Books Westport; (v) Bài
nghiên cứu của Nadia Dridi, “The Enforcement of Foreign Arbitration Awards in
Vietnam: Overview and Criticisms”, đăng trên Harvard International Law Journal
tại địa chỉ https://harvardilj.org/2017/12/the-enforcement-of-foreign-arbitrationawards-in-vietnam-overview-and-criticisms/; (vi) Bài viết của Elsa Rodrigues
(2019), “Actions for Annulment of International Arbitral Awards: Recent Trends in
the

French

đăng

Courts”,

tại

địa

chỉ

https://andersentaxlegal.fr/content/uploads/Publications/2019/03/Raising-The-Barvolume-14-issue-12-21-December-2018-ERO.pdf v.v.

3


Nhìn chung các công trình nghiên cứu của nước ngoài đã tập trung phân tích,
đánh giá và bình luận chi tiết về vấn đề huỷ phán quyết của trọng tài thương mại và
có nghiên cứu đã đề cập tới pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, chưa có công trình nào
nghiên cứu một cách tổng thể, chuyên sâu pháp luật về huỷ phán quyết của trọng tài
thương mại ở Việt Nam hiện nay để đưa ra các đề xuất và khuyến nghị hoàn thiện
pháp luật.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn về
huỷ phán quyết của trọng tài thương mại và hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực
này ở Việt Nam hiện nay để từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp
luật Việt Nam về huỷ phán quyết của trọng tài thương mại.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu pháp luật về huỷ phán quyết của trọng tài
thương mại ở Việt Nam hiện nay với các giới hạn cụ thể sau đây:
- Về đối tượng: tập trung Luật Trọng tài thương mại 2010 và các văn bản
hướng dẫn thi hành; tập trung nghiên cứu các phán quyết của trọng tài thương mại
(ở Việt Nam và nước ngoài) là đối tượng có thể bị huỷ tại Việt Nam theo quy định
của pháp luật Việt Nam.
- Về thời gian: từ năm 2010 trở lại đây, sau khi Luật TTTM được ban hành.
- Về không gian: phạm vi lãnh thổ Việt Nam
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
4.1. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về huỷ
phán quyết của trọng tài thương mại và pháp luật về huỷ phán quyết của trọng tài
thương mại ở Việt Nam hiện nay, cụ thể:

4


(1) Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về trọng tài thương mại và vấn đề
hủy phán quyết của trọng tài thương mại.
(2) Làm rõ nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về hủy phán quyết của
trọng tài thương mại.
(3) Làm sáng tỏ thực trạng pháp luật, tình hình huỷ phán quyết của trọng tài
thương mại và đưa ra được một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về hủy phán quyết của trọng tài thương mại.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nói trên, luận văn có các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu và phân tích những vấn đề lý luận về trọng tài thương mại và
vấn đề hủy phán quyết của trọng tài thương mại;
- Nghiên cứu và phân tích nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về hủy
phán quyết của trọng tài thương mại;
- Nghiên cứu và phân tích thực trạng pháp luật, tình hình huỷ phán quyết của
trọng tài thương mại và đưa ra được một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
Việt Nam về hủy phán quyết của trọng tài thương mại.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở áp dụng nhiều phương pháp nghiên
cứu khoa học khác nhau. Cụ thể là phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp
tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và
đối chiếu, phương pháp đánh giá, kết hợp nghiên cứu lý luận và thực tiễn để đưa ra
các giải pháp cụ thể, có tính khả thi. Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong luận
văn là phương pháp phân tích – tổng hợp và phương pháp đánh giá.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Về phương diện lý luận và thực tiễn, luận văn góp phần củng cố và hoàn
thiện cơ sở lý luận và thực tiễn về huỷ phán quyết của trọng tài thương mại và pháp

5


luật về huỷ phán quyết của trọng tài thương mại ở Việt Nam hiện nay để các nhà lập
pháp, các cơ quan có thẩm quyền, các cán bộ nghiên cứu, các cơ quan tài phán, các
doanh nghiệp Việt Nam có thể vận dụng trong quá trình thực hiện, giải quyết tranh
chấp, xây dựng và hoàn thiện pháp luật.
Luận văn cũng có thể là một nguồn tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu,
giảng dạy và học tập về giải quyết tranh chấp thương mại nói chung và giải quyết
tranh chấp bằng trọng tài thương mại nói riêng theo quy định của pháp luật Việt
Nam.
7. Bố cục các chương của luận văn
Ngoài phần mở đầu và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu
thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát về trọng tài thương mại và vấn đề hủy phán quyết của
trọng tài thương mại.
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về hủy phán quyết của trọng tài
thương mại.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hủy phán quyết của trọng tài
thương mại.

