Tải bản đầy đủ

BÀI THU HOẠCH BDTX module THCS 8, 9 hướng dẫn, tư vấn đồng nghiệp trong phát triển nghề nghiệp

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRƯỜNG .........

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
--------------------BÀI THU HOẠCH

BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊN
Module THCS8: Phương pháp và kỹ thuật hướng dẫn, tư vấn cho học sinh THCS
Năm học: ..............
Họ và tên: ..............................................................................................................................
Đơn vị: ..................................................................................................................................
A. Các hình thức hướng dẫn, tư vấn
* Hướng dẫn, tư vấn trực tiếp: Mặt đối mặt( face to face)
* Hướng dẫn, tư vấn gián tiếp: Tư vấn qua mạng ( E-mentoring)
Là một phương tiện , qua đó duy trì mối quan hệ hướng dẫn (a guided mentoring
relationship) sử dụng các công cụ trực tuyến hoặc thư điện tử . Đó là mối quan hệ giữa
người hướng dẫn và được hướng dẫn , giao tiếp thông qua phương tiện điện tử. Tư vấn
qua mạng nhằm mục đích nâng cao kỹ năng , kiến thức, sự tự tin và hiểu biết văn hóa của

người được hướng dẫn giúp họ đạt được thành công . Tư vấn qua mạng đặc biệt hữu ích
trong những trường hợp khó sắp xếp liên lạc trực tiếp.
Hiện nay có nhiều công nghệ có thể được sử dụng trong quá trình tư vấn từ xa như điện
thoại ( telephone), thư điện tử (Email), nhật ký điện tủ (Blog), nhóm (Groups), các trang
web (website), Diễn đàn (Forum) …
* Hướng dẫn, tư vấn cộng đồng:
- Đối với giáo viên: Sinh hoạt chuyên môn, nghiệp vụ, chuyên đề…
- Đối với học sinh:
Nói chuyện về truyền thống trường
Học nội quy nhà trường, phương pháp học tập bộ môn,thời sự …
Giao lưu khóa cũ, khóa mới…
* Hướng dẫn, tư vấn cá nhân: Giữa 2 người với nhau
B. Quy trình tư vấn:


Với người được tư vấn
Để có thể đưa ra được câu hỏi rõ ràng, đúng bản chất,cần thực hiện theo các bước sau
đây:
- Bước 1: Phân tích tình huống sự kiện
Bước này đóng vai trò quan trọng nhằm hiểu rõ bản chất của tình huống, sự kiện mà
người được tư vấn đang đối mặt. Sự kiện, tình huống cần được xem xét,phân tích kỹ
lưỡng dưới nhiều góc độ khác nhau trong mối liên hệ đa chiều.
- Bước 2: Xác định vấn đề cần quan tâm,khó giải quyết, ra quyết định
Đây là giai đoạn tìm kiếm vấn đề cần hỏi trong sự kiện, tình huống đã được phân tích ở
bước 1. Trong một tình huống, sự kiện có thể xác định nhiều hơn 1 vấn đề để hỏi.
- Bước 3: Nêu yêu cầu được tư vấn
Kết quả của giai đoạn này chính là nội dung cần được tư vấn gửi tới người tư vấn. Yêu
cầu tư vấn có thể được cấu trúc thành 2 phần đó là : mô tả hoàn cảnh (với mục đích giúp
người tư vấn hiểu rõ bối cảnh); và câu hỏi.
- Với người tư vấn:
Để có thể trả lời chính xác câu hỏi, đáp ứng được mục đích của người được tư vấn, người
tư vấn cần tiến hành trả lời câu hỏi theo các bước dưới đây:
- Bước 1: Phân tích tình huống, câu hỏi cần tư vấn


Mục tiêu của giai đoạn này là làm rõ điều người được tư vấn muốn hỏi, hiểu rõ bối cảnh
xuất hiện câu hỏi cần tư vấn. Có 2 khả năng xảy ra:
1. Nếu người tư vấn dã hiểu rõ câu hỏi, đã rõ hoàn cảnh, đã đủ thông tin để đưa ra câu trả
lời thì chuyển sang bước 2
2. Nếu người tư vấn chưa hiểu câu hỏi, chưa rõ tình huống, chứa đựng câu hỏi.Người tư


