Tải bản đầy đủ

Module TH 21, 22 ứng dụng phần mềm trình diễn microsoft powerpoint trong dạy học

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRƯỜNG .........

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
--------------------BÀI THU HOẠCH

BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊN
Module TH21: Ứng dụng phần mềm trình diễn Microsoft Powerpoint trong dạy học
Năm học: ..............
Họ và tên: ..........................................................................................................................
Đơn vị: ..............................................................................................................................
1. Mục đích giáo dục khi dùng phần mềm trình chiếu trong dạy học.
Trình diễn là một hình thức hướng dẫn trực tiếp có cách tiếp cận theo hướng giáo viên
định hướng và là một trong những phương pháp phổ biến nhất, rất hữu hiệu trong việc
cung cấp thông tin hay phát triển từng bước những kĩ năng cần thiết cho học sinh. Đây
cũng là phương pháp rất phù hợp trong việc giới thiệu các phương pháp giảng dạy khác,
và cũng đóng vai trò tích cực trong việc hỗ trợ học sinh xây dựng kiến thức.
Trong giáo dục, trình diễn có thể được sử dụng để: Hỗ trợ tiếp cận ý tưởng; thu hút sự

chú ý của người học tới nội dung bài học; xây dựng kiến thức theo chuỗi.
2. Khi dạy học dùng trình chiếu nhằm mục đích
- Để giới thiệu các bài học mới: Các bài trình chiếu có thể được sử dụng như là một hoạt
động khởi động, để thu hút sự chú ý của người học, để thông báo cho người học về mục
tiêu của bài học, để nhớ lại bài cũ.
- Giúp người học đạt được kiến thức mới: Các bài trình diễn có thể được dùng để giới
thiệu các khái niệm mới. Trình diễn có thể được sử dụng để hướng dẫn học tập, để làm rõ
nhiệm vụ hoặc cung cấp thông tin phản hồi.
- Ôn tập và đánh giá kết quả học tập: Giáo viên sử dụng bài trình diễn để củng cố kiến
thức của người học, để tổng quan hóa bài học và để tổng kết.
3. Các lưu ý khi dùng trình chiếu trong dạy học.
- Sử dụng phần mềm trình diễn có thể tạo ra sự quá tải thông tin, dẫn đến quá tải về mặt
thời gian và cuối cùng là người học trở nên bị động. Do đó phải tránh sự bị động của
người học.
- Đôi khi các yếu tố trực quan của bài trình diễn trở nên quan trọng hơn nội dung và hoạt


động học tập.
- Không nên quá chú trọng đến sự trình diễn mà chú yếu quan tâm là người học tích cực
học tập như thế nào.
- Trong dạy học có thể phát tài liệu phát tay kèm theo cho người học để hỗ trợ người học
tóm tắt và theo dõi tổng quan bài học.
- Có thể dừng lại cho phép người học xem lại và suy ngẫm, có thời gian để tiếp thu thông
tin, đánh giá liệu bản thân đã hiếu các kiến thức hay chưa.
- Giáo viên cần xây dựng nhiều hoạt động đa dạng song song với trình diễn để tăng hiệu
quả trình diễn và tránh cho người học bị động.
4. Những lợi ích khi dùng trình chiếu trong dạy học.
- Tăng cường tương tác với nội dung: Ứng dụng nhiều phương tiện truyền thông khác
nhau trong bài trình chiếu tạo cơ hội cho khán giả tương tác đa dạng với nội dung. Bài
trình diễn có thể dẫn dắt người học đi suốt quá trình học và tăng cường sự chuyển tải
thông tin.
- Hỗ trợ chuyển tải thông tin: Phần mềm trình diễn cho phép chuẩn bị trước bài trình bày
và tiếp cận ý tưởng trong quá trình trình bày. Trình chiếu cũng dễ dàng cập nhật và chỉnh
sửa.
- Khuyến khích suy ngẫm: Một bài trình diễn tốt lội cuốn khán giả suy ngẫm và những ý
tường và nội dung được trình bày.
- Tăng cường kĩ năng trình bày: Khi người học sử dụng phần mềm trình diễn, tính tuần tự
của bài trình chiếu và các chức năng công nghệ khác hỗ trợ kĩ năng trình bày của người
nói.
5. Kết quả bồi dưỡng (Vận dụng trong giảng dạy; các hoạt động GD...)