6


Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ
VẤN ĐỀ HỦY PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về trọng tài thương mại
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp trong thương
mại xuất hiện từ lâu trên thế giới. Khái niệm trọng tài thương mại theo đó cũng
được đề cập nhiều trong các văn bản pháp luật quốc tế và các tài liệu về trọng tài
thương mại. Cho đến nay, đã có rất nhiều khái niệm được đưa ra từ nhiều góc độ
khác nhau, từ đó dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau về trọng tài thương mại.
Okezie Chukwumerije (1994) cho rằng: Trọng tài là một cơ chế giải quyết
tranh chấp giữa các bên với nhau, được thực hiện thông qua một cá nhân do các bên
lựa chọn hoặc bởi việc dựa trên những thủ tục hay những tổ chúc nhất định được
lựa chọn bởi chính các bên. Theo đó, khái niệm trọng tài được hiểu là một cá nhân
hoặc một tổ chức nhất định được lựa chọn bởi các bên tham gia tranh chấp để giải
quyết vấn đề phát sinh. Khái niệm này được đưa ra mang ý nghĩa giải thích về mặt
hình thức của trọng tài chứ chưa thực sự đi sâu vào ý nghĩa và đặc điểm của trọng
tài thương mại.[1]
James và Nicholas (1996) đã viết rằng: Trọng tài được coi như là một tiến
trình tư được mở ra theo sự thỏa thuận của các bên nhằm giải quyết một tranh chấp
đang tồn tại hoặc có thể sẽ phát sinh bởi một hội đồng trọng tài gồm một hoặc nhiều
trọng tài viên. Khái niệm này có đề cập đến trọng tài là quá trình giải quyết tranh
chấp tư nhân, tức là tự các cá nhân thống nhất với nhau lập ra hội đồng trọng tài
gồm một hay nhiều trọng tài viên, nhằm giải quyết tranh chấp đang tồn tại hoặc có
thể sẽ phát sinh sau đó. So với quan điểm trước đây, có thể nhận thấy khái niệm

[1]

Xem Okezie Chukwumerije (1994), Choice of lawinternationalcomercialarbitration, Quorum Books

Westpor, conecticutlaw, tr.2.

7


trọng tài đã được mở rộng về mặt tổ chức và cách thức hoạt động của trọng tài.[2]
Ngày nay, trọng tài ngày càng được các doanh nghiệp trên thế giới ưa
chuộng. Các tổ chức trọng tài cũng phát triển mạnh mẽ theo thời gian. Khái niệm
trọng tài cũng được mở rộng hơn. Theo nhiều cách tiếp cận khác nhau, có thể nhận
thấy trọng tài được coi như một bên thứ ba ngoài Nhà nước để giải quyết tranh chấp
thương mại phát sinh giữa các bên, được thành lập bởi sự thỏa thuận bởi các bên
với cơ cấu là một hội đồng trọng tài bao gồm một hay nhiều trọng tài viên. Tuy
trọng tài là sự tự thỏa thuận lựa chọn của cả hai bên nhưng việc giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài dựa trên cơ sở pháp luật và được pháp luật bảo hộ. Điều này thể
hiện sự tự do nhưng trong khuôn khổ luật pháp của các bên.
Như vậy, từ nhiều khía cạnh khác nhau về trọng tài thương mại, có thể hiểu
khái niệm này đơn giản như sau: Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết
tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, được thực hiện bởi Hội đồng
trọng tài do các bên lựa chọn, với tư cách là một bên thứ ba độc lập nhằm giải quyết
tranh chấp bằng phán quyết được đưa ra trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên và có
ràng buộc về mặt pháp lý đối với mỗi bên.
Đặc điểm của trọng tài thương mại Trọng tài thương mại có những đặc điểm
cơ bản sau đây:
Một là, trọng tài thương mại mang tính phi Nhà nước. Trọng tài thương mại
là một tổ chức phi Chính phủ, do các trọng tài viên tự thành lập để giải quyết tranh
chấp thương mại phát sinh và hoạt động dựa trên các văn bản pháp luật hiện hành,
về bản chất, trọng tài không phải cơ quan Nhà nước, không hoạt động bằng ngân
sách Nhà nước. Mục đích hoạt động của các trung tâm trọng tài là cung cấp dịch vụ
để tìm kiếm lợi nhuận dựa vào phí trọng tài. Khi xét xử trọng tài không nhân danh
Nhà nước để đưa ra phán quyết. Như vậy, trọng tài là phương thức giải quyết tranh