vấn cần trao đổi thêm với người được tư vấn để làm rõ hoặc biết thêm thông tin làm căn
cứ để đưa ra câu trả lời tốt nhất.
- Bước 2: Chuẩn bị câu trả lời
Nội dung câu trả lời phải được chuẩn bị trước. Trong trường họp người tư vấn chưa vững
tin khi trả lời , có thể tham khảo thêm ý kiến của đồng nghiệp hay các tư vấn khác.
- Bước 3 : Trả lời.
Một số điểm lưu ý với người tư vấn :
- Cần tạo dựng mối quan hệ tốt với người được tư vấn
- Lưu lại thông tin, hoàn cảnh của những người được tư vấn
- Tôn trọng lẫn nhau và thân thiện trong ngôn ngữ tư vấn
- Đặt mình vào hoàn cảnh của người được tư vấn
- Nên trả lời ngay khi yêu cầu được tư vấn được đưa lên diễn đàn (hoặc gửi đến người tư
vấn)
- Kiên trì và có trách nhiệm với nội dung tư vấn . Đảm bảo hiểu rõ về nội dung sẽ tư vấn.
Cần tham khảo các chuyên gia có kinh nghiệm trong cùng lĩnh vực.
- Giới thiệu với người được tư vấn các nguồn thông tin hoặc nhân lực có thể giúp đỡ họ.
- Gắn hoạt động tư vấn với hoạt động đào tạo của bản thân.
- Thống kê và phát hiện những vấn đề nổi bật , thường gặp trong quá trình tư vấn . Tổng
kết, đúc rút kinh nghiệm cho bản thân hoặc đơn vị.
Một số điểm lưu ý với người được tư vấn :
- Chân thành, có thái độ hợp tác
- Cần thận trong khi dùng mạng xã hội hay diễn đàn (không nên dùng tên thật)
- Cần nhanh chóng phản hồi thông tin một cách chính xác.
Một số lưu ý.


Tư vấn không phải là

Tư vấn không chỉ là

- Hỏi và trả lời

- Động viên an ủi

- Xin và cho lời khuyên

- Nói chuyện giải khuây

- Phê phán

- Dạy dỗ

- Quyết định thay
- Làm thay
C. Các nguyên tắc tư vấn.
1.1.Kín đáo, riêng tư
2.2.Bí mật nội dung cuộc tư vấn.
3.3.Không phê phán, phán xét đạo đức
4.4.Cung cấp thông tin cần và đủ.
5.5.Tôn trọng sự tự quyết của người được tư vấn.
6.6.Ngôn ngữ phù hợp với trình độ học vấn, văn hoá của người được tư vấn (học sinh),
không dùng ngôn ngữ hàn lâm hay thô bạo.
7.7.Không hứa hẹn quá nhiều làm mất đi tính độc lập, tự chủ, tự quyết của người được tư
vấn.
D. Tiến trình một ca tư vấn – 6 G.
1. G – 1: Gặp gỡ, niềm nở đón tiếp, tạo ra sự tin tưởng, cởi mở thân thiện ngay từ ban
đầu.
2. G- 2: Gợi hỏi thông tin, điều gì làm người được tư vấn lo lắng, vấn đề của họ là gì? tại
sao họ lại cần đến tư vấn? Đã có những giải pháp nào cho hoàn cảnh bản thân, kết quả ra
sao? Họ mong muốn nhất điều gì khi đến với ngừoi tư vấn?
3. G – 3: Giới thiệu thông tin, người tư vấn chỉ cung cấp những thông tin cần và đủ, có
lợi cho người được tư vấn, không cung cấp quá nhiều thông tin khiến họ hoang mang, lo
sợ.
4. G – 4: Giúp đỡ để người được tư vấn hiểu rõ hơn hoàn cảnh của bản thân, từ đó cùng
nhau thảo luận và lựa chọn những giải pháp phù hợp.
5. G – 5: Giải thích cho người được tư vấn hiểu rõ hơn giải pháp mà họ đã lựa chọn, cũng
như những điều cần lường trước khi lựa chọn giải pháp này.


6. G – 6: Gặp lại. Tư vấn không bó hẹp trong một lần gặp gỡ, vì vậy sau mỗi buổi gặp gỡ,
người tư vấn cần tóm tắt nội dung cơ bản đã trao đổi, nhắc nhở người được tư vấn suy
nghĩ, hành động và nếu cần thiết phải gặp lại thì cần có dặn dò, hẹn với họ để họ yên tâm
hơn.
E. Các kĩ năng tư vấn – 8 K.
1. K – 1: Kĩ năng lắng nghe.
2. K – 2: Kĩ năng khai thác thông tin từ người được tư vấn bằng hệ thống các câu hỏi
( bao gồm câu hỏi đóng, câu hỏi mở, câu hỏi dẫn dắt)
3. K – 3: Kĩ năng phản hồi.
Phản hồi là việc nhắc lại, tóm tắt, diễn đạt lại những gì mình đã nghe, đã cảm nhận từ
người được tư vấn.
Có 2 loại phản hồi: Phản hồi thông tin và phản hồi tâm trạng- cảm xúc.
4. K – 4: Kĩ năng cung cấp thông tin. Cung cấp thông tin dưới nhiều hình thức. Thông tin
phải cập nhật, liên quan tới câu chuyện của người được tư vấn. Không cung cấp những
thông tin tuy đúng, nhưng lại mang lại sự lo lắng, hoang mang có hại cho người được tư
vấn.
5. K – 5: Kĩ năng bình thường hoá vấn đề (không phải là tầm thường hoá). Khi người
được tư vấn lo lắng thái quá, hay đánh giá vấn đề của mình quá nặng nề, người tư vấn cần
biết “bình thường hoá vấn đề” để họ yên tâm hơn.
6. K – 6: Kĩ năng chia nhỏ vấn đề. Khi người được tư vấn đến với nhà tư vấn, thường
mang trong lòng quá nhiều nỗi lo. Trong câu chuyện của họ, có quá nhiều vấn đề cần giải
quyết. Nhưng không ai có thể cùng lúc giải quyết hết mọi vấn đề, vì vậy, nhà tư vấn cần
giúp họ xác định vấn đề nào là quan trọng, ưu tiên giải quyết hàng đầu.
7. K – 7: Kĩ năng tóm tắt vấn đề. Cuộc tư vấn có thể kéo dài nhiều giờ. Người tư vấn và
người được tư vấn có thể trao đổi rất nhiều việc. Vì vậy, cuối buổi tư vấn, người tư vấn
cần tóm tắt lại những nét chính của buổi tư vấn hôm ấy để họ nắm được tốt hơn.
8. K – 8: Kĩ năng kể chuyện. Đôi khi thông qua một câu chuyện của người khác, hay do
người tư vấn “ sáng tác”, người được tư vấn rút ra được những bài học cho bản thân một
cách tự nhiên, không cần gò bó, khiên cưỡng. Nhưng chọn lựa chuyện và cách kể chuyện
cần hết sức khéo léo, tránh để họ nghĩ người tư vấn là một người “hay đưa chuyện”.
E. Cách hướng dẫn, tư vấn:
- Nắm vững về lĩnh vực cần tư vấn