* Ưu điểm:
- Về kiến thức: Nắm chắc được các tính năng cơ bản của phần mềm trình diễn Microsoft
PowerPoint và biết cách tạo ra các tệp tin trình diễn tốt, nhất là đối với Microsoft
PowerPoint 2007, riêng đối với Microsoft PowerPoint 2010 còn khá mới mẻ nên đôi lúc
còn chưa thật nhớ cách sử dụng các tính năng.
- Về kĩ năng: Sử dụng tốt các tính năng cơ bản của phần mềm Microsoft PowerPoint
2007. Cụ thể như sau:
- Bản thân đã tự soạn được khá nhiều giáo án có nội dung phù hợp và hình thức đẹp mắt,


đảm bảo tính khoa học, khi áp dụng giảng dạy đã phát huy được tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong học tập.
- Bản thân hiện có khả năng giúp đỡ đồng nghiệp một cách linh hoạt, vững vàng về kĩ
năng thiết kế, trình diễn giáo án giảng dạy, trình diễn bài thuyết trình, làm các chương
trình ngoại khóa, chương trình hội nghị, hội diễn,...
- Năm học 2013-2014, bản thân đã xây dựng trang website riêng của cá nhân nhằm tạo ra
môi trường giao lưu, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm của nhiều đồng nghiệp trên cả nước,
đặc biệt trang website là kho lưu trữ nhiều giáo án giảng dạy, bài thuyết trình, các chương
trình ngoại khóa hằng năm ở nhiều môn học (dạng ppt, pdf, video,...).
Tuy nhiên, như đã nêu trên, đối với Microsoft PowerPoint 2010 còn khá mới mẻ với bản
thân nên việc sử dụng chưa thật linh hoạt.
* Hạn chế:
- Hiện tại, đại đa số các máy tính của đơn vị, của đồng nghiệp, của cá nhân tôi vẫn sử
dụng PowerPoint 2003, chưa có điều kiện về thời gian, kinh phí nâng cấp để đảm bảo sử
dụng tốt PowerPoint 2010 cũng như nhiều chương trình, phần mềm tác nghiệp cao cấp,
chuyên nghiệp hỗ trợ dạy học mới.
- Các tính năng mới của PowerPoint 2010 rất hay nhưng chưa có điều kiện nâng cấp máy
tính nên việc sử dụng PowerPoint 2010 còn chậm, chưa thật linh hoạt nên mất nhiều thời
gian khi thiết kế một giáo án, một bài thuyết trình hay làm một chương trình nào đó. Tuy
nhiên, do sử dụng khá thành thạo PowerPoint 2003 cùng nhiều chương trình ứng dụng tác
nghiệp khi trình diễn, giảng dạy hoặc làm chương trình ngoại khóa, nên bản thân tôi vẫn
sử dụng PowerPoint 2003 hiện có.
6. Kiến nghị, đề xuất
- Nhà trường cần tạo điều kiện về kinh phí hỗ trợ nâng cấp các máy tính của đơn vị, nhất
là các máy tính chuyên phục vụ giảng dạy, thiết kế chương trình ngoại khóa,...
- Tạo điều kiện về thời gian để bản thân tôi cũng như các đồng nghiệp khác có thời gian
tự học, tự thực hành thiết kế, soạn giảng, ... để tăng khả năng chuyên môn, kĩ năng thực
hành soạn giảng, thiết kế,...
- Khuyến khích các tổ làm chuyên đề về soạn giảng bằng giáo án điện tử, thi làm các
chương trình ngoại khóa giữa các tổ, khuyến khích giáo viên thường xuyên soạn giảng
bằng giáo án điện tử,...
- Đề nghị với Bộ, Sở, Phòng Giáo dục tổ chức các chuyên đề nâng cao kĩ năng sử dụng


phần mềm dạy học hằng năm cho giáo viên.
............., ngày....tháng...năm...
Người viết

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRƯỜNG .........