[2]

Xem James và Nicholas Glouldv (1996), International comercialarbitration: A handbook, LLP London -

New York - HongKong, tr.3.

8


chấp và là cơ quan giải quyết tranh chấp mang tính phi Nhà nước.
Hai là, cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là sự kết hợp giữa hai yếu
tố thỏa thuận và tài phán. Trọng tài mang yếu tố thỏa thuận tự nguyện giữa các bên.
Điều này thể hiện ở việc lựa chọn trọng tài giải quyết tranh chấp cần có sự thỏa
thuận của các bên ngay khi kí kết hợp đồng. Sau khi thỏa thuận trọng tài có hiệu
lực, nếu tranh chấp phát sinh, đương sự sẽ tiếp tục thỏa thuận lựa chọn hội đồng
trọng tài để giải quyết. Như vậy, trọng tài hoàn toàn mang tính chất tự thỏa thuận
của các bên. Trọng tài đi kèm với yếu tố tài phán. Tuy là tổ chức phi Chính phủ
nhưng các trung tâm trọng tài hoạt động giải quyết các vụ tranh chấp dựa trên luật
lệ quy định hiện hành. Trọng tài xét xử dựa vào luật pháp, đưa ra phán quyết được
Nhà nước bảo hộ và bắt buộc thi hành. Dù không phải cơ quan Nhà nước nhưng xét
xử trọng tài mang tính luật pháp và các đơn vị phải thực thi theo quy định của pháp
luật. Cơ chế trọng tài là sự kết hợp của hai yếu tố: thỏa thuận và tài phán. Giải quyết
tranh chấp bằng trọng tài vừa kèm theo sự tự thỏa thuận của các bên đương sự, vừa
dựa trên những quy định của luật pháp hiện hành, là sự hòa giải kết hợpvới yếu tố
pháplý.
Ba là, trọng tài đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên đương sự. Các bên
có quyền tự định đoạt khi lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp, ngay từ thỏa
thuận trọng tài hay lựa chọn trọng tài viên, lựa chọn quy tắc tố tụng trọng tài, luật
áp dụng để giải quyết tranh chấp, địa điểm giải quyết tranh chấp... So với giải quyết
tranh chấp bằng tòa án, các đơn vị tranh chấp lựa chọn trọng tài có quyền tự định
đoạt cao hơn. Bởi vậy đây cũng là một yếu tố làm nên sự khác biệt của trọng tài.
Bốn là, phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm bắt buộc thi hành đối
với mỗi bên.
Trọng tài hoạt động dựa trên hình thức xét xử một lần. Phán quyết trọng tài
có giá trị chung thẩm và không thể kháng cáo trước bất kì cơ quan, tổ chức nào (trừ
một số trường hợp liên quan đến hủy phán quyết trọng tài). Phán quyết của trọng tài
bắt buộc thi hành đối với các bên tham gia. Đặc điểm này là một yếu tố quan trọng

