Tải bản đầy đủ

Quyền, trách nhiệm của tổ chức công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong doanh nghiệp từ thực tiễn tỉnh quảng nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
.................

LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUYỀN, TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN
BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
TRONG DOANH NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NINH

NGUYỄN THỊ BÍCH LIÊN

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ NGÀNH: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ MINH TIẾN

HÀ NỘI- 2019


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu trong luận văn là trung thực. Những kết
luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2019

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Bích Liên


LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa Sau đại học, Trường Đại học Mở Hà Nội và
sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn TS. Vũ Minh Tiến về đề tài luận văn: "Quyền,
trách nhiệm của Tổ chức công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong
doanh nghiệp từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh ". Để hoàn thành được luận văn này, tôi
đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của quý thầy, cô giáo trong
trường.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo của Trường Đại
học Mở Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình tôi học tập,
nghiên cứu tại Viện.
Chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn khoa học TS. Vũ Minh Tiến đã tận
tình hướng dẫn tôi nghiên cứu thực hiện luận văn của mình.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa đào tạo sau đại
học, Trường Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học
tập. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng để thực hiện luận văn một cách hoàn chỉnh
nhất, nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà tự bản thân không
thể tự nhận thấy được. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của Quý thầy, cô giáo để
luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên tôi, động
viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện luận văn, công trình nghiên cứu
của mình.
Hà Nội, ngày

tháng


năm 2019

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Bích Liên


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……………………………….………………………………………….1
Chương 1: kHÁI QUÁT VỀ QUYỀN, TRÁCH NHIỆM CÔNG ĐOÀN BẢO VỆ
QUYỀN,

LỢI

ÍCH

CỦA

NGƯỜI

LAO

ĐỘNG

TRONG

DOANH

NGHIỆP……………………………………………………………………………8
1.1. Các khái niệm cơ bản………………………………………………………….8
1.1.1. Công đoàn Việt Nam…………………………………………………...……8
1.1.2. Quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn…………………………….10
1.1.3. Quyền, lợi ích của người lao động:………………………………………..12
1.1.4. Công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động:……………………14
1.2. Ví trí, vai trò và quyền, trách nhiệm chung của công đoàn Việt Nam…...…14
1.2.1. Ví trí, vai trò của tổ chức công đoàn Việt Nam:…………………………..14
1.2.2. Quyền, trách nhiệm của công đoàn Việt Nam…………………………….18
1.3. Nội dung quy định pháp luật về quyền, trách nhiệm của tổ chức công đoàn
bảo vệ quyền, lợi ích của nlđ trong doanh nghiệp……………………………….22
1.3.1. Công đoàn thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thỏa ước lao
động tập thể……………………………………………………………………….22
1.3.2. Công đoàn đối thoại với đơn vị sử dụng lao động tại nơi làm việc……….29
1.3.3. Công đoàn tham gia với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp lao động; khởi kiện tại tòa án và tham gia tố tụng……………34
1.3.4. Công đoàn tổ chức và lãnh đạo đình công………………………………...41
1.3.5. Trách nhiệm của công đoàn trong việc xử lý kỷ luật lao động:…………..43
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN, TRÁCH
NHIỆM CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN BẢO VỆ QUYỀN LỢI ÍCH CỦA
NGƯỜI

LAO

ĐỘNG

TRONG

CÁC

DOANH

NGHIỆP



QUẢNG

NINH……………………………………………………………………………...45


2.1. Khái quát tình hình lao động và hoạt động công đoàn trong các doanh nghiệp
ở Quảng Ninh………………………………………………………………..…...45
2.1.1. Tình hình kinh tế - xã hội ở Quảng Ninh…………………………………..45
2.1.2. Tình hình lao động, việc làm, doanh nghiệp trên địa bàn………………...46
2.1.3. Tình hình hoạt động của công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp……………49
2.1.4. Tình hình tổ chức cán bộ công đoàn trên địa bàn………………………...52
2.2. Thực trạng thực hiện quyền, trách nhiệm của tccđ bảo vệ quyền, lợi ích của
NLĐ trong doanh nghiệp ở quảng ninh………………………………………….57
2.2.1. Thực trạng công đoàn tham gia thương lượng, ký kết và giám sát việc thực
hiện thỏa ước lao động tập thể……………………………………………………58
2.2.2. Thực trạng công đoàn đối thoại với đơn vị sử dụng lao động tại nơi làm việc...64
2.2.3. Thực trạng công đoàn tham gia giải quyết tranh chấp lao động; khởi kiện
tại tòa án và tham gia tố tụng…………………………………………………….67
2.2.4. Thực trạng công đoàn tổ chức và lãnh đạo đình công……………………72
2.2.5. Thực trạng về trách nhiệm của công đoàn trong việc xử lý kỷ luật lao
động……………………………………………………………………………….75
2.3. Đánh giá thực hiện pháp luật về quyền và trách nhiệm của tccđ bảo vệ quyền,
lợi ích của nlđ trong doanh nghiệp………………………………………………77
2.3.1. Ưu điểm……………………………………………………………………78
2.3.2. Tồn tại, hạn chế……………………………………………………………81
2.3.3. Nguyên nhân của những tồn tại……………………………………………83
Chương 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ CỦA CÔNG ĐOÀN BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO
ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP Ở QUẢNG NINH…………………………85
3.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật:……………………………………………..85
3.2. Các nhóm giải pháp…………………………………………………………87
3.2.1. Tham gia xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật của nhà
nước, cơ chế chính sách của tỉnh liên quan đến quyền, lợi ích của nlđ trong các
doanh nghiệp……………………………………………………………………...87