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
--------------------BÀI THU HOẠCH

BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊN
Module TH22: Sử dụng phần mềm giáo dục để dạy học ở tiểu học
Năm học: ..............
Họ và tên: ..........................................................................................................................
Đơn vị: ..............................................................................................................................
+ Vai trò của phần mềm giáo dục trong giáo dục tiểu học:
PMDH là một phương tiện dạy học quan trọng, ở cấp độ cao hơn so với các phương tiện
dạy học trực quan khác, tạo điều kiện để thực hiện những đổi mới căn bản về nội dung,
phương pháp dạy học nhằm hình thành ở học sinh các năng lực làm việc, học tập và thích
ứng được với môi trường xã hội hiện đại.
Trong thời đại xã hội phát triển với tốc độ chóng mặt như hiện nay, việc dạy học không
chỉ hạn chế trong các giờ học tại nhà trường mà có thể học tập dưới sự hướng dẫn trực
tiếp của GV hoặc tự học tập tại nhà qua hệ thống Internet.
Việc sử dụng các PMDH không chỉ giúp GV thực hiện tốt hơn chương trình đại trà mà
còn cho phép thực thi cách thức dạy học mới có khả năng đáp ứng yêu cầu tự tìm kiếm
kiến thức, rèn luyện kĩ năng của bất kì người học nào, vào bất cứ lúc nào, theo nội dung
tuỳ chọn ở mức độ phù hợp với khả năng, ý muốn phù hợp với khả năng và điều kiện của
từng cá nhân.
PMDH có thể hiển thị thông tin dưới dạng văn bản, ký hiệu, đồ thị, bản đồ, hình vẽ, ảnh
chụp, phim đèn chiếu, phim hoạt hình, đoạn phim,.... Với các hình thức hoạt động đơn
giản như bấm phím, di chuyển và kích chuột... để lựa chọn và ra các lệnh theo chủ định,
HS sẽ rất hứng thú khi thấy yêu cầu của mình đề ra được thực hiện liền ngay tức thời,
điều này có tác dụng kích thích hứng thú rất mạnh mẽ trong hoạt động tự học. Những


hình ảnh đẹp, rõ ràng, nhiều màu sắc sinh động, kèm theo các đoạn văn bản, giọng nói
nhạc đệm... tác động đồng thời hoặc kế tiếp nhau lên các giác quan giúp cho HS tự thao
tác tay làm, mắt thấy, tai nghe, trí óc suy nghĩ... trong khi học và luyện tập, nhờ đó dễ
dàng hiểu rõ, nắm vững kiến thức và đạt được các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết. PMDH cũng
cho phép giáo viên lựa chọn các tài liệu trực quan cần cho từng phần của bài học và sử
dụng chúng rất thuận tiện trong giảng dạy.
Với những PM "mở" GV có thể tự mình xây dựng, thiết kế những bài giảng, bài tập... để
làm tư liệu giảng dạy. Các tài liệu trong PM có thể sao chép ra đĩa mềm hay in ra giấy
một cách dễ dàng, ít tốn kém, tiết kiệm được nhiều thời gian và công sức chuẩn bị để tạo
điều kiện cần thiết cho các hoạt động tự học của HS.
PMDH có thể giúp HS tự tìm kiếm tri thức mới, tự ôn tập, luyện tập theo nội dung tuỳ
chọn, theo các mức độ nông sâu, tuỳ thuộc vào năng lực của bản thân.
Như vậy, việc sử dụng PMDH làm phương tiện dạy học các môn học, giúp cho việc học
tập của HS như là một công cụ hỗ trợ cho việc dạy và học nhằm góp phần rèn luyện kỹ
năng tư duy sáng tạo, kỹ năng giao tiếp, độc lập giải quyết các vấn đề, kỹ năng tìm kiếm
và xử lý thông tin nhằm góp phần củng cố tư tưởng học suốt đời cho tất cả mọi người.
Phát triển rộng rãi việc ứng dụng CNTT trong nhiều môn học, mọi trường học, mọi cấp
học và mọi ngành học thông qua các loại PM khác nhau ( PMDH, tự học, PM kiểm tra
đánh giá...) dẫn đến việc xây dựng nội dung và phương pháp đào tạo thích hợp, phát triển
việc kiểm tra đánh giá trong một môi trường giàu thông tin.
1. Các yêu cầu sư phạm về các mặt: Hình thức, nội dung, phương pháp của một phần
mềm dạy học ở tiểu học:
Nhu cầu sử dụng các phần mềm dạy học trong trường tiểu học ngày càng lớn, hiện nay
có nhiều phần mềm dạy học nhưng điểm lại, ta thấy giáo viên và các bậc phụ huynh
không quan tâm sử dụng chúng để giúp trẻ em học. Điều đó chứng tỏ các phần mềm trên
phần nào chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sư phạm mặc dầu kỹ thuật để thể hiện khá
cao. Các yêu cầu sư phạm đối với phần mềm dạy học bậc tiểu học:
1.1. Phần mềm dạy học phải phù hợp với chương trình và sách giáo khoa bậc tiểu học.
Một phần mềm dạy học tốt phải gắn với chương trình cụ thể, chương trình được quy định
bởi hội đồng giáo dục quốc gia.
Để được sử dụng thường xuyên và có hiệu quả, cần có đủ phần mềm ứng với tất cả các
lớp học, ứng dụng với chương, mục tri thức có trong chương trình. Hệ phần mềm có cấu
trúc tương ứng với cấu trúc của chương trình tiểu học.


