Tải bản đầy đủ

T�i lieu tap huan mo hinh ICM ti�u lan 2

TÀI LIỆU TẬP HUẤN
MÔ HÌNH QUẢN LÝ DINH DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỪ
TỔNG HỢP SÂU BỆNH HẠI TRÊN CÂY TIÊU.
A. NỘI DUNG TẬP HUẤN LẦN THỨ NHẤT:
I. GIỚI THIÊU CHUNG :
1. Sự cần thiết cần phải xây dựng mô hình quản lý dinh dưỡng và phòng trừ tổng hợp sâu
bệnh trên cây hồ tiêu:
Trong xu thế phát triển chung của xã hội hiện nay hầu hết khách hàng trên thế giới đã và
đang chú trọng tới chất lượng và phẩm chất của mặt hàng tiêu dùng. Chính vì vậy, việc xây dựng
chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững mang tính chất lâu dài, đặc biệt hiện nay ưu tiên sử
dụng các chương trình IPM, ICM, GAP, …để ứng dụng vào trong sản xuất nông nghiệp với mục
đích bảo vệ sức khỏe cho người sản xuất, người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và mang lại hiệu
quả kinh tế lâu dài.
Ở Gia Lai cây tiêu được trồng vào khoảng năm 1980, đã đứng vững trên vùng đất này và
có tầm quan trọng rất lớn trong việc phát triển kinh tế và xã hội. Hiện tại Gia Lai có 9/17 huyện
thị, TP có trồng tiêu với diện tích cây hồ tiêu trong toàn tỉnh khoảng trên 5.500 ha, sản lượng ước
khoảng 22.000 tấn /năm. Tuy nhiên thực tế cho thấy trong sản xuất tiêu của tỉnh Gia Lai còn bộc
lộ nhiều hạn chế, khiếm khuyết. Qua nắm bắt tình hình và đạo sản xuất, chúng tôi thấy rằng điểm
yếu nhất của người trồng tiêu hiện nay là còn chủ quan, trồng tiêu theo phong trào, chạy theo lợi
nhuận trước mắt (khi tiêu được giá) trong khi tiêu là cây công nghiệp dài ngày có thời gian cho
thu hoạch dài. Việc không chấp hành nghiêm ngặt quy trình trồng và chăm sóc cây hồ tiêu bài

bản ngay từ khâu chọn đất trồng, chọn giống tiêu thích hợp, kỹ thuật làm đất, thoát nước trong
mùa mưa, bón phân đầy đủ cân đối các thành phần dinh dưỡng, quản lý dịch hại và cỏ dại hợp
lý... thì những thiệt hại do tiêu chết hàng loạt có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Những hạn chế chủ
yếu của người trồng tiêu hiện nay là không quan tâm biện pháp phòng bệnh mà chỉ khi cây tiêu
bị bệnh bộc lộ ra bên ngoài mới lo chạy chữa thì đã quá muộn, vừa tốn kém chi phí vật tư, công
sức mà không mang lại hiệu quả. Hiện nay nông dân trồng tiêu đang sử dụng quá nhiều phân bón
hóa học và các loại hóa chất BVTV nôn nóng việc khai thác về năng suất, tăng lợi nhuận đã dẫn
đến những hậu quả như: Tồn dư hóa chất trong thương phẩm, đất trở nên chai cứng và cạn kiệt
về dinh dưỡng, nhiều loại dịch hại đã kháng thuốc gây khó khăn cho công tác phòng trừ, chi phí
sản xuất gia tăng. Đầu tư phân hóa học quá mức kèm theo công tác phòng trừ sâu bệnh hại chưa
tuân thủ 4 đúng, năng suất hồ tiêu cao tức thời nhưng không ốn định, cây bị suy thoái nhanh, tình
hình sâu bệnh gây hại ngày càng nghiêm trọng, môi trường bị ô nhiễm, … có thể khảng định
rằng phát triển cây hồ tiêu ở tỉnh ta trong những năm vừa qua là không đảm bảo tính ổn định và
bền vững.