9


tạo điều kiện thuận lợi trong việc giải quyết tranh chấp nhanh gọn, dứt điểm và là
nguyên nhân khiến cho các doanh nghiệp tin tưởng và lựa chọn trọng tài.
Năm là, trọng tài có kèm theo sự hỗ trợ của tòa án. Trọng tài không phải là
cơ quan Nhà nước, không nhân danh Nhà nước nên không có các cơ quan cưỡng
chế như Nhà nước. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài lại mang nhiều yếu tố tự
nguyện, thỏa thuận giữa các bên, không có sự can thiệp nhiều từ phía các trọng tài
viên. Bởi vậy việc đảm bảo khách quan trọng quá trình xét xử đối với trọng tài gặp
nhiều khó khăn. Tuy nhiên trọng tài lại có được cơ chế hỗ trợ từ tòa án theo quy
định của pháp luật. Tòa án sẽ đảm bảo phán quyết của trọng tài được thực thi khi
một hoặc cả hai bên đương sự không thực sự tự nguyện.
Ngoài ra, tòa án còn có thể hỗ trợ trọng tài ở một số nội dung khác như quyết
định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, kê biên tài sản, bảo toàn chứng cứ, cấm
hoặc buộc đương sự thực hiện một số hành vi nhất định...
1.1.2. Phân loại trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại có hai hình thức phổ biến nhất được biết đến là trọng
tài vụ việc (trọng tài ad hoc) và trọng tài quy chế (trọng tài thường trực).
1.1.2.1.Trọng tài vụ việc (trọng tài Ad-hoc)
Trọng tài vụ việc là hình thức tổ chức trọng tài do các bên tranh chấp thỏa
thuận thành lập để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể và sẽ tự chấm dứt sau khi
tranh chấp được giải quyết. Đây là hình thức trọng tài xuất hiện sớm nhất và được
sử dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới. Hình thức trọng tài này không có trụ sở
thường trực, không có bộ máy điều hành và không có danh sách trọng tài viên.
Trọng tài viên được các bên lựa chọn hoặc chỉ định. Quy tắc tố tụng là do các bên
thỏa thuận lựa chọn một trong những quy tắc tố tụng phổ biến trong nước và quốc
tế, trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng riêng.
Trọng tài vụ việc có một số đặc điểm nổi bật như sau:
Thứ nhất, quyền lựa chọn trọng tài viên của các bên đương sự không bị giới

10


hạn theo một danh sách có sẵn như trọng tài thường trực.
Thứ hai, các bên đương sự có toàn quyền xác lập quy chế tố tụng mà không
phải phụ thuộc vào quy tắc tố tụng của trung tâmtrọng tài có sẵn. Doanh nghiệp có
thể tự định đoạt các cách thiết lập hội đồng trọng tài và thủ tục giải quyết thích ứng
với tính chất từng vụ tranh chấp. Các đặc điểm này giúp phân biệt trọng tài vụ việc
với hình thức trọng tài khác.
Như vậy, trọng tài vụ việc là hình thức tổ chức đơn giản, linh hoạt và mềm
dẻo về phương thức hoạt động nên nói chung nó phù hợpvới tranh chấp ít tình tiết
phức tạp, có nhu cầu giải quyết nhanh chóng và nhất là các bên tranh chấp có kiến
thức và hiểu biết pháp luật cũng như kinh nghiệm tranh tụng.
1.1.2.2. Trọng tài quy chế (Trọng tài thường trực)
Trọng tài thường trực là trọng tài có tổ chức được thành lập để hoạt động
một cách thường xuyên, có trụ sở, có điều lệ và quy tắc xét xử riêng. Hiện nay,
trọng tài thường trực được tổ chức dưới dạng các trung tâm trọng tài. Trung tâm
trọng tài là tổ chức phi Chính phủ có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài khoản
riêng và có trụ sở giao dịch ổn định. Cơ cấu tổ chức của trung tâm trọng tài gồm có
ban điều hành và các trọng tài viên của trung tâm. Tổ chức quản lý của các trung
tâm trọng tài thường đơn giản và gọn nhẹ. Các trung tâm trọng tài có thể tự quyết
định về lĩnh vực hoạt động và có quy tắc tố tụng riêng. Các bên đương sự phải tuân
theo các quy tắc này, mọi sự thay đổi phải được thỏa thuận và phải thông báo cho
Hội đồng trọng tài. Tuy nhiên, quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài thường
linh hoạt, có khả năng đáp ứng các nhà kinh doanh trong việc giải quyết tranh chấp
nên sự thay đổi về quy tắc tố tụng thường không cần thiết. Do đó, các đương sự chỉ
cần thỏa thuận áp dụng các bộ quy tắc này, không phải mất thêm thời gian thỏa
thuận và tiện lợi khi các doanh nghiệp này không am hiểu nhiều trong vấn đề kiện
tụng. Các tổ chức trọng tài thường trực đều độc lập và không có quan hệ gì với nhau
trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế, không phụ thuộc vào nhau và đều bình
đẳng trước sự lựa chọn của doanh nghiệp. Việc lựa chọn các tổ chức trọng tài cũng