3.2.2. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của tổ chức công đoàn……………………89
3.2.3. Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công đoàn đáp ứng yêu cầu
bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ…………………………………………………...93
3.2.4. Nâng cao nhận thức của các cấp công đoàn của NLĐ của NSDLĐ……...94
KẾT LUẬN:………………………………………………………………..……..98
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………100


DANH MỤC BIỂU
Biểu 1: tổng hợp trình độ của cán bộ cđcs doanh nghệp……………………….53
Biểu 2: kết quả công tác đào tạo, tập huấn cán bộ CĐCS doanh nghiệp………..55
Biểu 3: người sử dụng lao động đánh giá năng lực cbcđ cơ sở…………………56


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BHXH

: Bảo hiểm xã hội

BHYT

: Bảo hiểm y tế

CBCĐ

: Cán bộ công đoàn

CĐCS

: Công đoàn cơ sở

CNXH

: Chủ nghĩa xã hội

GCCN

: Giai cấp công nhân

LĐLĐ

: Liên đoàn lao động

NLĐ

: Người lao động

NSDLĐ

: Người sử dụng lao động

CNVCLĐ

: Công nhân, viên chức, lao động

QHLĐ

: Quan hệ lao động

TƯLĐTT

: Thỏa ước lao động tập thể

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa

TCLĐ

: Tranh chấp lao động

TCCĐ

: Tổ chức công đoàn

ĐTTNLV

: Đối thoại tại nơi làm việc

TAND

: Tòa án nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Nghiên cứu về lịch sử ra đời của giai cấp công nhân (GCCN) và công đoàn,
theo học thuyết của Mác - Lê nin thì sự ra đời của tổ chức công đoàn (TCCĐ) là do
yêu cầu khách quan của GCCN, Công đoàn là tổ chức cách mạng của GCCN, viên
chức và NLĐ. Ở Việt Nam, sự hình thành GCCN Việt Nam vào đầu Thế kỷ XX
cũng gắn liền với sự ra đời của Công đoàn Việt Nam.
Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Điều 10 Chương I
quy định: “Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của GCCN và của
NLĐ, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho NLĐ, chăm lo và bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của NLĐ; tham gia quản lý nhà nước, quản lý
kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà
nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ
của NLĐ; tuyên truyền, vận động NLĐ học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề
nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Bộ Luật lao động 2012 được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2012, Điều 188 quy
định: “CĐCS thực hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính
đáng của đoàn viên công đoàn, NLĐ; tham gia thương lượng, ký kết và giám sát việc
thực hiện thỏa ước lao động tập thể, thang lương, bảng lương, định mức lao động,
quy chế trả lượng, quy chế thưởng, nội quy lao động, QCDC ở doanh nghiệp, cơ
quan, tổ chức; tham gia, hỗ trợ giải quyết TCLĐ; đối thoại, hợp tác với người sử
dụng lao động xây dựng QHLĐ hài hóa, ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp...”.
Luật công đoàn 2012 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2012 đã quy định
rõ quyền, trách nhiệm của công đoàn trong việc đại diện, bảo vệ quyền lợi ích hợp
pháp chính đáng cho NLĐ; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế; kiến nghị
với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi, bổ sung chính sách pháp
luật có liên quan đến TCCĐ, quyền, nghĩa vụ của NLĐ; tham dự các cuộc họp, hội

1


nghị của cơ quan, tổ chức cùng cấp khi bàn và quyết định những vấn đề liên quan
đến quyền, nghĩa vụ của NLĐ; tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của
doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động, giáo dục NLĐ; phát triển đoàn viên, thành
lập CĐCS... Để TCCĐ thực sự hoạt động có hiệu quả trong các doanh nghiệp, thì
TCCĐ phải thực hiện tốt quyền và trách nhiệm của TCCĐ như Luật đã quy định.
Trong quá trình hội nhập quốc tế và bản thân nội tại Việt Nam đặt ra yêu cầu
thực thi các quy định pháp luật lao động do tính phổ biến trên thế giới, trong đó có
việc bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ, thì quyền, trách nhiệm của một tổ chức bảo vệ
cho NLĐ đó là một tổ chức đại diện cho người lao động và tổ chức đó gọi là công
đoàn. Tất cả những điều đó thực sự là một thách thức lý luận và thực tiễn đối với
vai trò và vị trí pháp lý của tổ chức đại diện cho NLĐ, hay còn gọi là công đoàn.
Trong quá trình thực thi pháp luật lao động và công đoàn, tổ chức công đoàn thuộc
hệ thống Tổng LĐLĐ Việt Nam hiện nay đang là một tổ chức có vai trò vị trí pháp
lý trong việc bảo vệ quyền, lợi ích cho NLĐ, nếu TCCD không phát huy hiệu quả
thì việc một tổ chức công đoàn khác nằm ngoài hệ thống công đoàn bảo vệ NLĐ.
Do vậy, việc nghiên cứu quyền, trách nhiệm của TCCĐ bảo vệ quyền, lợi ích
của NLĐ trong các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay nhằm xác định những hạn chế,
nguyên nhân và đề xuất các giải pháp hoàn thiện bảo đảm thực thi quyền, trách
nhiệm của công đoàn, nhằm nâng cao và phát huy yếu tố quyền con người trong
điều kiện hội nhập quốc tế, hoàn thiện các thể chế của kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân là hết sức cần thiết.
Từ những vấn đề nêu trên, Bản thân lựa chọn đề tài “Quyền, trách nhiệm
của TCCĐ bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ trong các doanh nghiệp từ thực tiễn
tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ chuyên ngành luật
học kinh tế của mình..