Như vậy ở tỉnh ta việc sản xuất cây tiêu theo hướng bền vững, hạn chế thiệt hại do sâu
bệnh gây ra, ổn định năng suất, nâng cao chất lượng, bảo vệ môi trường sinh thái là hết sức cần
thiết. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành xây dựng mô hình “ Quản lý dinh dưỡng và phòng trừ
sâu bệnh tổng hợp trên cây tiêu ”
2. Mục đích:
+ Nâng cao trình độ sản xuất cho các hộ sản xuất tiêu, đặc biệt là công tác phòng trừ sâu
bệnh hại theo hướng tổng hợp. Bón phân đầy đủ cân đối, hợp lý khoa học.
+ Hỗ trợ nông dân sản xuất ra sản phẩm có chất lượng cao, giảm giá thành để tăng sức
cạnh tranh với các nước trồng tiêu trên Thế Giới.


+ Làm cho nông dân thay đổi tập quán và phương thức sản xuất theo hướng hướng hiệu
quả, bền vững.
3. Cơ sở áp dụng mô hình quản lý dinh dưỡng và phòng trừ tổng hợp sâu bệnh trên cây hồ
tiêu
* Cơ sở về quản lý dịch hại tổng hợp: Dựa trên sự cân bằng về sinh thái, cụ thể là:
+ Dựa vào khả năng đền bù của cây: Một khi chúng ta nắm chắc được các yêu cầu về
sinh lý của cây hồ tiêu, tác động đúng và đầy đủ các biện pháp kỹ thuật cho cây hồ tiêu trong
từng giai đoạn sinh trưởng-phát triển sẽ làm cho cây tiêu sinh trưởng-phát triển tốt có khả năng
đền bù những phần đã mất do dịch hại gây ra.
+ Dựa vào khả năng khống chế sâu hại của thiên địch: Trên vườn tiêu thường xuyên có
các loài thiên địch (Bọ rùa đỏ 02 chấm, Nhện lycosa, chuồn chuồn kim, kiến vàng...). Ở tùng giai
đoạn sinh trưởng khác nhau của cây tiêu, ứng với mỗi loài dịch hại sẽ có một hoặc nhiều loài
thiên địch khống chế, kìm hãm sự phát triển về mật số của dịch hại, từ đó giảm tối đa những thiệt
hại do sâu hại gây ra. Do vậy chúng ta cần phải biết:
- Không cần phun thuốc khi biết rằng ở trên vườn tiêu chưa có dịch hại hoặc dịch hại


đang còn ít không có khả năng làm ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây
tiêu.
- Không cần phun thuốc phòng trừ sâu bệnh gây hại cho cây tiêu nếu chúng ta biết tại
thời điểm đó có sự hiện diện của các loại thiên địch với mật số đông, đủ để khống chế dịch hại,
+ Dựa trên kết quả về nghiên cứu và đã thực hiện thành công ở một số cây trồng khác
như cây lúa, cây rau, chè...
* Cơ sở về quản lý dinh dưỡng:
+ Dựa trên cơ sở khoa học về nhu cầu dinh dưỡng của cây hồ tiêu để bón phân đầy đủ,
cân đối các thành phần dinh dưỡng, đảm bảo không thiếu mà cũng không thừa theo từng giai
đoạn sinh trưởng phát triển của cây hồ tiêu.
+ Dựa trên độ phì nhiêu màu mỡ của đất đai thông qua phân tích thổ nhưỡng và khí hậu
thời tiết của các vùng trồng hồ tiêu trong tỉnh để đưa ra quy trình định mức phân bón, thời gian
bón, số lần bón cho hợp lý.
+ Thăm đồng thường xuyên, quan sát hình dáng màu sắc thân, lá… để chuẩn đoán việc
thiếu hay thừa dinh dưỡng để quyết định chủng loại, liều lượng bón cho mỗi lần bón hợp lý.
* Cơ sở áp dụng: Dựa trên 4 nguyên tắc của IPM làm nền tảng:
+ Trồng cây khoẻ: Do cây tiêu đang ở giai đoạn kinh doanh cho nên ta cần tác động các
biện pháp kỹ thuật như: cắt tỉa cành tăm, cành già, cành vô hiệu tạo bộ khung tán hợp lý, tưới
nước, bón phân cân đối, quản lý tốt cỏ dại, sâu bệnh hại… để cho cây tiêu sinh trưởng khỏe
mạnh tăng khả năng chống chịu, sinh trưởng và phát triển tốt.