Đảm bảo các yêu cầu tương từng chương mục như trọng tâm, mức độ lý thuyết, mức độ
rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo.
Đảm bảo hình thức trình bày tương ứng với việc trình bày trong SGK và sách hướng dẫn
giáo viên hiẹen có. Các đối tượng hiện trên màn hình không quá khác biệt với các đối
tượng trình bày trên SGK, mà chỉ nên có tác dụng bổ sung, làm đa dạng hoá các kiến
thức trong chương trình.
1.2. Đảm bảo phù hợp đặc điểm lứa tuổi học sinh trong từng độ tuổi.
Với học sinh tiểu học, cần xây dựng các trò chơi, thông qua các trò chơi mà hình thành
kiến thức mới hoặc rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo thích hợp. Việc sáng tạo các trò chơi đòi
hỏi công phu, tuy vậy nó góp phần tạo ra một hệ phần mềm hấp dẫn và có ích với học
sinh tiểu học. Các trò chơi có thể gắn bó với nhau bằng những nhân vật nào đó, nội dung
trò chơi có kèm những điều kiện mà khi thảo mãn điều kiện đó trẻ phải có tri thức hoặc
kỹ năng cần thiết nào đó. Tận dụng các khả năng thể hiện hình ảnh, mầu sắc và âm nhạc
để ngây húng thú cho trẻ.
Do khả năng phân tích vầ tập trung chú ý của trẻ có hạn nên cần trình bày màn hình gọn,
tập trung vào các thông tin trọng tâm. Không nên có nhiều thông báo trong một thời điểm
trên màn hình (chỉ nên 1 đến 2 thông báo chính).
Một thông tin không được kéo dài ra hai trang màn hình.
Các yêu cầu cần hỏi phải rõ ràng.
1.3. Về tổ chức giao diện: Để học sinh và (cả giáo viên) có thể hiểu và sử dụng dễ dàng,
cần taoj giao diện thân thiện với trẻ, với lớp trẻ 1, 2 thì sử dụng chủ yếu là các hình
tượng, với lớp 3, lớp 4, lớp 5 có sử thêm các dòng menu thông báo bằng chữ.
Có sự giúp đỡ cách sử ndụng một cách thường xuyên. Các dòng hướng dẫn này cần gắn
gọn với cỡ chữ to và lên kèm theo hình ảnh mô tả lại quá trình sử dụng như một mẫu.
Việc tạo ra các tiểu xảo kỹ thuật như nhấp nháy, chữ đậm, âm thanh phải sử dụng đúng
chỗ: tập trung chú ý vào thông tin định truyền đạt cho trẻ.
1.4. Phần mềm phải phù hợp đặc điểm lao động dạy của người thầy và lao động học tập
của học sinh.
Một đặc điểm của giáo viên tiểu học là không thích các công việc quá phức tạp, phải đầu
tư nhiều công sức cho mỗi bài học tren lớp. Như vậy phần mềm dạy học không đựoc quá
cồng kềnh, mà phải được tổ chức theo các đơn vị môđun gọn, tương đối độc lập, mỗi
môđun tương ứng với một đơn vị kiến thức trong chương trình và có đầy đủ các hướng