- Tôn trọng sở thích và tin tưởng vào khả năng của đồng nghiệp/ học sinh
- Biết lắng nghe, chia sẻ thân thiện thương yêu con người
- Kiên trì, khách quan
- Chân thật, tế nhị, khéo léo
- Công bằng, không vụ lợi
- Khoan dung, độ lượng
- Nguyên tắc xử thế của giáo viên trong hướng dẫn, tư vấn:
- Tin tưởng
- Tôn trọng
- Kiên nhẫn
- Tự nguyện
- Khách quan
- Giáo viên trường THCS không phải là người đã hiểu biết sâu sắc tất cả các lĩnh vực . Vì
vậy, người giáo viên cần biết giới hạn của mình trong hướng dẫn, tư vấn cho đồng nghiệp
và học sinh.
- Nếu giới hạn của bạn là hướng dẫn, tư vấn về chuyên môn (cho đồng nghiệp) và học tập
(cho học sinh) thì hãy dừng lại ở phạm vi đó, đừng lan man sang lĩnh vực hướng dẫn, tư
vấn khác mà bạn không am hiểu.
F. Các lĩnh vực cần hướng dẫn, tư vấn cho học sinh THCS
1. Hướng nghiệp, chọn nghề và thông tin tuyển sinh
- Cho học sinh: Hướng nghiệp
2.Thẩm mỹ, v. v…
3. Quan hệ, giao tiếp, ứng xử với gia đình, giáo viên và bạn bè,
- Giúp mỗi người hiểu được bản thân mình
- Có kỹ năng sống chung với người khác
- Hiểu được các cách ứng xử phù hợp các chuẩn mực
4. Phương pháp học tập
- Giúp học sinh kém nhằm khắc phục hiện tượng lưu ban, bỏ học


- Giúp học sinh trung bình để duy trì và cải thiện lực học của bản thân
- Giúp học sinh khá để nâng cao sự tiến bộ của họ
5. Tham gia các hoạt động xã hội,
- Giúp học sinh biết cách điều chỉnh thói quen, hành vi trong cuộc sống.
- Động viên học sinh tham gia vào các hoạt động trong nhà trường nhằm phát huy năng
lực của họ trong các hoạt động cá nhân và cộng đồng.
- Thể hiện sự quan tâm và giúp đỡ học sinh trong việc lập kế hoạch học tập, phát triển
mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội.
- Giúp học sinh trong việc tự đánh giá, tự hiểu biết và tự định hướng, tạo cho họ khả năng
đưa ra các quyết định phù hợp với những mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài.
- Giúp học sinh phát triển sức khoẻ cũng như thái độ và các giá trị tích cực.
- Giúp học sinh thu được sự hiểu biết tốt hơn về lĩnh vực học tập, hoạt động thông qua
việc thu lượm kỹ năng và thái độ làm việc hoặc tham gia vào các hoạt động của nhà
trường, cộng đồng.
- Khuyến khích học sinh lập kế hoạch và sử dụng tốt các hoạt động giải trí.
- Giúp học sinh hiểu được những điểm mạnh, điểm yếu, sở thích, các giá trị, tiềm năng và
những hạn chế của bản thân.
Nhờ thêm giáo viên tâm lý hoặc cán bộ Đoàn có khả năng giải đáp, hoặc mời chuyên gia
theo định kỳ thực hiện công tác tư vấn theo các nội dung trên, chủ yếu đưa ra những phân
tích, lời khuyên thiết thực giúp các em giải toả được về mặt tinh thần, làm cho các em
cảm thấy vững vàng, tự tin và trên cơ sở đó có thể tự giải quyết được vấn đề của mình
theo hướng tích cực.
Quan tâm định hướng để học sinh có cách hiểu tích cực, hiểu đúng về những lợi ích từ
các trang mạng xã hội cũng như những hạn chế, tiêu cực của nó đối với xã hội nói chung
và học sinh nói riêng. Hướng dẫn học sinh ý thức được việc đưa các nội dung thông tin cá
nhân lên mạng xã hội dễ bị kẻ xấu lợi dụng làm ảnh hưởng đến uy nhân phẩm, danh dự
và uy tín của bản thân, gia đình và nhà trường.
III. KẾT LUẬN
Kết luận 1
Để hoàn thành tốt chức năng chuyển giao kinh nghiệm xã hội cho thế hệ trẻ, người giáo
viên phải là người biết hình thành và phát triển hoạt động học tập cho học sinh. Do đó, tôi