+ Bảo vệ các loài thiên địch, bao gồm: Thiên địch ăn mồi, thiên địch ký sinh để chúng có
điều kiện nhân nhanh về số lượng, đủ để khống chế sâu hại, tạo ra sự cân bằng về sinh thái.
+ Thăm đồng thường xuyên để đưa ra biện pháp xử lý về dịch hại, tác động các biện pháp
kỹ thuật khác phù hợp, hiệu quả.
+ Nông dân trở thành chuyên gia do nắm chắc được các biện pháp kỹ thuật, diễn biến
tình phát sinh, phát triển của dịch hại và thiên địch chủ động đưa ra các quyết định xử lý đúng
đắn, thích hợp, đồng thời sẽ là tuyên truyền viên tích cực tuyên truyền hướng dẫn trong cộng
đồng cùng tham gia thực hiện.
4. Lợi ích của việc áp dụng biện pháp quản lý dinh dưỡng và dịch hại tổng hợp trên cây hồ
tiêu:
a. Giảm chi phí đầu tư:


Nông dân có lối quen sản xuất theo truyền thống, thường là để đạt được năng suất cao thì
nông dân phải đầu tư thâm canh cao (chi phí đầu vào cao) điều này rất dễ dẫn đến việc phá vỡ
cân bằng sinh thái. Hiện nay để đạt được hiệu quả kinh tế cao mang tính bền vững người ta lại đi
theo một hướng khác là giảm chi phí đầu vào do sử dụng phân bón tiết kiệm, bón theo nhu cầu
của cây theo từng giai đoạn, hạn chế tối đa những lãng phí vô ích, lợi dụng những thiên địch có
sẵn trong tự nhiên để khống chế sâu bệnh gia tăng về mật số, hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc
hóa học BVTV... Do vậy sẽ giảm đáng kể về chi phí vật tư phân bón và thuốc BVTV hóa học
trong sản xuất.
b. Giảm chi phí công lao động:
- Áp dụng tốt các biện pháp quản lý dinh dưỡng và dịch hại tổng hợp sẽ giúp cho cây hồ
tiêu sinh trưởng-phát triển tốt, hạn chế dịch hại, cỏ dại phát triển điều đó sẽ góp phần giảm được
chi phí công phòng trừ sâu bệnh, bón phân hóa học, làm cỏ.
c. Giảm sự ô nhiễm môi trường:
- Áp dụng tốt các biện pháp quản lý dinh dưỡng và dịch hại tổng hợp sẽ giúp cho cây hồ
tiêu sinh trưởng-phát triển tốt, hạn chế việc phun thuốc phòng trừ dịch hại, cỏ dại, bón phân hóa
học góp phần làm cho môi trường sinh thái trong lành hơn;
d.Tăng chất lượng, tăng hiệu quả kinh tế:
- Áp dụng tốt các biện pháp quản lý dinh dưỡng và dịch hại tổng hợp sẽ không có tồn
đọng dư lượng hóa chất thuốc BVTV trong sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng giá trị
hàng hóa, góp phần xây dựng thương hiệu hồ tiêu Gia Lai đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong
nước và trên thế giới.
II: SƠ LƯỢC MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT, SINH HỌC VÀ SINH THÁI HỌC CÂY
HỒ TIÊU.
Người sản xuất muốn áp dụng thành công biện pháp quản lý dinh dưỡng và dịch hại tổng
hợp hiệu quả thì cần phải nắm một số đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh lý của cây tiêu như
sau:
1- Đặc điểm thực vật học.
1.1. Thân, cành, lá:
- Thân cây hồ tiêu là loại thân thảo, leo bám nhờ các rễ bám trên các đốt thân, cành và có
thể phát triển dài tới 10 mét.
- Cành có 3 loại cành:
+ Cành tược, thường phát sinh ở nách các lá cây hồ tiêu mới trồng hoặc các mầm nách lá
trên thân chính của cây. Cành tược thường to mập, vươn lên song song với thân chính, nếu không
bị cắt bỏ chúng sẽ tạo thành một thân phụ.