dẫn trợ giúp dễ hiểu trong đó. Môđun này bao gồm từ việc ôn luyện kiến thức mới đến
các bài tập rèn luyện kỹ năng và cách đánh giá đã được sắp xếp sẵn theo một trình tự nhất
định. Việc lựa chọn các đơn vị cụ thể đó phải thật dễ dàng, không tốn thời gian.
Phần mềm cho phép người sử dụng được quay lại hoặc tiến lên phía trước hoặc bỏ qua
một bài tập, thoát khỏi chương trình vào thời điểm bất kỳ.
Chẳng hạn khi lớp học đến phần “Đo khối lượng và hệ đơn vị đo khối lượng” môn toán
thì có sẵn một hệ bài tập mẫu để cho học sinh làm bài tập theo trình tự và cách dữ liệu đã
chọn. Phụ huynh và giáo viên có thể chọn luôn hệ bài tập mẫu này mà không phải gia
công gì thêm.
Tuy vậy phầm mềm không chỉ đóng kín cứng nhắc, nó có thể cho phép giáo viên và phụ
huynh học sinh sáng tạo hệ bài tập mang dấu ấn cá nhân, sáng tạo ra các đối tượng mới
với các số liệu mới để ra bài tập cho học sinh, có điều kiện phát triển, đa dạng hoá phần
mềm bằng những sản phẩm của riêng mình.
1.5. Liện kết với các phần mềm dạy học các môn khác nhau tạo ra bài học:
Đặc điểm của tiểu học là trong một thời gian gắn có thể học được nhiều môn học chứ
không học riêng một môn. Chính vì vậy phần mềm dạy học phải có khả năng kết hợp với
các phần mềm học ;các môn khác nhau như toán, tiêng Việt, ngoại ngữ , khoa học tự
nhiên và xã hội, lịch sử, địa lý, nhạc... Thày hoặc phụ huynh học sinh có thể lựa chọn
theo menu và phần mềm sẽ tự sắp xếp các đơn vị kiến thức đó theo thứ tự đã chọn. Khi
vào máy học sinh sẽ phải làm tất cả các bài tập do phụ huynh hoặc thày giáo quy định.
Kết quả và đánh giá chi tiết sẽ được lưu lại.
1.6. Định hướng phát huy tích cực của học sinh.
Để học sinh phát huy được vai trò chủ thể, là người sáng tạo trong quá trình học tập. Phần
mềm dạy học phải thiết kế được vi thế giới, học sinh tác động lên các đối tượng và thông
qua đó thu nhận được tri thức toán cần thiết.
Phần mềm, với các chỉ dẫn có tính sư phạm của mình sẽ tạo điều kiện phát triển trí tuệ
học sinh liên tục. Muốn vậy, phải tạo ra tình huống có vấn đề, học sinh muốn giải quyết
được nó phải có những quyết định sáng tạo. Học sinh pải cảm giác được rằng mình là
người điều khiển máy tính: lựa chọn các câu hỏi, tìm kiếm thông tin chỉ dẫn, tìm tòi và
khám phá các đối tượng, làm chủ tiến độ làm việc với máy.
Để tạo ra sự phát triển phù hợp với mỗi học sinh, phải có mức độ, yêu cầu khác nhau ứng
với nhiều loại trình độ của trẻ em, nhờ có các phần mềm dạy học, nguyên tắc phân hoá
trong giáo dục mới hoàn toàn triệt để.