11


hoàn toàn phụ thuộc vào sự thỏa thuận của mỗi bên.
1.2. Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài
1.2.1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại của trọng tài
Mỗi khi nhắc đến giải quyết tranh chấp nói chung và tranh chấp thương mại
nói riêng, mọi người thường nghĩ tới Tòa án. Thật vậy, vì Tòa án là cơ quan có chức
năng xét xử, phân định đúng sai, đem lại công bằng cho các chủ thể và phương thức
giải quyết tranh chấp tại tòa án được coi là có hiệu quả và triệt để nhất. Tuy nhiên,
bên cạnh Tòa án, hiện nay pháp luật Việt Nam cũng quy định một phương thức giải
quyết tranh chấp thương mại cũng đầy hiệu quả, hiện đại Trọng tài thương mại.
Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương
mại được tiến hành theo trình tự, thủ tục do các bên thỏa thuận hoặc theo quy định
của pháp luật. Điều 2 Luật TTTM 2010 quy định ba nhóm vụ việc thuộc thẩm
quyền giải quyết của trọng tài thương mại, cụ thể:
Thứ nhất, tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại. Tranh
chấp này đòi hỏi các bên trong tranh chấp đều phải có hoạt động thương mại, mà
tiêu chí nhận diện hoạt động thương mại theo Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại
2005 là mục đích sinh lời.
Thứ hai, tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó có ít nhất một bên có
hoạt động thương mại. Với quy định này, chỉ cần một bên trong tranh chấp có hoạt
động thương mại, bên còn lại có thể tham gia quan hệ với các mục đích phi lợi
nhuận như tiêu dùng, nhu cầu cá nhân.
Thứ ba, tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định phải giải quyết
bằng trọng tài. Trong trường hợp này, tiêu chí hoạt động thương mại thậm chí còn
không được đặt ra, mà chỉ cần trong pháp luật chuyên ngành có quy định tranh chấp
có thể giải quyết bằng trọng tài thương mại.
Luật TTTM 2010 quy định rất rõ mối quan hệ giữa tòa án và trọng tài. Theo
Điều 6 của Luật TTTM 2010, một khi các bên đã thỏa thuận việc giải quyết tranh

12


chấp thương mại bằng trọng tài thương mại thông qua một thỏa thuận trọng tài có
hiệu lực, thì khi đó tòa án phải từ chối thụ lý đơn khởi kiện khi một trong các bên
khởi kiện tại tòa án để giải quyết tranh chấp. Lúc này, dù không trực tiếp giải quyết,
nhưng tòa án có vai trò hỗ trợ và giám sát hoạt động giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài thương mại khi một trong các bên hoặc Hội đồng trọng tài có yêu cầu.
Luật TTTM 2010 cũng quy định rất rõ điều kiện để một tranh chấp thương mại có
được giải quyết bằng trọng tài thương mại, cũng như các thủ tục để một tranh chấp
được giải quyết bằng trọng tài thương mại. Theo đó, để một tranh chấp thương mại
được giải quyết bằng trọng tài thương mại, giữa các bên phải có một thỏa thuận
trọng tài, nghĩa là các bên phải có thỏa thuận về việc giải quyết bằng trọng tài đối
với các tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh và thỏa thuận này phải có hiệu
lực.[3]
1.2.2. Thỏa thuận trọng tài
Việc thỏa thuận chọn Trọng tài Thương mại giải quyết tranh chấp là điều
kiện tiên quyết để phát sinh thẩm quyền giải quyết của Trọng tài Thương mại.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Trọng tài Thương mại năm
2010 thì:“Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng
Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh”.
Thỏa thuận là đi tới sự đồng ý sau khi cân nhắc, thảo luận. Thỏa thuận trọng
tài là các bên đồng ý đưa tất cả hoặc một số tranh chấp đã hoặc có thể phát sinh từ
giao dịch thương mại có khả năng được áp dụng trọng tài ra giải quyết bằng con
đường trọng tài.
Đây cũng chính là điều kiện tiên quyết để phát sinh thẩm quyền giải quyết
của Trọng tài Thương mại. Tức là, Trọng tài Thương mại chỉ có thẩm quyền xét xử