2


2. Tình hình nghiên cứu:
Thực tế cho thấy các công trình nghiên cứu liên quan đến công đoàn nói
chung và pháp luật về công đoàn trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của người lao
động trong các doanh nghiệp nói riêng còn rất khiêm tốn, đặc biệt là ở Việt Nam.
Một số khái quát về những công trình nghiên cứu chủ yếu của các học giả, tác giả
liên quan đến đề tài như sau:
- Đề tài cấp Tổng Liên đoàn (2015): “Những vấn đề bức xúc, cấp bách của
công nhân, lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất - Thực trạng và giải
pháp”, mã số XH/TLĐ.2015.03 do ThS. Nguyễn Mạnh Thắng, Viện Công nhân và
Công đoàn làm chủ nhiệm. Đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng những khó
khăn, bức xúc của công nhân, lao động trong các KCN, KCX tập trung như: nhà ở
tại các khu công nghiệp, tiền lương và thu nhập, bảo hiểm xã hội, nơi sinh hoạt văn
hoá, cơ sở nuôi dạy trẻ... Nghiên cứu đã chỉ ra những hạn chế trong xây dựng và
thực hiện chính sách, vai trò của các cấp chính quyền và hoạt động công đoàn. Mặc
dù những khó khăn, bức xúc, cấp bách này những năm gần đây đã được quan tâm
giải quyết và có nhiều chuyển biến tích cực, song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu
mà Nghị quyết 20/NQ – TW đề ra.
- Đề tài cấp Tổng Liên đoàn (2015): “Vai trò của Công đoàn trong việc tham
gia hoàn thiện chính sách tiền lương tối thiểu vùng ở Việt Nam”, mã số
XH/TLĐ.2015.01, do ThS. Đặng Quang Hợp, Viện Công nhân và Công đoàn làm
chủ nhiệm. Đề tài đã đánh giá chính sách tiền lương tối thiểu ở Việt Nam và vai trò
của các cấp công đoàn; đề xuất giải pháp nâng cao vai trò của Công đoàn trong tham
gia hoàn thiện chính sách tiền lương tối thiểu vùng ở Việt Nam. Trong đó xác định:
Công đoàn muốn đại diện bảo vệ đoàn viên và NLĐ về tiền lương, lương tối thiểu
hiệu quả, thì ngoài việc tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chưa đủ, mà cần
chú trọng tham gia xây dựng có hiệu quả chính sách pháp luật, thúc đẩy và tăng
cường kỹ năng thương lượng tập thể.

3


- Đề tài "Công đoàn tổ chức và lãnh đạo đình công" năm 2016 foa Ban Quan
hệ lao động Tổng Liên đoàn chủ trì nghiên cứu sâu phân tích và làm rõ cơ sở lý luận
về đình công và Công đoàn tổ chức, lãnh đạo đình công; bản chất của đình công
trong nền kinh tế thị trưởng ở Việt Nam.
- Đề tài: "vai trò của tổ chức công đoàn trong bảo vệ vai trò của người lao
động ở Việt Nam hiện nay" năm 2014 của khoa luật - Đại học Quốc gia Hà nội do
tác giả Vũ Xuân Kiểm làm chủ nhiệm đề tài đi sâu nghiên cứu về vai trò của Công
đoàn trong giai đoạn hội nhập quốc tế.
- Cuốn sách chuyên khảo “Đối thoại trong doanh nghiệp và vai trò của công
đoàn” (2015) của tác giả Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Đức Hữu, đã cung cấp một
cách khái lược cơ sở lý luận nghiên cứu về đối thoại tại nơi làm việc (doanh nghiệp)
- một hình thức trong thương lượng tập thể, thông qua đối thoại công đoàn tạo diễn
đàn dân chủ, sử dụng sức mạnh tập thể để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính
đáng của đoàn viên và NLĐ. Tác giả đã trình bày một cách có hệ thống từ lý luận
về đối thoại trong doanh nghiệp; phân tích thực trạng đối thoại trong doanh nghiệp
và đặc biệt chỉ ra vai trò của công đoàn trong đối thoại tại doanh nghiệp. Trên cơ sở
đó đưa ra 06 nhóm giải pháp để tăng cường đối thoại trong doanh nghiệp và vai trò
của công đoàn nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của đoàn viên và NLĐ.
- Cuốn giáo trình “Quan hệ đối tác xã hội” (2016) của tác giả Phạm Văn Hà,
đã cung cấp một cách khái lược về cơ sở lý luận nghiên cứu về quan hệ đối tác ở
Việt Nam. Tác giả đã đi sâu trình bày những nhận thức về quan hệ đối tác xã hội
hiện nay; xác định chủ thể của quan hệ đối tác xã hội; hệ thống quan hệ đối tác xã
hội; thương lượng tập thể và TƯLĐTT; kinh nghiệm quốc tế về phát triển quan hệ
đối tác xã hội, đặc biệt đã bước đầu đánh giá thực trạng, nhận định xu thế phát triển
quan hệ đối tác xã hội ở Việt Nam.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu và tài liệu trên phần lớn đi sâu đánh giá
thực trạng việc thực hiện chế độ, chính sách đối với NLĐ và khẳng định mâu thuẫn
trong QHLĐ là phát sinh từ việc thực hiện quyền và lợi ích chưa tốt. Các nghiên