+ Cành lươn, là cành hình thành từ các mầm phía sát gốc của thân chính, cành này thường
bỏ sát đất và lóng vươn dài hơn lóng các loại cành khác. Loại cành này sinh trưởng nhanh và tiêu
hao nhiều dinh dưỡng của cây.
+ Cành cho quả (cành ngang), thường hình thành từ các mầm nách trên thân chính của cây
hồ tiêu (cành cấp 1), góc độ phân cành lớn nên cành mọc ngang, độ dài của cành ngắn, cành
khúc khuỷu, lóng ngắn. Từ cành cấp 1 sẽ phát triển cành cấp 2, từ cành cấp 2 sẽ phát triển cành
cấp 3. Cây hồ tiêu thường ra hoa, kết quả trên cành cấp 2 và cấp 3.


- Lá hồ tiêu là loại lá đơn, có cuống, bản lá khá rộng, hình trái tim, mọc cách. mặt trên của
lá láng nhẵn bóng, màu xanh nhạt đến xanh thẫm, mặt sau không bóng, màu xanh lục.
1.2. Hệ thống rễ:
Bộ rễ cây gồm các loại : Rề cái, rễ phụ, rễ bám
+ Rễ cái: Rễ cái thường to và ăn sâu xuống đất, chức năng chính của rễ cái là hút nước
cho cây, cây hồ tiêu sau khi trồng 1 năm trở lên bộ rễ cái có thể ăn sâu tới 2 mét.
+ Rễ phụ: mọc thành chùm, phát triển theo chiều ngang, phân bố chủ yếu ở độ sâu 15-40
cm, có nhiệm vụ hút nước và chất dinh dưỡng cho cây. Khi bị đứt hay tổn thương khả năng hồi
phục và tái sinh của bộ rễ cây hồ tiêu chậm.
Rễ hồ tiêu thuộc loại háo khí, không chịu được ngập úng, do đó để tạo cho rễ cái ăn sâu,
cây chịu hạn tốt và rễ phụ phát triển tốt hút được nhiều chất dinh dưỡng thì phải thường xuyên có
biện pháp cải tạo đất, làm cho đất tơi xốp, tăng hàm lượng mùn. Chỉ cần úng thủy 12-24 giờ thì
bộ rễ cây hồ tiêu đã bị tổn thương đáng kể và có thể dẫn tới việc hư thối và dây tiêu có thể bị
chết dần.
+ Rễ bám, mọc từ các đốt thân, cành để bám vào cây choái hoặc vách đá, khả năng hút
nước và dinh dưỡng của loại rễ này hạn chế, không đáng kể.
1.3. Hoa, quả:
- Hoa, hàng năm cây hồ tiêu thường ra hoa kết quả 1 lần, hoa dạng hoa tự hình gié treo
lủng lẳng, dài 7-12 cm, trên chùm hoa bình quân có từ 20-60 hoa sắp xếp thành hình xoắn ốc,
mỗi hoa có một lá bắc, lá bắc này rụng sớm.
- Quả, dạng quả hạch, hình cầu, đường kính khoảng 4-8 mm, mỗi quả có một cuống rất
ngắn. Quả lúc đầu có màu xanh, sau chuyển màu vàng và khi chín có màu đỏ.
Cây hồ tiêu từ khi trồng đến khi ra hoa dài hay ngắn tuỳ thuộc vào giống tiêu, cây giống
trồng được nhân bằng phương pháp nào, hữu tính hay vô tính, loại dây thân, cành lấy để nhân
giống. Nếu cây giống nhân bằng giâm cành tược, cành lươn cây sẽ chậm ra hoa so với cành quả
3 –4 năm, tuy nhiên tuổi thọ cây hồ tiêu kéo dài và năng suất cao.
2- Yêu cầu sinh thái:
Hồ tiêu là một loại cây đặc trưng của vùng nhiệt đới ẩm, nên cây hồ tiêu đòi hỏi lượng mưa
cao, nhiệt độ khá đồng đều và ẩm độ không khí cao
2.1. Nhiệt độ:
Phạm vi nhiệt độ từ 15-40 o C đều có thể trồng được hồ tiêu, nhưng nhiệt độ thích hợp với
cây hồ tiêu là 22-28 o C.