Phải có phương án phân tích các kiểu trả lời của trẻ, cho phép trẻ có thể sửa bài giải của
mình, thông báo kịp thời các lỗi cho trẻ và có lời giải mẫu.
1.7. Tính tới các hình thức dạy học phương pháp dạy học và các phương tiện dạy học
khác.
Quá trình sử dụng phần mềm dạy học diễn ra trong bối cảnh dạy và học trên lớp và ở nhà.
Cần xem xét các khả năng sử dụng phần mềm với các hình thức dạy học đồng loạt trên
lớp, hình thức dạy học theo nhóm, hình thức dạy học theo cấp và hình thức học tập cá
nhân.
ở trên lớp cần chú trọng các hình thức hoạt động theo nhóm, làm việc theo cấp và cá
nhân. ở nhà cần quan tâm tới làm bài tập cá nhân.
Khi xây dựng phần mềm dạy học phải xem xét tới việc sử dụng các phương tiện dạy học
khác trong môí quan hệ thống nhất như video, catset,phim nhựa ... Có như vậy, máy tính
mới trở thành một yếu tố máu thịt trong quá trình dạy và học.
1.8. Về ngôn ngữ dùng trong giao tiếp.
Ngôn ngữ sử dụng phải là tiếng mẹ đẻ, có như vậy các phần mềm mới có cơ hội để các
nhà trường và phụ huynh học sinh chấp nhận sử dụng rộng rãi.
1.9. Yêu cầu về đánh giá
Phần mềm phải đảm bảo đánh giá theo quá trình, phải đánh giá được tức thời các sai lầm
để có các phương thức điều chỉnh hành động của học sinh.
Các đánh giá cần chi tiết hơn là đánh giá trong một bài kiểm tra viết thông thường: không
chỉ cho điểm hoặc xác định đúng sai mà cần phân tích những chỗ còn yếu trong kiến thức
và kĩ năng của học sinh.
Cần lưu giữ được các kết quả đánh giá này trong suốt quá trình các năm học ở nhà trường
tiểu học. Trong trường hợp hàng năm thay đổi thày dạy, người thày năm học sau có thể
dựa vào đánh giá qua phần mềm ở các năm học trước mà có một phương án giúp đỡ học
sinh một cách phù hợp và có hiệu quả nhất.
2. Thực hành một số phần mềm dạy học ở tiểu học:
a. Thiết kế phần mềm dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học
Phần mềm dạy học thuộc lớp các phần mềm ứng dụng, là phần mềm được sử dụng hỗ trợ
cho quá trình dạy học. [1]
2.1. Phần mềm dạy học dùng cho môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học được chúng tôi thiết