4


cứu cũng đã đề xuất giải pháp, cả giải pháp thuộc về công đoàn, nhưng ít gắn với
việc công đoàn bảo vệ quyền và lợi ích đoàn viên, mà chủ yếu là NLĐ. Hơn nữa các
tài liệu chưa phân tích giới hạn nội hàm về quyền và lợi ích, mối quan hệ biến đổi
giữa quyền và lợi ích trong QHLĐ. Vai trò công đoàn trong việc bảo vệ các quyền
của đoàn viên và NLĐ chưa cụ thể, nhất là làm thế nào đẩy mạnh thương lượng tập
thể để đưa một số lợi ích của đoàn viên và NLĐ chuyển sang quyền thông qua các
văn bản dưới luật tại nội bộ doanh nghiệp.
3. Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nhằm làm rõ những vấn đề lý luận và
thực tiễn về quyền, trách nhiệm của TCCĐ bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ trong
doanh nghiệp từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh. Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả quyền, trách nhiệm của TCCĐ và hoàn thiện pháp luật liên
quan đến quyền, trách nhiệm của TCCĐ bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay.
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn cần làm rõ những nhiệm vụ cụ thể:
Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về quyền và trách nhiệm của
TCCĐ bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ trong doanh nghiệp như: Khái niệm
TCCĐ, tính chất, chức năng, vai trò của TCCĐ; nguyên tắc tổ chức và hệ thống tổ
chức của công đoàn Việt Nam.
Nghiên cứu và làm rõ về vấn đề lý luận cơ bản nội dung về quyền và trách
nhiệm cơ bản của TCCĐ trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ và các yếu tố
tác động đến việc thực thi pháp luật.
Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật quyền và trách
nhiệm của TCCĐ bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ trong doanh nghiệp, đánh giá
những kết quả đạt được và những tồn tại hạn chế của pháp luật về quyền và trách
nhiệm của TCCĐ bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ.

5


Đánh giá thực trạng việc áp dụng pháp luật về quyền và trách nhiệm của
TCCĐ bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ trong các doanh nghiệp tại tỉnh Quảng Ninh.
Đề xuất một số các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực
thi pháp luật về lao động và công đoàn, phát huy quyền, trách nhiệm của TCCĐ
trong điều kiện hội nhập quốc tế, hoàn thiện các thể chế của nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu các quan điểm, quy định của pháp luật Việt Nam và
thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền và trách nhiệm của TCCĐ trong việc bảo vệ
quyền, lợi ích của NLĐ trong doanh nghiệp (trừ các doanh nghiệp Trung ương đóng
trên địa bàn, doanh nghiệp ngành than) từ thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
4.2.1. Không gian:
Luận văn nghiên cứu các văn bản pháp luật Việt Nam: Hiến pháp 2013; Bộ
Luật Lao động năm 2012; Luật Công đoàn 2012 và các văn bản có liên quan khác.
4.2.2. Thời gian:
Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật và tình hình thực tiễn, áp
dụng pháp luật về quyền trách nhiệm của TCCĐ bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ
trong doanh nghiệp từ năm 2015 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu và tiếp cận của đề tài
Để thực hiện nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng phương pháp luận biện
chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác Lê - nin. Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác
– Lê nin về GCCN; Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng (khóa X); các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp
luật của Nhà nước, quy định của Tổng LĐLĐ Việt Nam về hoạt động công đoàn.

6


Các tài liệu nghiên cứu, kinh nghiệm hoạt động công đoàn của các TCCĐ khác.
- Khảo sát nắm bắt thực tế, thông qua các cuộc làm việc với CĐCS; đối thoại
với NLĐ, đoàn viên công đoàn để thu thập những thông tin cần thiết liên quan đến
hoạt động công đoàn trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của NLĐ trong các doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Áp dụng công nghệ thông tin trong việc nắm
bắt thông tin về hoạt động công đoàn trong tỉnh và ngoài tỉnh.
- Đề tài sử dụng các báo cáo hoạt động công đoàn hàng năm từ các LĐLĐ cấp
huyện, Công đoàn ngành; báo cáo kết quả hàng năm của các Sở, ban ngành của
tỉnh: Sở Lao động - Thương binh & Xã hội, Bảo hiểm xã hội tỉnh...
- Đề tài sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp;
phân tích; phương pháp chuyên gia để nghiên cứu đánh giá, phân tích các dữ liệu.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu của tác
giả và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Khái quát về quyền, trách nhiệm công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích
của người lao động trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về quyền, trách nhiệm của tổ chức
công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong các doanh nghiệp ở
Quảng Ninh.
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả
của công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động trong doanh nghiệp ở
Quảng Ninh