sẽ ứng dụng linh hoạt các phương pháp hướng dẫn, tư vấn.
Kết luận 2
- Để phát triển nghề nghiệp của bản thân,tôi rất cần được hỗ trợ bởi sự hướng dẫn, tư vấn
của cán bộ quản lý và của đồng nghiệp. Giáo viên giỏi/ có kinh nghiệm cùng với cán bộ
quản lý trường học là người hướng dẫn, tư vấn cho đồng nghiệp của mình.
Kết luận 3
- Luôn giữ vững phẩm chất đạo đúc tốt để việc tư vấn đạt kết quả cao hơn,
Kết luận 4
- Trong vai trò người hướng dẫn, tư vấn, tôi tôn trọng các nguyên tắc xử thế cơ bản để
đảm bảo hiệu quả của hoạt động hướng dẫn, tư vấn. Các nguyên tắc này là: tin tưởng,
kiên nhẫn, tự nguyện và khách quan.
- Giáo viên trường THCS không phải là người đã hiểu biết sâu sắc tất cả các lĩnh vực . Vì
vậy, sẽ giới hạn của vai trò của mình trong hướng dẫn, tư vấn cho học sinh không lan
man sang lĩnh vực hướng dẫn, tư vấn khác mà tôi không am hiểu đồng thời tạo điều kiện
để học sinh hiện thực hóa những gì đã được hướng dẫn, tư vấn.
............, ngày....tháng....năm....
Người viết

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRƯỜNG .........

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
--------------------BÀI THU HOẠCH

BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊN
Module THCS9: Hướng dẫn, tư vấn đồng nghiệp trong phát triển nghề nghiệp
Năm học: ..............
Họ và tên: ..............................................................................................................................
Đơn vị: ..................................................................................................................................
1. Phát triển nghề nghiệp của giáo viên
Phát triển nghề nghiệp của giáo viên bao gồm phát triển năng lực của giáo viên về chuyên
môn và năng lực nghiệp vụ của nghề (nghiệp vụ sư phạm). Năng lực nghiệp vụ sư phạm
của giáo viên lại được xác định bởi năng lực thực hiện các vai trò của giáo viên trong quá


trình lao động nghề nghiệp của mình. Bản thân các vai trò của giáo viên gắn liền với đó là
các chức năng của họ.
Nhà trường hiện đại đã và đang đặt ra những yêu cầu mới đối với giáo viên, theo đó,
người giáo viên phải đảm nhận thêm những vai trò mới. Vai trò người hướng dẫn, tư vấn
và chăm sóc tâm lí mà người giáo viên trong nhà trường hiện đại phải đảm nhận là một
minh hoạ.
Theo logic trên, nội dung phát triển nghề nghiệp liên tục của giáo viên rất phong phú, bao
gồm cả việc mở rộng, đổi mới tri thức khoa học liên quan đến giảng dạy môn học do giáo
viên giảng dạy đến mở rộng, phát triển, đổi mới tri thức, kĩ năng thực hiện các hoạt động
dạy học và giáo dục trong nhà trường
Thực tiễn dạy học đã khẳng định: Những phương pháp giảng dạy tốt sẽ có ảnh hưởng tích
cực đến việc học sinh học cái gì và học như thế nào. Học cách dạy và làm việc để trở
thành một giáo viên giỏi (gặt hái được những thành tựu cao trong lao động nghề nghiệp)
là cả một quá trình lâu dài. Kết quả của quá trình này như thế nào phụ thuộc vào mức độ
tích cực của mọi giáo viên trong việc phát triển những kiến thức nghề nghiệp cũng như
các giá trị và quan điểm đạo đức nghề nghiệp của họ. Bên cạnh đó, việc giám sát và hỗ
trợ của các chuyên gia hoặc đồng nghiệp có kinh nghiệm để mỗi giáo viên phát triển
được các kĩ năng nghề nghiệp đóng vai trò không kém phần quan trọng.
Phát triển nghề nghiệp giáo viên là một quá trình mang tính tất yếu và lâu dài đổi với mọi
giáo viên. Tất yếu bởi dạy học và giáo dục là những quá trình thay đổi và gắn liền với sự
sáng tạo của mỗi giáo viên. Lâu dài bởi phát triển nghề nghiệp giáo viên bắt đầu từ sự
chuẩn bị khởi đầu ở cơ sở đào tạo nghề và tiếp tục trong quá trình lao động nghề nghiệp
của giáo viên tại cơ sở giáo dục cho đến khi về hưu.
Về bản chất, đó là quá trình gia tăng sự thích ứng trong lao động nghề nghiệp của người
giáo viên. Mức độ thích ứng nghề của cá nhân diễn ra dưới sự tác động của nhiều yếu tố,
tuy nhiên những yếu tố liên quan đến cá nhân và nghề nghiệp có vai trò quan trọng hơn
cả. Đây cũng là lí do khiến cho mọi giáo viên cần phát triển nghề nghiệp của mình một
cách liên tục, mỗi trường học phải coi việc phát triển nghề nghiệp liên tục cho đội ngũ
giáo viên là nhiệm vụ quan trọng.
Quan sát các giáo viên trẻ trong lao động nghề nghiệp, có thể nhận thấy những hạn chế
nhất định của họ so với những yêu cầu của dạy học, giáo dục trong nhà trường. Điều này
không chỉ là sự cánh báo về một khoảng cách đã có giữa đào tạo giáo viên (công việc của
các trường sư phạm) với thực tiến lao động nghề nghiệp tại các cơ sở giáo dục mà còn là
những gợi ý về những vấn đề liên quan đến phát triển nghề nghiệp liên tục của giáo viên.