Khi nhiệt độ cao hơn 40 o C và thấp hơn 10 o C đều ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của cây,
nhiệt độ 6-10 o C trong thời gian ngắn làm nám lá non, sau đó lá trên cây bắt đầu rụng.
2.2.Ánh sáng:
Cây hồ tiêu có nguồn gốc từ dưới tán rừng thưa do vậy ưa ánh sáng tán xạ, ánh sáng tán xạ
nhẹ phù hợp với yêu cầu sinh lý, sinh trưởng, phát dục, ra hoa, đậu quả của cây và kéo dài tuổi
thọ cho cây. Vào giai đoạn ra hoa và nuôi quả cây cần nhiều ánh sáng hơn nên trong thời gian
này người ta thường cắt bớt lá cành của cây choái để tăng cường ánh sáng cho cây.
2.3. Lượng mưa và ẩm độ:


Lượng mưa trong năm trung bình từ 1.800-3.000 mm, tốt nhất là 2.000-2.500 mm, nhưng
lượng mưa này cần phân bố đều trong năm. tuy nhiên cây hồ tiêu lại cần có một giai đoạn khô
hạn ngắn sau vụ thu hoạch để cây có thời gian phân hoá mầm hoa tốt và ra hoa đồng loạt.
Cây hồ tiêu cần ẩm độ không khí cao từ 70-90%, nhất là vào thời kỳ ra hoa. Độ ẩm không
khí cao làm hạt phấn dễ dính vào nuốm nhụy và làm cho thời gian thụ phấn kéo dài do nuốm
nhụy trương to khi có ẩm độ.
2.4. Gió:
Cây hồ tiêu ưa thích môi trường lặng gió, hoặc gió nhẹ. Gió nóng, gió lạnh, bão đều
không hợp với cây hồ tiêu. Do vậy khi trồng tiêu tại những vùng có gió lớn, việc thiết lập các hệ
thống đai rừng chắn gió cho cây là điều kiện không thể thiếu được.
2.5. Đất đai:

- Đất trồng hồ tiêu: Cây hồ tiêu có thể trồng được trên nhiều loại đất khác
nhau, như đất đỏ bazan, đất sa phiến thạch, phù sa cổ, phù sa mới, dốc tụ, granit,
gnai.
Chọn đất trồng hồ tiêu cần chú ý các điểm sau: đât trồng hồ tiêu phải được
thoát nước tốt trong mùa mưa, tầng đất canh tác dày trên 70 cm, mạch nước ngầm
sâu trên 2 m. Đất giàu mùn, tơi xốp, thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình,
giàu chất dinh dưỡng, Độ pH từ 5,5-7, nếu đất chua phải dùng vôi bột để cải tạo,
Cây hồ tiêu có thể trồng được ở độ cao tới 1.500 m so với mặt biển, Nếu đất trồng
hồ tiêu xấu cần chú ý đến biện pháp thâm canh đào hố rộng và sâu, bón nhiều phân
hữu cơ. Nếu đất có độ dốc cao cần chú ý biện pháp giữ ẩm trong mùa khô, chống
sói mòn trong mùa mưa.
III. NHỮNG BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TÁC ĐỘNG GIAI ĐOẠN SAU THU HOẠCH ĐẾN
TẠO TRÁI NON: (Thời gian từ tháng 4-tháng 7)
1/. Vệ sinh đồng ruộng sau thu hoạch:
1.1. Cắt tỉa cành và tạo tán cho cây tiêu:
* Mục đích của việc cắt cành tạo hình:
+ Tạo cho cây tiêu có hình dáng thích hợp để sử dụng khoảng không gian hợp lý trên trụ
tiêu giúp cây quang hợp một cách tốt, sinh trưởng và phát triển tốt cho năng suất cao.
+ Loại bỏ cành già yếu, cành sâu bệnh, cành không cho quả, cành lươn.
+ Tạo độ thông thoáng cho vườn hạn chế được sâu bệnh gây hại.
+ Giúp cây tập trung dinh dưỡng nuôi quả và các cành hữu hiệu cho năm sau
+ Tiết kiệm được chi phí đầu tư.