[3]

khoản 2 Điều 3 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010.

13


khi các bên tranh chấp có sự thỏa thuận chọn Trọng tài Thương mại để giải quyết
tranh chấp.
Theo quy định của pháp luật, thỏa thuận trọng tài cần có những đặc điểm
sau:
Thứ nhất, thỏa thuận trọng tài phải là một thỏa thuận tức là sự thể hiện thống
nhất ý chí của các bên về việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Thương mại.
Thứ hai, về hình thức thể hiện, thỏa thuận trọng tài hầu hết được thể hiện
bằng văn bản. Với việc thể hiện bằng vản bản nhằm giảm thiểu rủi ro cho các bên
trong việc chứng minh có sự thỏa thuận khi tranh chấp, có giá trị như là chứng cứ
cho việc xác định ý chí của các bên muốn giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
thương mại. Nhưng theo quy định của pháp luật dân sự, các hình thức thể hiện khác
như lời nói, hành vi đều có giá trị thể hiện sự thỏa thuận này. Thực tế, việc thỏa
thuận bằng lời nói, hành vi ít được các bên lựa chọn vì chứa nhiều rủi ro.
Thứ ba, về cách thỏa thuận Trọng tài Thương mại. Theo quy định của khoản
2 Điều 3 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 thì thỏa thuận Trọng tài Thương mại
có hai cách là thỏa thuận được lập trước khi phát sinh tranh chấp thương mại và sau
khi phát sinh tranh chấp thương mại.
Với thỏa thuận được lập trước khi có tranh chấp thương mại là thỏa thuận
này được thể hiện dưới dạng một điều khoản của hợp đồng. Điều khoản về thỏa
thuận trọng tài được soạn và thống nhất như một phần của hợp đồng, các bên trong
hợp đồng thỏa thuận chọn Trọng tài Thương mại giải quyết tranh chấp chứ không
phải là Tòa án trước khi có tranh chấp phát sinh. Thực tế, cách này được sử dụng
nhiều nhằm giảm thiếu tranh chấp về sau về vấn đề chọn phương thức giải quyết
tranh chấp.

14


Cách thứ hai, thỏa thuận được lập sau khi tranh chấp phát sinh, ít phổ biến
hơn. Thường gọi là “thỏa thuận đưa tranh chấp ra Trọng tài”. Thỏa thuận này
thường phức tạp hơn điều khoản trọng tài – bởi một khi tranh chấp đã phát sinh, các
bên có thể lựa chọn thành viên của hội đồng trọng tài, chỉ rõ tranh chấp và xác định
các bên muốn giải quyết tranh chấp đó như thế nào.
Ngoài ra, trên thực tế còn có một cách thứ ba, pháp luật về Trọng tài Thương
mại Việt Nam chưa quy định, được gọi là “thỏa thuận trọng tài dự kiến”, được phát
sinh trong các văn kiện pháp lý quốc tế, như hiệp định đầu tư song phương (BIT) ký
kết bởi hai quốc gia. Mỗi quốc gia trong hiệp định đồng ý đưa bất cứ tranh chấp nào
có thể phát sinh trong tương lai giữa họ và một “nhà đầu tư” ra trọng tài. “Nhà đầu
tư” này không phải là một bên trong hiệp định. Thực tế, nhà đầu tư chưa được xác
định tại thời điểm hiệp định được ký kết. Khi “thỏa thuận trọng tài dự kiến” nói trên
có hiệu lực, nó thiết lập một “đề nghị có tính ràng buộc” bởi quốc gia có liên quan
về việc giải quyết bất cứ tranh chấp “đầu tư” nào tại trọng tài. Với điều khoản này,
nhà đầu tư được bảo vệ quyền, lợi ích bằng việc chọn trọng tài và lợi thế này đã
được nhiều nhà đầu tư nhanh chóng tận dụng trên thực tế.
Thứ tư, về nội dung, thỏa thuận phải đảm bảo về tính rõ ràng, sự chính xác
của thỏa thuận trọng tài, nhằm dễ dàng xác định được thẩm quyền xét xử của hội
đồng trọng tài cụ thể.
Thứ năm, thỏa thuận trọng tài có hiệu lực với hợp đồng, dù thỏa thuận được
thể hiện dưới một điều khoản của hợp đồng hoặc dưới hình thức văn bản riêng.
Như vậy, việc thỏa thuận trọng tài thương mại là việc quan trọng và trước
tiên để phát sinh thẩm quyền giải quyết của Trọng tài Thương mại.
1.2.3. Tố tụng trọng tài
(i) Đơn kiện và thụ lí đơn kiện.
Bước đầu của quá trình tố tụng trọng tài, nguyên đơn phải gửi đơn kiện đến
15