Một cách diễn đạt khác, chức năng phát triển của phát triển nghề nghiệp giáo viên là quá
trình làm cho các năng lực nghề nghiệp của giáo viên ngày càng được nâng cao, giúp
giáo viên có thể thực hiện hoạt động nghề nghiệp của mình ở những tình huống khác
nhau (các tình huống phi chuẩn) mà vẫn đảm bảo kết quả.
Có thể xem xét quá trình hình thành kĩ năng như một minh hoạ cho chức năng phát triển
của phát triển nghề nghiệp giáo viên. Mọi kĩ năng mà cá nhân có được đều trải qua các
giai đoạn cụ thể, từ giai đoạn hình thành, củng cổ đến giai đoạn thuần thục (đôi khi có
tính chất của tự động hoá). Ở giai đoạn hình thành phải từ những tình huống mẫu, bằng
sự luyện tập của mình, cá nhân sẽ hình thành kĩ năng xác định. Sang giai đoạn củng cố,
cá nhân có thể thực hiện được kĩ năng ở tình huống đã có những thay đổi ít nhiều so với
tình huống mẫu. Trong những tình huống biến đổi, hoặc những tình huống hoàn toàn
khác biệt với tình huống mẫu, cá nhân vẫn có thể đạt đuợc mục tiêu của hoạt động. Đây
là giai đoạn cá nhân đã có kĩ năng ở mức độ phát triển cao.Chức năng đổi mới của phát
triển nghề nghiệp giáo viên chỉ quá trình tạo ra những thay đổi theo chiều hướng tích cực
trong năng lực nghề nghiệp của giáo viên.
Thay đổi là thuộc tính của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Dựa vào thuộc
tính này, con người có thể chủ động tạo ra sự thay đổi cho sự vật, hiện tượng. Những
thuật ngữ như cải tiến, đổi mới, cách mạng... dùng để chỉ sự thay đổi đuợc con người
thực hiện một cách có chủ định.
Đổi mới năng lực nghề nghiệp của giáo viên là quá trình phúc tạp, là kết quả của sự thay
đổi trong nhận thức, hành động và khắc phục những rào cản của hành vi, thói quen trong
dạy học, giáo dục của giáo viên.
Kinh nghiệm nghề nghiệp là tài sản của mọi giáo viên, tuy nhiên đôi khi kinh nghiệm này
lại trở thành rào cản đối với những đổi mới mang tính hệ thổng hoặc đổi mới đối với từng
phương diện năng lực nghề nghiệp của họ. Trong trường hợp này, người giáo viên cần
thay đổi chính những kinh nghiệm của họ. chẳng hạn, để đổi mới phương pháp dạy học,
giáo viên phải đổi mới tư duy về dạy học và tổ chức dạy học (xác lập quan điểm/những
quan điểm mới về dạy học và tổ chức dạy học), đổi mới trong thiết kế các mô hình/chiến
lược dạy học và tiếp đến là đổi mới trong thực thi từng phương pháp dạy học cụ thể.
Các chương trình nhằm mục đích phát triển nghề nghiệp cho giáo viên:
(i) Phát triển các kĩ năng sổng;
(iì) Trở thành người có năng lực đối với các kĩ năng cơ bản của nghề dạy học;
(iii) Phát huy tính linh hoạt của người giảng dạy; Có chuyên môn giảng dạy; Đóng góp