kế dựa trên 6 nguyên tắc chính sau đây:
-(1) Quán triệt mục đích dạy học theo chương trình hiện hành
Ví dụ chúng tôi xây dựng phần mềm dạy học chủ đề Con người và Sức khỏe đáp ứng
mục tiêu về kiến thức, kĩ năng và thái độ của chủ đề này theo chương trình của Bộ giáo
dục và Đào tạo ban hành cho môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học. Từ việc quán triệt mục
đích dạy học, chúng tôi xác định được nội dung dạy học, phương pháp dạy học phù hợp
cho từng bài học thể hiện cụ thể ở kịch bản giáo án có trong phần mềm dạy học. Ngoài ra,
chúng tôi chú ý việc phát triển kĩ năng quan sát, nhận xét, đặt câu hỏi, diễn đạt những
hiểu biết của mình cho học sinh. Phần mềm phải hỗ trợ trong việc tạo ra các tình huống,
thiết kế được môi trường sao cho học sinh có thể tác động lên đối tượng và cùng với
những chỉ dẫn sư phạm để giúp học sinh lĩnh hội các kiến thức về chủ đề này.
- (2) Đảm bảo chính xác nội dung dạy học
Nội dung phần mềm dạy học được thiết kế tương ứng với cấu trúc của chương trình và
sách giáo khoa của môn Tự nhiên và Xã hội. Hình thức trình bày tương thích với nội
dung của sách giáo khoa, ngoài ra có tác dụng bổ sung, làm đa dạng hoá các kiến thức
của chủ đề. Kiến thức có thể được soạn thảo dưới dạng các mô-đun, có các mức kiến thức
phù hợp với những trình độ khác nhau và giáo viên có thể linh động tổ chức các hoạt
động nhận thức, cắt hoặc thay thế các tình huống một cách hợp lí. Kể cả thiết kế ý tưởng
cho việc xử lí tình huống khi mất điện mà vẫn đảm bảo được mục tiêu của bài học.
- (3) Phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi
Lứa tuổi tiểu học là lứa tuổi “học mà chơi, chơi mà học”. Phần mềm dạy học phải tạo
được hứng thú học tập của học sinh thông qua những hình ảnh đẹp, những bài hát,
chuyện kể, trò chơi nhằm đạt được mục tiêu dạy học. Những hình ảnh, đoạn phim hay bố
cục của một trang trình chiếu phải làm thầy và trò thích thú khi học tập. Phần mềm dạy
học cho phép thiết kế nhiều hình ảnh mô phỏng, trình chiếu nhưng phải đảm bảo nguyên
tắc trực quan. Màu sắc của nền hình tuân thủ nguyên tắc tương phản. Hình ảnh, đoạn
phim phải rõ, đẹp, có độ phân giải tốt. Âm thanh không bị lẫn tạp âm. Cỡ chữ khi chiếu
trên màn hình tivi (25 inches) cho vài người xem hay dùng máy chiếu Projector chiếu lên
màn cho khoảng 30-50 người xem thì cỡ chữ thích hợp phải từ cỡ 28 trở lên.
- (4) Phát huy tốt các giác quan của người học
Phần mềm dạy học có khả năng tích hợp đa phương tiện (văn bản, âm thanh, hình ảnh,
hoạt hình,...) nên cần phải tận dụng những ưu điểm này để phát huy tối đa các giác quan
của học sinh trong quá trình học tập như sử dụng mắt để quan sát các hình ảnh, đoạn


phim. Sử dụng tai để lắng nghe một đoạn nhạc. Sử dụng tay để điều khiển bàn phím hay
con chuột của máy tính; Hoặc sử dụng phối hợp nhiều giác quan.
-(5) Hiệu quả trong việc tạo vật đại diện, vật thay thế cho đối tượng nhận thức
Trong môn Tự nhiên và Xã hội, vật thật (cơ thể người, động vật, thực vật,..) là đối tượng
của hoạt động nhận thức của học sinh. Học sinh có thể quan sát cá nhân hoặc theo nhóm
và thảo luận để trả lời câu hỏi mà giáo viên nêu ra. Khi xây dựng phần mềm, chúng tôi
chú ý đến hình ảnh sử dụng là vật đại diện, vật thay thế cho cho đối tượng hoạt động nhận
thức mà học sinh không thể tiếp xúc trực tiếp với chúng được. Nghĩa là để tìm hiểu một
sự vật, một hiện tượng hay một quá trình, học sinh lại nhận thức một vật khác, vật thay
thế nó, và qua vật thay thế này học sinh nắm được chính đối tượng cần phải lĩnh hội. Ví
dụ trong bài Hoạt động tiêu hóa thuộc chủ đề Con người và sức khỏe ở lớp 2, học sinh
không thể quan sát hoạt động tiêu hóa thức ăn diễn ra trong cơ quan tiêu hóa của con
người. Thông qua hình ảnh động được mô phỏng bằng phần mềm Macromedia Plash MX
về quá trình tiêu hóa thức ăn trong cơ thể người, học sinh có thể hiểu được kiến thức mà
bài học yêu cầu, ví dụ ở miệng, thức ăn được răng nghiền nhỏ, lưỡi nhào trộn và nước bọt
tẩm ướt. Ở dạ dày, thức ăn được tiếp tục nhào trộn, một phần thức ăn biến đổi thành chất
bổ dưỡng...
-(6) Thuận tiện khi tương tác giữa người và máy
Phần mềm dạy học được thiết kế phải phát huy tối đa khả năng tương tác giữa học sinh
với các thành tố liên quan như kết quả kiểm tra đánh giá, nội dung học tập, giáo viên và
bạn học. Những liên kết giữa các mục phải nhanh chóng, dễ tìm kiếm, sử dụng, chỉnh
sửa, bổ sung và sao chép đơn giản, dễ dàng cho người sử dụng. Ngoài ra, phần mềm phải
lựa chọn nội dung và cách trình bày sao cho giáo viên có thể tổ chức dạy học dưới nhiều
hình thức và phương pháp khác nhau. Sự tương tác thể hiện trong các bài tập trắc nghiệm
có đáp án
2.2. Hướng dẫn thiết kế trên Violet
Bước 1. Nghiên cứu mục tiêu dạy học của từng bài học, nội dung của cách bức tranh sách
giáo khoa, lựa chọn những bức tranh cần khai thác kiến thức và bổ sung câu hỏi gợi mở,
câu hỏi trắc nghiệm củng cố cho mỗi hoạt động.
Bước 2. Scan hình ảnh sách giáo khoa, tìm kiếm hình ảnh trên internet, chuyển hình ảnh
vào máy vi tính
Bước 3. Thiết kế nội dung trình bày trên Violet
- Các chủ đề là tên cơ quan, còn các mục là những nội dung liên quan đến các bài học