* Kỹ thuật cắt:
- Sau khi thu hoạch tỉa bỏ tất cả các dây thân, dây lươn, cành quả mọc phía dưới gốc tiêu,
bảo đảm tán lá cách mặt đất 20 – 25 cm. Dây lươn chỉ giữ lại khi có nhu cầu nhân giống. Tỉa bỏ
các dây thân mọc ngoài bộ tán tiêu, dây thân mọc quá dài ở đỉnh trụ, cành yếu ớt, cành bị sâu
bệnh hại nặng.
- Hàng năm cắt tỉa cành 2-3 lần, chú ý cắt tỉa vào những ngày khô ráo, Sau khi cắt xong
mỗi trụ phải tiến hành khử trùng dụng cụ bằng nước vôi loảng 3-5% để tránh vi rus gây bệnh
xâm nhiễm từ cây này sang cây khác.
1.2. Vệ sinh đồng ruộng:


- Sau khi cắt tỉa, tạo hình xong cần thu gom dọn sạch tàn dư thực vật gồm những cành lá
rụng, những cây đã bị sâu bệnh hại chết và những cành lá cắt tỉa ở trên đem ra khỏi vườn tiêu
hủy. Đây là một công việc hết sức quan trọng nhằm hạn chế việc lây lan nguồn bệnh từ cây tiêu
này sang cây tiêu khác, từ khu vực này sang khu vực khác mà nông dân thường ít quan tâm;
- Rong tỉa cây che bóng và cây trụ sống, đai rừng chắn gió để tiêu có đầy đủ ánh sáng
thích hợp.
Đầu mùa mưa (tháng 5): Rong mạnh, chỉ để lại một cành nhỏ quang hợp hoặc có thể
chặt ngang ngọn đối với các loại cây có khả năng tái sinh mạnh như muồng đen, keo dậu. Chú ý
không để ngọn dây tiêu leo lên cây trụ sống đã hãm ngọn.
- Thường xuyên làm sạch cỏ cho vườn tiêu, nhổ cỏ quanh gốc bằng tay, hạn chế dùng
cuốc để làm cỏ, tránh làm tổn thương đến bộ rễ tiêu.
2/. Tưới nước , giữ ẩm và thoát nước:
2.1. Tưới nước, giữ ẩm:
* Mục đích của việc tưới nước và giữ ẩm:
- Tạo điều kiện thuận lợi cho cây hút dinh dưỡng tốt, hạn chế đất nứt nẻ ảnh hưởng đến
bộ rễ của cây tiêu.
- Tủ ẩm ở gốc hạn chế được cỏ dại, làm mát bộ phận rễ trong mùa khô giúp cây phát triển
tốt, hạn chế sự bốc hơi nước từ đó tiết kiệm nước tưới.
- Tưới nước đúng kỹ thuật sau khi thu hoạch giúp cây ra hoa nhiều, đồng loạt cho năng
suất cao.
* Kỹ thuật tưới nước và tủ gốc:
+ Nước tưới:
- Định mức nước tưới: từ 100-120 lít/hố, chu kỳ tưới từ 15-25 ngày tùy thuộc vào độ ẩm
của đất.
- Tưới vào mùa khô khi cây đang nuôi quả, sau khi thu hoạch xong ngừng tưới nước từ
40 – 45 ngày để cây có đủ thời gian phân hoá mầm hoa của vụ tới.
+ Tủ gốc:
Dùng rơm rạ hoặc các loại tàn dư thực vật khác như vỏ ngô, dây đậu, cỏ rác cây phân
xanh, đậu đỗ v.v… tủ xung quanh gốc tiêu vào mùa khô để giữ ẩm cho cây. Lượng vật liệu từ 5
– 10 kg khô/trụ. Các vật liệu tủ cách gốc dây tiêu 10 cm.
2.2. Thoát nước:
- Ngay từ đầu mùa mưa, vườn tiêu phải được thiết kế hệ thống thoát nước tốt, không cho
nước đọng ở gốc.
- Tùy thuộc vào địa hình của vườn tiêu, có thể tiến hành đào các rãnh, mương tiêu nước
phù hợp đảm bảo sao cho vườn tiêu không bị ngập úng ứ đọng nước.