vào sự phát triển nghề nghiệp của đồng nghiệp;
(iv) Thực hiện vai trò lãnh đạo và tham gia vào việc ra quyết định.
Các quan niệm về tiêu chí định hướng của chương trình phát triển nghề nghiệp giáo viên
nêu trên cho thấy, phát triển nghề nghiệp giáo viên có thể được thực hiện một cách có chủ
định hoặc không chủ định. Không ít những trường hợp, nhiều hoạt động được thực hiện
liên quan đến giáo viên (hoặc được thực hiện bởi giáo viên) nhưng không có chú ý thực
hiện các tiêu chí của phát triển nghề nghiệp giáo viên. Tuy nhiên, nếu các hoạt động đó
được định hướng từ trước bởi mục đích phát triển nghề nghiệp giáo viên thì hiệu quả của
các hoạt động đó sẽ cao hơn rất nhiều. Nói cách khác, cần thiết phải quan tâm đến những
cơ hội mà ở đó giáo viên có thể phát triển nghề nghiệp của bản thân. Các cơ hội phát triển
nghề nghiệp có thể được tạo ra cùng lúc bởi các giáo viên và những người hỗ trợ, hoặc
bởi cách lựa chọn tập trung vào một nhiệm vụ mới mà giáo viên hứng thú với việc thực
hiện nó (ví dụ, học tập một lí thuyết dạy học mới hay thực hành một kĩ năng dạy học
hoặc giáo dục mà giáo viên muốn có sự thay đổi). Đây chính là những gợi ý trực tiếp cho
sự hình thành các mô hình phát triển nghề nghiệp giáo viên.
2. Mô hình hướng dẫn đồng nghiệp trong phát triển nghề nghiệp giáo viên
Mô hình phát triển nghề nghiệp giáo viên là cái thể hiện của phát triển nghề nghiệp giáo
viên (cái được thể hiện). Tuy nhiên, giữa cái thể hiện và cái được thể hiện thưững có sự
phản ánh không đầy đủ. Hơn nữa, do quan niệm về tiêu chí của chương trình phát triển
giáo viên tương đổi phong phú, vì thế có nhiều cách xác định mô hình phát triển nghề
nghiệp giáo viên. Bảng dưới đây hệ thống một số mô hình phát triển nghề nghiệp giáo
viên đã được tổng kết từ thực tiễn giáo dục của nhiều quốc gia.
Mô hình hợp tác các tổ chức

Mô hình nhóm nhỏ hoặc riêng lẻ (cá nhân)

Phát triển nghề nghiệp giáo viên ở trường
học
Quan hệ trường phổ thông với trường cao
đẳng, đại học sư phạm
Hợp tác giữa các viện nghiên cứu

Giám sát

Mạng trường học
Mạng giáo viên

Nghiên cứu trường hợp
Tụ phát triển (giáo viên nghiên cứu để phát

Đánh giá công việc của học sinh
Hội thảo, semine, cáckhoá học

triển)
Giáo dục từ xa

Phát triển các quan hệ hợp tác
G

iáo viên tham gia vào quá trình đổi mới


Hồ sơ
Nghiên cứu hành vi
Dùng các bài nói của giáo viên
Tập huấn
Bảng tổng hợp trên cho thấy, các mô hình phát triển nghề nghiệp giáo viên tương đối đa
dạng, được phát triển và thực hiện ở nhiều quốc gia để phát huy và hỗ trợ giáo viên phát
triển nghề nghiệp từ khi họ bắt đầu khởi nghiệp đến khi nghỉ hưu. Điểm chung nhất dễ
nhận thấy của các mô hình là tính mục đích của nó.
Mô hình tập huấn
Giáo viên tham dự các lớp tập huấn theo:
(i) nhu cầu của bản thân;
(iì) yêu cầu của tố chức/người quân lí để phát triển năng lực chuyên môn, nghiệp vụ đáp
ứng yêu cầu mói của hoạt động dạy học và giáo dục.
Hoạt động tập huấn cho giáo viên có thể được thực hiện theo những hình thức khác nhau:
tập huấn đại trà, tập huấn cho nhóm giáo viên; tập huấn tập trung hoặc tập huấn tại cơ sở
giáo dục.
Mô hình mạng lưới giáo viên trong hướng dẫn, tư vấn hỗ trợ đồng nghiệp phát triển nghề
nghiệp. Mạng lưới của các giáo viên tạo điều kiện cho các giáo viên xích lại gần nhau để
giải quyết các vấn đề mà họ gặp phải trong công việc, nhờ đó có thể phát triển được sự
nghiệp riêng của mỗi người với tư cách là các cá nhân hay với tư cách là nhóm giáo viên.
Các mạng lưới này có thể được tạo ra một cách tương đổi không chính thúc thông qua
các cuộc họp thường kì giữa các giáo viên; hoặc chính thúc thông qua việc thiết lập các
mổi quan hệ, giao tiếp và hội thoại.
Mặc dù các mô hình có tên gọi khác nhau, nhưng những nội dung cơ bản trong mô hình
phát triển nghề nghiệp liên tục cho giáo viên được xác định tương đổi thổng nhất. Các nội
dung này bao gồm:
(i) xác định nhu cầu phát triển nghề nghiệp liên tục của giáo viên: nhằm xác định có xuất
hiện khoảng cách giữa yêu cầu về vị trí mà giáo viên đang đảm nhận với khả năng đáp
ứng hiện có của giáo viên hay không? Kết quả này cho phép xác nhận giáo viên đó cần
mở rộng, phát triển hay đổi mới cái gì trong năng lực nghề nghiệp của bản thân.
(ii) Thiết kế mục tiêu, từ đó dựng nội dung để phát triển nghề nghiệp liên tục cho giáo
viên.
(iii) Thực hiện các hoạt động phát triển nghề nghiệp liên tục cho giáo viên: triển khai các