7


CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN, TRÁCH NHIỆM CÔNG ĐOÀN BẢO
VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG
DOANH NGHIỆP
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Công đoàn Việt nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp thu, vận dụng sáng
tạo các luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin về công đoàn vào thực tiễn Việt Nam
để xác định đối tượng, xây dựng tổ chức, chỉ rõ chức năng, nhiệm vụ, phương pháp
hoạt động công đoàn và đào tạo CBCĐ.
Trong cuốn: "Bản án chế độ thực dân Pháp" xuất bản năm 1925, Người đã chỉ
rõ: "Việc cần thiết hiện nay là phát động một cuộc tuyên truyền lớn để thành lập các
tổ chức Công đoàn ở các nước thuộc địa, nửa thuộc địa và phát triển các Công đoàn
hiện có dưới hình thức phôi thai".
"Tổ chức công hội trước là để công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình, hai
là để nghiên cứu với nhau, ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá
hơn bây giờ, bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân, năm là để giúp cho quốc
dân, giúp cho thế giới".
Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của Công đoàn Việt Nam là: "Công
đoàn phải thực sự trở thành trường học quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế và văn
hóa của GCCN".
Do đó, Công đoàn phải vận động quần chúng tham gia ngày càng rộng rãi vào
toàn bộ sự nghiệp xây dựng nền kinh tế quốc dân, vào các kế hoạch kinh tế, sản
xuất, phân phối.
Về nhiệm vụ của Công đoàn, Người nêu tóm tắt: "Nhiệm vụ của công nhân và
Công đoàn hiện nay là phải xây dựng CHXH. Muốn thế Công đoàn phải tổ chức,

8


giáo dục, lãnh đạo công nhân đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, hoàn thành và
hoàn thành vượt mức kế hoạch của Đảng và Nhà nước đề ra".
Từ nhiệm vụ chung đó, Người chỉ rõ nhiệm vụ cụ thể cho Công đoàn. Đó là:
- Về công tác giáo dục chính trị - tư tưởng: Công đoàn phải tuyên truyền
đường lối chính sách của Đảng, vì là Đảng của GCCN: "Công nhân không có sự
lãnh đạo của Đảng thì không làm cách mạng thành công được, không thắng lợi
được”. Do đó, mọi đường lối, chính sách của Đảng phải được công nhân quán triệt
và thực hiện, thông qua tổ chức Công đoàn. Công đoàn phải giáo dục cho công nhân
về đạo đức vô sản, đạo đức cách mạng.
- Về lề lối làm việc của Công đoàn, Người căn dặn các cấp Công đoàn cần đổi
mới cách thức làm sao cho mọi hoạt động của Công đoàn đi vào chiều sâu và có
hiệu quả thiết thực. Người chỉ rõ: "Công đoàn các cấp cần cải tiến lề lối làm việc,
cần đi sát quần chúng, tăng cường đôn đốc, kiểm tra. Cần bớt giấy tờ từng đống và
hội họp lu bù. Cán bộ cấp trên cần thường xuyên đi đến cơ sở để giúp đỡ họ một
cách thiết thực hơn".
Công đoàn phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của NLĐ,
thường xuyên quan tâm đến lợi ích vật chất và tinh thần của NLĐ. Hồ Chí Minh căn
dặn Công đoàn phải bảo vệ cho công nhân lao động có quyền thực sự trong xí
nghiệp, có quyền phê bình tất cả mọi việc và mọi người trong xí nghiệp, trong sản
xuất và đời sống.
Người khuyên CBCĐ phải cùng công nhân đồng cam cộng khổ, hòa mình với
công nhân thành một khối và phải gương mẫu. CBCĐ trước hết phải phấn đấu
thành người xã hội chủ nghĩa. Bác nói: "Muốn xây dựng CNXH, phải có con người
xã hội chủ nghĩa. Công nhân phải thành người xã hội chủ nghĩa".
CBCĐ cần tích cực để không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt, Người nói:
"Kinh tế của ta ngày càng phát triển, hàng ngũ công nhân ngày càng thêm đông.
Muốn làm tròn nhiệm vụ của mình thì CBCĐ phải cố gắng học tập vươn lên để

9


không ngừng tiến bộ. Có học tập mới hiểu biết được khoa học, có hiểu biết được
khoa học mới tổ chức được phong trào".
Hồ Chí Minh căn dặn CBCĐ phải đoàn kết. Người nói: "Muốn giáo dục tốt
công nhân, trước hết đội ngũ CBCĐ phải đoàn kết nhất trí… ".
CBCĐ phải đặc biệt chú ý bồi dưỡng cho công nhân trẻ về mọi mặt để trở
thành những người có giác ngộ giai cấp, có trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cao.
Người nói: "Công nhân trẻ tốt lắm. Họ nghe và làm theo Đảng, Công đoàn và Đoàn
thanh niên. Nhưng chúng ta phải tôn trọng họ, tin vào họ, bồi dưỡng cho họ về
phẩm chất, đạo đức cách mạng, về chủ nghĩa anh hùng và cách mạng của GCCN.
- Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công đoàn:
Đường lối phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội
chủ nghĩa đã khơi dậy tiền năng của đất nước, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Tuy nhiên mặt trái của nền kinh tế thị trường đã tạo ra nhiều mâu thuẫn so với bản
chất của xã hội xã hội chủ nghĩa. Đó là xu thế phân hóa giầu nghèo, tâm lý sùng bái
đồng tiền, sự cạnh tranh sống còn giữa các doanh nghiệp; cơ chế thị trường cũng là
mảnh đất nảy sinh chủ nghĩa cá nhân, tạo cơ hội cho một bộ phận bất chấp lợi ích tập
thể, lợi ích cộng đồng, tìm mọi cách mưu lợi cho bản thân, điều nay dẫn đến quyền và
lợi ích của người lao động luôn bị đe dọa, xâm hại. Vì thế, Đảng và Nhà nước đã có
nhiều quy định thành lập nhiều cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người lao động, trong đó công đoàn là một tổ chức có mối quan
hệ gần gũi và có những hoạt động thiết thực, có hiệu quả để bảo vệ người lao động.
1.1.2. Quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn
1.1.2.1. Quyền của TCCĐ:
Quyền: là “Điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng,
được làm, được đòi hỏi, hoặc những điều do địa vị hay chức vụ mà được làm”1.
Quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp của các quốc gia trên thế giới