trong chương trình.
- Trong sách giáo khoa là các hình tĩnh, chúng ta cũng sử dụng những hình đó để dạy học
kiến thức cho học sinh.
- Bổ sung các hình ảnh động. có thể tạo Video cho các hình ảnh bằng 2 cách:
Cách 1: làm trên phần mềm Flash, có hình ảnh, chữ và âm thanh
Cách 2: làm trên phần mềm Powerpoint có hiệu ứng thời gian xuất hiện các hình ảnh, chữ
và âm nhạc. Sau đó sử dụng phần mềm chuyển power sang flash.
Với những giáo viên chưa “rành” về Flash thì nên làm theo cách 2, đơn giản và nhanh
chóng hơn
- Nhập Video vào mục phù hợp
b. Cách sử dụng phần mềm trong dạy học
TT

Giai đoạn

1

Định hướng hoạt
động

2

Tự học

3

Học với bạn

4

Học với giáo viên

5

Vận dụng

Hoạt động dạy

Hoạt động học

Hướng dẫn bằng
lời hoặc bằng
kênh hình hay
kênh chữ.
Tổ chức dạy học
cá nhân bằng
phiếu học tập,
câu hỏi,…
Điều khiển, trọng
tài, cố vấn

Tiếp thu

Phân tích,
Tổng hợp,
Kết luận.
Giải đáp thắc
mắc
Kiểm tra,
Đánh giá
Liên hệ thực tế

Sản phẩm, tri
thức

Tiến hành độc lập

Lời giải của cá
nhân

- Thảo luận nhóm
- Đóng vai
- Chơi trò chơi
- Thực hành

Lời giải của tập thể
(nhóm, tổ, lớp)

- Tự kiểm tra,
- Trình bày quan
điểm
- Tự điều chỉnh

Kiến thức bài học

Hoạt động sáng
tạo

Kỹ năng sống

c. Kết luận
Việc sử dụng phần mềm Violet để thiết kế phần mềm dạy học chủ đề Con người và Sức
khỏe trong môn Tự nhiên và Xã hội tạo môi trường tương tác hiệu quả giữa học sinh và
các thành tố liên quan. Hệ thống tri thức về Tự nhiên và Xã hội cần cung cấp cho người


học là vô tận. Do hạn chế về thời lượng, người dạy không thể truyền đạt hết kiến thức cho
học sinh trong khi lên lớp; vì vậy, hãy cho các em có nhiều cơ hội tiếp cận với máy vi
tính, các phần mềm dạy học để học sinh được làm quen với công nghệ dạy học, với mạng
thông tin rộng lớn bên ngoài lớp học, qua đó, trẻ em có thêm một “kênh” quan trọng để
khám phá và lĩnh hội kho tàng tri thức hữu ích của nhân loại và thế giới khách quan. Điều
này theo chúng tôi là một nhân tố tích cực để cải thiện, nâng cao chất lượng dạy học tiểu
học hiện nay.
........, ngày....tháng....năm...
Người viết



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×