3/. Bón phân:
3.1. Vai trò của một số loại phân đối với cây tiêu:
+ Phân đạm (N): Giúp tiêu sinh trưởng phát triển tốt, nhiều chồi, ra nhiều hoa, kích
thước trái to. Thiếu đạm, lá vàng cây cằn cỗi. Thừa đạm, lá nhiều, dễ nhiễm bệnh, ít trái.
+ Phân lân (P): Giúp bộ rễ phát riển tốt, hút được nhiều chất dinh dưỡng, chịu hạn tốt.
Thiếu lân, cây cằn cỗi ít đậu trái. Lân cần trong giai đoạn cây con và đầu thời kỳ ra hoa.
+ Phân kali (K): Giúp cây cứng, chống chịu sâu bệnh và thời tiết bất thường, tăng phẩm
chất hạt. Thiếu kali, cây khó hấp thu đạm, rụng hoa, cây cần kali trong giai đoạn cây non, hạt vào
chắc và chín.
+ Phân hữu cơ: Trong phân có đầy đủ khoáng đa, trung, vi lượng cần thiết cho cây sử
dụng, nếu không có phân hữu cơ, cần bổ sung phân vi lượng. Có thể thay thế phân hữu cơ truyền
thống (các loại phân chuồng) bằng phân hữu cơ sinh học.


+ Can xi (Ca): Can xi là nguyên tố trung lượng đóng vai trò rất quan trọng, đất được bổ
sung can xi, đặc biệt nếu đất bị chua khi bón bổ sung can xin năng suất vượt trội so với vườn
không được bón can xi. Thiếu ca xi cây cằn cỗi, đốt ngắn, lá non màu xanh nhợt, trên lá già, lá
bánh tẻ vết xanh vàng bắt đầu ở rìa lá phát triển về mũi lá, xuất hiện các mô chết dọc theo rìa lá
gây hiện tượng cháy mép lá. Bệnh nặng lá già rụng chỉ còn lá non trên cành.
Phòng trị: Bón vôi từ 700-1000kg/ha, hoặc có thể dùng lân văn điển bón sẽ bổ sung Ca
cho cây.
+ Kẽm (Zn): Kẽm là nguyên tố vi lượng, cũng giống như các nguyên tố vi lượng khác,
cây tiêu không cần nhiều kẽm nhưng thiếu kẽm cây bị bệnh thân không bám được vào trụ, đốt
ngắn, lá nhỏ dày lên, ngọn rụt lại. Trên lá bị bệnh có những vệt màu trắng bạc xen kẽ màu xanh
đậm. Triệu chứng cây thiếu kẽm dễ nhầm với cây bị vi rus gây ra. Nếu tiêu bị thiếu nhẹ có thể
dùng bón phân qua lá có chứa kẽm, nếu nặng phải dùng trực tiếp phân sun phát kẽm (ZnSO4)
phun 2-3 lần cách nhau 10-15 ngày.
+ Manhe (Mg): Thiếu Mg rất phổ biến trên cây tiêu, triệu chứng thường xuất hiện trên lá
bánh tẻ, lá già. Lá bị bệnh có màu vàng ở gân lá kèm theo mảng mô màu xanh chạy dọc theo
chiều dài của gân lá, cây bị nặng dải màu xanh hẹp hơn cây bị nhẹ, nếu để lâu không khắc phục
kịp thời cây sẽ bị rụng lá và quả.
Phòng trị: Cần bón phân tổng hợp TE (N:P:K:Mg), phun Manhe sun phát MgSO4.
3.2. Định mức phân bón:
Tùy thuộc vào năng suất và tính chất thổ nhưỡng của đất mà điều chỉnh định mức phân
bón cho vườn tiêu phù hợp.
Định mức phân bón bình quân cho 1ha (2000 trụ): Áp dụng theo định mức kinh tế kỹ
thuật sản xuất cây hồ tiêu kinh doanh của UBND tỉnh Gia Lai và quy trình đầu tư thực tế tại địa
phương, trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành điều chỉnh quy trình bón phân áp dụng cho những
vườn tiêu có năng suất ở mức trung bình (khoảng 04 tấn/ha) như sau .
Phân hữu cơ : 30 tấn/ha thay bằng 6 tấn phân hữu cơ vi sinh.