1

Hoàng Phê, Từ Điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2008, tr 815

10


quy định, bao gồm rất nhiều quyền: Quyền được sống, quyền làm việc, quyền sở
hữu, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc ... Khoản 1. Điều 14, Hiến pháp Việt
Nam năm 2013 ghi rõ: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền
con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công
nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”.Như vậy quyền của
con người được pháp luật tôn trọng, bảo đảm và ghi nhận bằng các quy định của
pháp luật. Xã hội càng phát triển thì quyền cơ bản của con người cũng được ghi
nhận, cập nhật đưa vào các văn bản pháp luật. Thực hiện quyền công dân, quyền
con người là bắt buộc đối với mọi hệ thống pháp luật các tổ chức, cá nhân phải chấp
hành để bảo đảm các quyền này.
1.1.2.2. Trách nhiệm:
Theo Từ điển tiếng Việt là “Điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy
về mình”; hay “được hiểu là sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo
đảm làm đúng đắn, nếu sai trái thì phải chịu phần hậu quả”; hoặc “là phần việc được
giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt
thì phải gánh chịu phần hậu quả”. Và “trách nhiệm là phải bảo đảm làm tròn những
sự việc được giao cho. Nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu hậu quả”.
Quyền và trách nhiệm của của TCCĐ là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của
công đoàn được pháp luật ghi nhận có thể được thực hiện hoặc phải được thực hiện
một cách độc lập với tư cách là một chủ thể trong giới hạn nhất định.
Theo tính chất: Quyền và trách nhiệm của TCCĐ chia thàng 3 loại: Thẩm
quyền tham gia; thầm quyền chung và thẩm quyền độc lập. Tuy theo từng thẩm
quyền mà mực độ biểu hiện quyền lực của công đoàn cũng không giống nhau, và vì
vậy hiệu quả của việc thực hiện các quyền cũng không đồng đều.
Quyền và trách nhiệm của TCCĐ bao gồm:
Thứ nhất: Không phải do Công đoàn sáng tạo ra mà có nguồn gốc từ ý chí
của Nhà nước.

11


Thứ hai: Mặc dù chịu sự điều chỉnh của pháp luật song giới hạn của thẩm quyền
không chỉ ở pháp luật của TCCĐ, hơn nữa nó còn bị chi phối bởi pháp luật quốc tế.
Thứ ba: Về mặt hình thức, quyền và trách nhiệm của TCCĐ trong mối quan
hệ với người sử dụng lao động là các quyền của công đoàn trong phạm vi pháp luật
ghi nhận. Hay nói cách khác, đó chỉ là quyền hạn của TCCĐ mà không gồm các
nghĩa vụ hợp thành. Chính vì vậy, theo cách hiểu khác thường chỉ quan tâm đến các
quyền mà không đề cập đến hệ thống các nghĩa vụ, bởi nó đã được bao gồm về mặt
pháp lý trong việc thực hiện các quyền do pháp luật quy định.
Các quyền cơ bản của TCCĐ về phương diện lao động được đề cập chủ yếu
là các quyền của chủ thể trong quan hệ pháp lý giữa một bên là người sử dụng lao
động. Quan hệ này là quan hệ trực tiếp, song phương và biểu hiện là một loại tương
quan pháp lý, chứ tuyệt nhiện không phải là quyền của một chủ thể thứ ba trong
QHLĐ. Một mặt công đoàn nhân danh mình, mặt khác có quyền thay mặt cho tập
thể lao động thực hiện hành vi cần thiết để đảm bảo cho môi trường lao động luôn
luôn được hài hòa, ổn định. Nhà nước đã tạo ra khả năng này cho TCCĐ bằng cách
xác lập lên hệ thống các quyền năng để việc hoạt động của công đoàn có cơ sở vững
chắc và thuận lợi.
1.1.3. Quyền, lợi ích của người lao động:
1.1.3.1. Quyền của NLĐ:
Quyền và nghĩa vụ của NLĐ được quy định tại Khoản 1, Điều 5, BLLĐ năm
2012; “Quyền của đoàn viên công đoàn” được quy định tại Điều 18, Luật Công
đoàn năm 2012.
Các quyền cơ bản của NLĐ: Quyền của NLĐ trong thành lập và tổ chức mà
không bị phân biệt; (2) Quyền của NLĐ thành lập tổ chức mà không cần xin phép
trước; (3) Quyền của NLĐ thành lập và tham gia các tổ chức theo lựa chọn riêng của
mình; (4) Quyền xây dựng nội quy, quy tắc riêng của tổ chức; (5) Quyền của tổ chức
trong bầu đại diện của mình; (6) Quyền quản lý của tổ chức; (7) Quyền tổ chức hoạt
động và xây dựng chương trình của tổ chức; (8) Quyền đình công; (9) Quyền tổ chức,