trung tâm trọng tài (trong trường hợp giải quyết bằng trung tâm trọng tài) hay gửi
đơn kiện cho bị đơn (trong trường hợp giải quyết bằng trọng tài vụ việc). Trong quá
trình tố tụng các bên có thể bổ sung, sửa đổi đơn kiện.
Đơn kiện phải đáp ứng đầy đủ các thông tin quy định tại khoản 2, khoản 3
Điều 30 Luật TTTM 2010. Một trong những nội dung quan trọng của đơn kiện là
nguyên đơn chỉ ra cụ thể thông tin về người được nguyên đơn chọn làm trọng tài
viên. Cùng theo đơn kiện các bên cần gửi theo bản thỏa thuận trọng tài, đây là tài
liệu quan trọng để trung tâm trọng tài đánh giá tranh chấp có được thụ lí hay không.
Thời hiệu khởi kiện theo tố tụng trọng tài là hai năm kể từ thời điểm quyền và lợi
ích hợp pháp bị xâm hại.
(ii) Bản tự bảo vệ của bị đơn.
Theo Điều 35 Luật TTTM 2010, trong thời hạn luật định bị đơn phải gửi cho
trung tâm trọng tài bản tự bảo vệ (đối với tranh chấp giải quyết tại trung tâm trọng
tài). Đối với tranh chấp giải quyết tại trọng tài vụ việc, nếu các bên không có thỏa
thuận khác thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn kiện và các tài liệu
kèm theo do chính nguyên đơn gửi, bị đơn phải gửi đồng thời hai bản tự bảo vệ cho
nguyên đơn và trọng tài viên, kèm theo các thông tin về người được chọn làm trọng
tài viên.
(iii) Thành lập hội đồng trọng tài
Nếu vụ tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài thường trực thì mỗi bên
trong tranh chấp sẽ chọn một trọng tài viên và hai trọng tài viên đó sẽ cùng chọn ra
một trọng tài viên thứ ba làm chủ tịch hội đồng trọng tài. Nếu hết hạn luật định mà
bị đơn không chọn được trọng tài viên cho mình thì chủ tịch trung tâm trọng tài sẽ
chỉ định trọng tài viên cho bị đơn.
Nếu vụ tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài vụ việc, ngay từ khi
nguyên đơn gửi đơn kiện cho bị đơn họ đã chọn trọng tài viên cho mình và bị đơn
trong bản tự bảo vệ cũng đã chọn ra một trọng tài viên. Và hai trọng tài đó sẽ bầu ra
một trọng tài viên khác làm chủ tịch hội đồng trọng tài. Điều khác ở đây là nếu bị
16