hoạt động đã được hoạch định trong bước (ii).
(iv) Đánh giá và điều chỉnh: Đánh giá quá trình thực hiện các hoạt động theo mục tiêu đã
đề ra để có những điều chỉnh phù hợp.
* Chức năng của phát triển nghề nghiệp giáo viên
Chức năng của phát triển nghề nghiệp giáo viên là mở rộng, đổi mới và phát triển năng
lực nghề nghiệp cho giáo viên. Phát triển nghề nghiệp giáo viên mang lại những thay đổi
cho hệ thống giáo dục (ở cả cấp độ vi mô và vĩ mô) và cho cá nhân mỗi giáo viên. Phát
triển nghề nghiệp giáo viên có những đặc điểm chính sau:
Phát triển nghề nghiệp giáo viên dựa trên xu hướng tạo dựng thay vì dựa trên mô hình
chuyển giao.
Phát triển nghề nghiệp giáo viên là một quá trình lâu dài.
Phát triển nghề nghiệp giáo viên đuợc thực hiện với những nội dung cụ thể.
Phát triển nghề nghiệp giáo viên liên quan mật thiết với những thay đổi, cải cách trường
học.
Phát triển nghề nghiệp giáo viên có vai trò giúp giáo viên trong việc xây dụng những lí
thuyết và thực tiễn sư phạm, giúp họ phát triển sự thành thạo trong nghề.
Phát triển nghề nghiệp giáo viên là một quá trình cộng tác.
Phát triển nghề nghiệp giáo viên được thực hiện và thể hiện rất đa dạng và có thể rất khác
biệt ở những bổi cánh khác nhau.
Không một giáo viên nào có thể tự khẳng định mình là người đã hiểu biết tất cả và luôn
thành công trong hoạt động nghề nghiệp. Nói cách khác, ngay cả những giáo viên giỏi,
trong nhiều trường hợp, vẫn cần đến sự trợ giúp từ những người khác để hoàn thành các
nhiệm vụ đuợc phân công trong lao động nghề nghiệp tại cơ sở giáo dục.
Mọi giáo viên đều phải đóng vai là một người hướng dẫn đối với đồng nghiệp, đồng thời
họ được trợ giúp từ chính vai trò mà họ đảm nhiệm để phát triển nghề nghiệp của bản
thân. Hướng dẫn có vai trò quan trọng trong phát triển nghề nghiệp của mọi giáo viên,
nhất là đổi với các giáo viên còn ít kinh nghiệm nghề nghiệp.
Cán bộ quản lí trường học, các giáo viên có kinh nghiệm thưởng là những người đóng vai
trò hướng dẫn đồng nghiệp. Ở đây, những vấn đề về giảng dạy cũng như về chuyên môn
đuợc thực hiện theo kĩ thuật chung của hoạt động hướng dẫn và đem lại hiệu quả đáng kể
cho sự phát triển nghề nghiệp của các đổi tượng được hướng dẫn.


Hướng dẫn đồng nghiệp trong phát triển nghề nghiệp là một trong các mô hình phát triển
nghề nghiệp giáo viên ở trường học. Sự tham gia nhiệt tình của giáo viên vào mô hình
này là một trong những yếu tố đảm bảo sự thành công của mô hình tại từng nhà trường.
Căn cứ vào nội dung của phát triển nghề nghiệp giáo viên, có thể khái quát những lĩnh
vục hướng dẫn chính trong phát triển nghề nghiệp giáo viên như sau:
Hướng dẫn đồng nghiệp vẽ chuyên môn
Mọi giáo viên, trong thời gian học nghề ở trường sư phạm, đều được đào tạo theo một
chuyên môn xác định. Đó là ngành học mà họ theo đuổi và sau đó thực hiện lao động
nghề nghiệp (dạy học) theo ngành học này ở cơ sở giáo dục. Ngành học của người giáo
viên ở trường sư phạm là khoa học mà dựa vào đó, người ta xây dựng nên môn học trong
chương trình giáo dục ở các cơ sở giáo dục phổ thông.
Một số giáo viên thụ hưởng và có trinh độ học vấn cao hơn so với chuẩn đào tạo đã quy
định. Các giáo viên này có trình độ thạc sĩ hoặc tiến sĩ. Ở trình độ này, họ được đào tạo
theo những chuyên ngành của ngành đào tạo mà họ đã có ở trình độ cử nhân cao đẳng
hoặc đại học.
Như vậy, ngành hoặc chuyên ngành được đào tạo của giáo viên ở trường sư phạm thuộc
phạm trù chuyên mòn đổi với nghề nghiệp giáo viên. Những gì còn lai, liên quan đến việc
đảm bảo kết quả hoạt động dạy học và giáo dục của giáo viên ở cơ sở giáo dục được gọi
là nghiệp vụ của nghề nghiệp giáo viên.
Xét về lĩnh vục chuyên môn, theo quan niệm thông thưởng học 10 dạy 1, các trường sư
phạm đảm bảo trang bị chuyên môn để người giáo viên có thể thực thi tốt chương trình
môn học tương ứng ở các cơ sở giáo dục phổ thông.
Chương trình giáo dục ở các cơ sở giáo dục bao gồm các môn học và các hoạt động giáo
dục nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của từng cấp học cụ thể. Học sinh ở các cơ sở giáo
dục phổ thông tham gia các hoạt động giáo dục và nghiên cứu/học các môn học (theo kĩ
thuật thiết kế chương trình giáo dục hiện nay ở nước ta). Môn học thuộc chương trình
giáo dục ở cơ sở giáo dục phổ thông đuợc xây dựng trên cơ sở của một khoa học tương
ứng. Như vậy, học sinh học môn học chú không học khoa học. Trong khi đó, trong quá
trình đào tạo của giáo viên ở trường sư phạm, hoạt động học tập của họ có tính chất
nghiên cứu và tiếp cận với khoa học (ngành/chuyên ngành khoa học họ đựợc đào tạo).
Hướng dẫn đồng nghiệp có thể được thực hiện trực tiếp, gián tiếp, hướng dẫn chung hoặc
hướng dẫn cá nhân. Mọi hình thức hướng dẫn đều có điểm mạnh và những hạn chế nhất
định. Việc lựa chọn hình thức hướng dẫn đôi khi không phụ thuộc vào người hướng dẫn.