12


thành lập các liên đoàn, liên minh và liên kết quốc tế của NLĐ; (10) Chống phân biệt
đối xử, chống lại hành vi can thiệp; và (11) Quyền thương lượng tập thể.
Quyền công đoàn được hiểu: Quyền công đoàn của NLĐ là những nhu cầu
được liên kết lại với nhau để hình thành tổ chức để bảo vệ những lợi ích trong quá
trình làm việc và những quyền của tổ chức, của NLĐ được ghi nhận trong luật pháp
của từng quốc gia, phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế.2
1.1.3.2. Lợi ích:
Theo nhiều tài liệu thì phạm trù lợi ích, ích lợi, có lợi được sử dụng như từ
đồng nghĩa và có thể thay thế nhau. Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê nêu: “Lợi ích
là điều có ích, có lợi cho đối tượng nào đó, trong mối quan hệ với đối tượng ấy”3;
trong đó “ích” được hiểu là có tác dụng tốt, đáp ứng một nhu cầu nào đó của con
người, do người hay vật tạo ra; “lợi” là cái có ích mà con người thu được nhiều hơn
những gì quy định (hoặc có thể được hưởng).
Lợi ích của đoàn viên và NLĐ không quy định cụ thể trong các văn bản pháp
luật gồm những gì, mức độ bao nhiêu, song những nhu cầu mong muốn của NLĐ
phải “chính đáng”. Tức là phải được đặt trong hoàn cảnh cụ thể, không trái quy định
của pháp luật, phù hợp với đóng góp của NLĐ, khả năng chi trả và điều kiện sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi ích của đoàn viên và NLĐ được thể hiện ở
hai khía cạnh là lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần. Đó là làm việc trong môi trường
an toàn, thân thiện; tiền lương phúc lợi tốt hơn; được hỗ trợ tham quan du lịch, tham
gia sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể thao; học tập nâng cao trình độ... Các lợi ích
chỉ được thực hiện (bảo vệ) tốt khi NSDLĐ thực sự quan tâm đến NLĐ và Công
đoàn hoạt động hiệu quả.

2

Luận văn Tiến sỹ của Vũ Anh Đức

3

Hoàng Phê, Từ Điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2008, tr 587

13


1.1.4. Công đoàn bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động:
Bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ được coi là chức năng số một của TCCĐ.
Có thể coi đây là chức năng "bẩm sinh" vốn có Điều 10 Hiến pháp, Điều 1 Luật
Công đoàn và lời nói đầu của Điều lệ Công đoàn Việt Nam ghi nhận
Công đoàn đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ.
Bộ luật Lao động 2012 quy định CĐCS thực hiện vai trò đại diện, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên công đoàn, NLĐ; tham gia,
thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể, thang
lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy
lao động, QCDC ở doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức; tham gia, hỗ trợ giải quyết
TCLĐ; đối thoại, hợp tác với người sử dụng lao động xây dựng QHLĐ hài hoà, ổn
định, tiến bộ tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức.Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở
có trách nhiệm hỗ trợ CĐCS thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo quy định;
tuyên truyền giáo dục, nâng cao hiểu biết về pháp luật về lao động, pháp luật về
công đoàn cho NLĐ
1.2. Ví trí, vai trò và quyền, trách nhiệm chung của Công đoàn Việt Nam
1.2.1. Ví trí, vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam:
1.2.1.1. Vị trí của công đoàn Việt Nam:
Trong môi trường lao động, sự hiện diện của công đoàn có một tầm quan trọng
đặc biệt. Là một tổ chức xã hội sinh ra trong quá trình phát triển công nghiệp của xã
hội. Công đoàn là sản phẩm tự nhiên của công nhân lao động, Tổ chức công đoàn ban
đầu đơn giản chỉ là một tổ chức được lập ra nhằm đấu tranh và hạn chế sự bóc lột của
giới chủ, chứ thực ra chưa phải là một tổ chức có nhiều quyền năng như ngày nay.
Cùng với sự phát triển của quá trình lao động và sinh hoạt xã hội, công đoàn
dần chiếm được vị trí quan trọng trong hệ thống các tổ chức xã hội, cũng như trong
đời sống của người lao động.