đơn không chọn trọng tài viên thì một hoặc các bên có quyền yêu cầu tòa án chỉ
định trọng tàiviên cho các bị đơn. Căn cứ xác định thẩm quyền của tòa án được quy
định tại khoản 2 điều 7 Luật TTTM 2010.
(iv) Chuẩn bị giải quyết vụ việc
Sau khi hội đồng trọng tài được thành lập tranh chấp thương mại sẽ chính
thức được chuẩn bị giải quyết. Quá trình này gồm các công việc: nghiên cứu hồ sơ,
xác định sự việc, thu thập chứng cứ, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời.
(v) Hòa giải
Hòa giải là một trong những biện pháp tốt nhất cho việc giải quyết tranh
chấp tại trọng tài. Trong tố tụng trọng tài, hòa giải không phải là thủ tục tố tụng bắt
buộc song hội đồng trọng tài phải tôn trọng việc tự hòa giải của các bên.
(vi) Tổ chức phiên họp giải quyết tranh chấp và quyết định trọng tài
Thời gian tiến hành, địa điểm giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận,
trong trường hợp các bên không thỏa thuận thì chủ tịch hội đồng trọng tài quyết
định thời gian mở phiên họp giải quyết tranh chấp và phải gửi giấy triệu tập cho các
bên đương sự tham gia phiên họp chậm nhất là 30 ngày trước ngày mở phiên họp.
Các bên có thể trực tiếp tham dự phiên họp giải quyết tranh chấp hoặc cử đại
diện của mình, nếu bị đơn đã được gửi giấy triệu tập mà vắng mặt không có lí do thì
phiên họp vẫn được tiến hành, các bên đương sự cũng có thể yêu cầu hội đồng trọng
tài hoãn phiên họp giải quyết tranh chấp nếu có lí do chính đáng.
Kết thúc quá trình giải quyết tranh chấp hội đồng trọng tài phải đưa ra phán
quyết trọng tài. Quyết định trọng tài được biểu quyết theo nguyên tắc đa số, nếu vụ
tranh chấp do trọng tài viên duy nhất giải quyết thì trọng tài viên này quyết định.
Quyết định của trọng tài phải đảm bảo về nội dung và hình thức theo quy định của
luật này.

17


1.2.4. Phán quyết của trọng tài thương mại
1.2.4.1. Khái niệm và đặc điểm phán quyết của trọng tài thương mại
Khi các bên tranh chấp có thỏa thuận trọng tài về việc giải quyết tranh chấp,
trọng tài sẽ thụ lý để giải quyết theo một trình tự, thủ tục mà pháp luật về trọng tài
thương mại quy định. Kết thúc quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài thương mại
sẽ đưa ra quyết định cuối cùng gọi là phán quyết. Phán quyết được hiểu là một
quyết định để mọi người phải tuân theo. Cũng có thể hiểu rằng phán quyết là kết
quả cuối cùng của một trình tự, thủ tục pháp lý theo quy định của pháp luật.[4]
Như vậy, có thể hiểu phán quyết của trọng tài thương mại là văn bản có giá
trị pháp lý của Hội đồng trọng tài thương mại giải quyết toàn bộ vụ tranh chấp
thương mại giữa các bên tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài, buộc các bên
tham gia tranh chấp phải thực hiện.
Đặc điểm phán quyết của trọng tài thương mại:
Một là, phán quyết trọng tài là quyết định giải quyết toàn bộ vụ tranh chấp và
chấm dứt tố tụng trọng tài của hội đồng trọng tài.
Hai là, quá trình giải quyết toàn bộ vụ tranh chấp của Hội đồng trọng tài tính
từ thời điểm trung tâm trọng tài nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn (đối với
trọng tài thường trực) hoặc từ khi bị đơn nhận được đơn khởi kiện (đối với trọng tài
vụ việc) cho đến khi ra quyết định trong phiên họp cuối cùng. Kết thúc quá trình đó,
phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm. Phán quyết này so với các quyết định
khác mà Hội đồng trọng tài ban hành sẽ có giá trị cuối cùng, giải quyết tất cả các
vấn đề tồn tại và mang tính ràng buộc đối với mỗi bên.
Ba là, phán quyết trọng tài phải trình bày theo một quy định chung về hình
thức văn bản theo quy định của pháp luật. Việc trình bày phán quyết trọng tài có

[4]

Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật trung ương (2013), Trọng tài thươngmại và pháp luật về

trọng tài thương mại, Đặc san tuyên truyền pháp luật số 07/2013

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×