Để hướng dẫn đồng nghiệp thành công, bạn cần có thông tin về họ. Phương tiện để bạn
có được những thông tin này là các công cụ như: các trắc nghiệm, phiếu điều tra, bảng
kiểm, hướng dẫn phỏng vấn và sơ đồ quan sát... Các công cụ này phải được phát triển và
kiểm tra hiệu lực. Căn cứ mục đích thu thập thông tin về đối tương cần hướng dẫn, bạn
lựa chọn và sử dụng các công cụ để thu thập thông tin cần thiết bằng các phương pháp
như:
Phỏng vấn nhóm và phỏng vấn từng cá nhân; Quan sát theo nhóm và quan sát cá
nhân;Ghi chép.
Dữ liệu có đuợc bằng việc sử dụng công cụ bạn đã lựa chọn cần được xử lí. Việc xử lí dữ
liệu có thể thực hiện đơn giản bằng tính toán thú công nhưng cũng có thể thực hiện trên
máy vĩ tính đổi với những phân tích phức tạp hơn.
3. Yêu cầu đối với người hướng dẫn đồng nghiệp và phương pháp lập kế hoạch
hướng dẫn đồng nghiệp.
3.1. Yêu cầu đối với người hướng dẫn đồng nghiệp
Người hướng dẫn đồng nghiệp phát triển nghề nghiệp giáo viên phải là người tôn trọng
sở thích và tin tưởng vào khả năng của đồng nghiệp; có uy tín trong nghề nghiệp và khả
năng tạo đuợc sự tin tưởng của đồng nghiệp. Hiểu được nguyện vọng của đồng nghiệp,
mức độ thực hiện các hoạt động nghề nghiệp của đồng nghiệp (biết đuợc đồng nghiệp
làm gì, làm như thế nào trong dạy học và giáo dục học sinh); thực hiện hướng dẫn đồng
nghiệp dụa trên cái đồng nghiệp cần. có thái độ thông cảm, có kĩ năng động viên, thúc
đẩy đồng nghiệp; biết đưa ra nhiều lựa chọn để đồng nghiệp quyết định và làm cho đồng
nghiệp biết họ phải làm gì để hoạt động nghề nghiệp của họ tốt hơn so với hiện tại.
Mặc dù là người có nhiều kinh nghiệm nghề nghiệp, tuy nhiên, người hướng dẫn đồng
nghiệp không phải là một nhà thông thái, vì vậy, bạn cần biết giới hạn của mình trong
hướng dẫn đồng nghiệp. Nếu giới hạn của bạn là hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ
cho đồng nghiệp thì hãy dùng lại ở phạm vi đó, đừng lan man sang lĩnh vực khác mà bạn
không quen.
3.2. Phương pháp lập kế hoạch hướng dẫn đồng nghiệp.
Lập kế hoạch hướng dẫn đồng nghiệp là quá trình chuẩn bị cho những thay đổi trong hoạt
động nghề nghiệp của đồng nghiệp bằng việc ấn định trước các phuơng án hoạt động của
đồng nghiệp hoặc của người hướng dẫn và đồng nghiệp trong tương lai.
Lập kế hoạch hướng dẫn đồng nghiệp là một quá trình, bao gồm các giai đoạn (lập kế
hoạch, thực hiện, đánh giá và điều chỉnh kế hoạch) và những bước đi cụ thể trong từng


giai đoạn.
Giai đoạn lập kế hoạch tạo ra sản phẩm là những vân bản kế hoạch để người hướng dẫn
có thể triển khai trong thực tiễn. Văn bản kế hoạch hướng dẫn đồng nghiệp giúp người
hướng dẫn có được những thông tin cần thiết về:
Vấn đề cần ưu tiên trong hướng dẫn đồng nghiệp là gì?
Giải quyết vấn đề đó nhằm đạt đến mục tiêu gì? Khi nào thì đạt được?
Những hoạt động nào cần triển khai để có thể hướng dẫn được đồng nghiệp?
Những nguồn lực nào cần khai thác để thực hiện được các hoat động nói trên?
............., ngày...tháng...năm....
Người viết



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×