14


Từ chỗ chỉ được thừa nhận ở một phạm vi hẹp, ngày nay công đoàn được thừa
nhận trên phạm vi toàn xã hội.
Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Điều 10Chương
Iquy định: “Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của GCCN và của
NLĐ, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho NLĐ, chăm lo và bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của NLĐ; tham gia quản lý nhà nước, quản lý
kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà
nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ
của NLĐ; tuyên truyền, vận động NLĐ học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề
nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Công đoàn Việt Nam vừa là tổ chức quần chúng, vừa là một tổ chức chính trị.
Công đoàn là một trong số những tổ chức xã hội tồn tại trong sự thống nhất được
mâu thuẫn giữa lợi ích tập thể của người lao động và lợi ích của toàn xã hội. Chính
điều đóa nói lên khía cạnh dân chủ của hoạt động công đoàn.
Như vậy, sự thừa nhận của xã hội, của nhà nước trên những phương diện khác
nhau đã khẳng định vị trí của tổ chức công đoàn nó vừa là một tổ chức xã hội, vừa
là một thực thể pháp lý. Nó cho ta thấy tầm quan trọng của công đoàn đối với phong
trào của giai cấp công nhân và những người lao động; đối với tổ chức khác và đối
với Nhà nước. Đồng thời, vị trí đó tạo ra những điều kiện pháp lý-xã hội cho toàn
bộ hoạt động của công đoàn mà không phải bất cứ tổ chức xã hội nào cũng có được
những điều kiện như vậy.
1.2.1.2. Vai trò của Công đoàn Việt Nam
Nói vai trò của tổ chức là nói đến sự tác động của tổ chức đó đến tiến trình
phát triển của lịch sử và cách mạng, được phản ánh trên lĩnh vực kinh tế, chính trị,
xã hội và tư tưởng mà tổ chức đó tồn tại và phát triển.
Khi chưa giành được chính quyền: Công đoàn có vai trò là trường học đấu
tranh giai cấp, Công đoàn vận động, tổ chức công nhân, lao động đấu tranh chống
lại giai cấp tư sản, bảo vệ quyền, lợi của công nhân, lao động. Cuộc đấu tranh của
15


Công đoàn ngày càng phát triển, từ đấu tranh kinh tế sang đấu tranh chính trị với
mục đích lật đổ giai cấp thống trị xoá bỏ chế độ người bóc lột người, giành chính
quyền về tay GCCN.
Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò của Công đoàn Việt Nam ngày càng khẳng định tại
Điều 10 Hiến pháp nước Cộng hoà xă hội chủ nghĩa Việt Nam (2013); Luật Công
đoàn năm 2013 đă khẳng định: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của
GCCN và NLĐ Việt Nam tự nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, là trường học
chủ nghĩa xã hội của NLĐ”.
Vai trò của Công đoàn Việt Nam ngày nay càng được mở rộng trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Sự mở rộng vai trò Công đoàn là phù hợp
với tính tất yếu, khách quan, tính qui luật vận động và phát triển của tổ chức Công
đoàn, nó phù hợp với qui luật chung của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Thực tế, trong chặng đường lịch sử của đất nước những năm qua, Công đoàn
Việt Nam đã trưởng thành nhanh chóng, thể hiện được vai trò của mình đối với xã
hội, Công đoàn đã thu hút, vận động giáo dục, tổ chức công nhân, viên chức và lao
động tham gia tích cực vào công cuộc cách mạng. Trong các lĩnh vực của đời sống
xã hội (kinh tế, chính trị, xă hội, văn hoá và tư tưởng), Công đoàn đã sự tham gia
tích cực, tác động mạnh mẽ thông qua hệ thống tổ chức từ trung ương đến địa
phương, ngành, cơ sở, thông qua lực lượng đoàn viên, Công nhân, viên chức và lao
động đã đạt được những thành tựu to lớn góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách
mạng của Đảng.
Vai trò của Công đoàn Việt Nam thể hiện trong các lĩnh vực:
Trong lĩnh vực chính trị: Công đoàn có vai trò to lớn trong việc góp phần xây
dựng và nâng cao hiệu quả của hệ thống chính trị - xã hội xã hội chủ nghĩa. Tăng
cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân, bảođảm và phát huy quyền làm
chủ của nhân dân lao động, từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo

16


đảm thực thi pháp luật và để Nhà nước thực sự là Nhà nước của dân, do dân và vì
dân. Để đảm bảo sự ổn định về chính trị.
Trong lĩnh vực kinh tế: Công đoàn tham gia xây dựng hoàn thiện cơ chế quản
lý kinh tế nhằm xoá bỏ quan liêu, bao cấp, củng cố nguyên tắc tập trung trên cơ sở
mở rộng dân chủ. Góp phần củng cố những thành tựu kinh tế văn hoá và khoa học
kỹ thuật đã đạt được trong những năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng. Tiếp
tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thành phần kinh tế trong đó
kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác
phát triển có lợi cho quốc kế dân sinh. Đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất
nước, từng bước đưa kinh tế tri thức vào Việt Nam, góp phần nhanh chóng hội nhập
với khu vực và thế giới. Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, việc đẩy mạnh hoạt động của các thành phần kinh tế vẫn
đảm bảo cho kinh tế quốc doanh giữ vị trí then chốt, đóng vai trò chủ đạo.
Trong lĩnh vực văn hoá - tư tưởng: Trong nền kinh tế nhiều thành phần Công
đoàn phát huy vai trò của mình trong việc giáo dục công nhân, viên chức và lao
động nâng cao lập trường giai cấp, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động, phát huy những giá
trị cao đẹp, truyền thống văn hoá dân tộc và tiếp thu những thành tựu tiên tiến của
văn minh nhân loại góp phần xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc Việt Nam.
Trong lĩnh vực xã hội: Công đoàn có vai trò trong tham gia xây dựng GCCN
vững mạnh cả về số lượng và chất lượng, không ngừng nâng cao trình độ giác ngộ
chính trị, tính tổ chức kỷ luật, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, có nhn quan
chính trị, thực sự là lực lượng ṇng cốt của khối liên minh công - nông - trí thức, làm
nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân, là cơ sở vững chắc đảm bảo vai trò lãnh
đạo của Đảng và tăng cường sức mạnh của Nhà nước.

17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×