Vôi: 600 kg/ha
Phân Lân: 1000kg
Phân Urê: 800kg
Phân Kali 600 kg
Phân SA 300 phân SA
Lưu ý: Trong trường hợp nông dân chủ động được nguồn phân hữu cơ (phân bò) hoai mục thì
vẫn bón bình thường như quy trình chung, chỉ bổ sung khoảng 02 tấn phân hữu cơ vi sinh, không
nhất thiết phải thay toàn bộ phân chuồng bằng phân vi sinh như trên. Hiện nay trên thị trường có
rất nhiều loại phân hỗn hợp, phân phức hợp đã qua công đoạn chế biến áp dụng riêng cho từng
loại cây trồng như NPK đầu trâu 15-10-1ùng cho tiêu..v.v.., nông dân có thể nhờ cán bộ kỹ thuật
tư vấn để chuyển đổi cho dễ sử dụng.
3.3. Thời kỳ bón:
Với lượng phân trên được chia ra 4 lần bón trong 1 năm: Riêng trong giai đoạn này
bón 02 lần cụ thể:
Lần 1 (Tháng 4-5): Sau khi hái quả xong bón toàn bộ phân hữu cơ và phân lân + ¼ Đạm
(100g/gốc) + 1/4 Kali (75g/gốc) + 1/3 SA (50g/gốc)
Lần 2 (Tháng 7): Khi hoa đã nở cơ bản: 1/4 Đạm (100g/gốc)+ 1/4 Kali (75g/gốc)
3.3. Cách bón:
- Phân chuồng được ủ với nấm Trichoderma hoai mục bón hàng năm. Thời gian bón đầu
mùa mưa, đào rãnh quanh hố tiêu, mép rãnh cách mép tán tiêu từ 15 – 20 cm, sâu 5 – 10 cm để bón
phân chuồng, bón xong lấp đất lại.


- Khi đào rãnh bón phân, hạn chế đến mức thấp nhất làm tổn thương bộ rễ.
- Phân hữu cơ vi sinh nên bón vào mùa mưa khi đất đủ ẩm, cách bón như bón phân
chuồng.
Lưu ý: Tùy theo thực tế ở mỗi vườn tiêu, nếu bồn tiêu hơi âm so với mặt đất thì không
nhất thiết phải đào rãnh như trên mà rải phân hữu cơ, hữu cơ vi sinh ngay trên mặt hố sau đó
dùng bẫn, rác che phủ lại để tránh mất phân đồng thời sẽ hạn chế việc đụng chạm gây tổn thương
cho rễ tiêu.
- Khi bón vôi cho vườn tiêu bằng cách tung đều trên mặt đất, chiếu theo tán tiêu trở ra
hoặc ủ chung với phân chuồng rồi đem bón.
- Hằng năm, phun từ 2 – 3 đợt phân bón lá, mỗi lần cách nhau từ 2 – 3 tháng để bổ sung
thêm các chất vi lượng cho tiêu. Sau khi tiêu ra hoa, kết trái đều nên phun các loại phân bón lá có
chứa vi lượng như; Zn (kẽm), B (Bo), Mo (Molip đen)… để ngăn ngừa rụng quả, cách phun theo
hướng dẫn trên bao bì của nhà sản xuất.
- Bón phân vô cơ: Khi bón phân phải rạch rãnh theo mép ngoài tán tiêu (cần quan sát
không đụng vào rễ tiêu ) sâu 5 – 10 cm, rộng 10 – 20 cm, bón phân rồi lấp đất lại. Vào mùa khô
hoặc trong mùa mưa nhưng bón phân gặp nắng thì khi bón phân xong phải tưới đẫm nước.
- Bón phân Urê, kaly cùng một lúc. Đối với phân lân nên bón riêng trước hoặc sau bón
phân đạm từ 5 – 10 ngày, rải đều trên mặt đất không cần rạch rãnh.
Lưu ý: Phân vô cơ cũng có thể áp dụng cách bón rải đều trên mặt bồn kết hợp khi trời
mưa nhỏ để tránh bị nước mưa rửa trôi hoặc bón khi trời không mưa thì tưới ngay để phân tan và
thấm sâu xuống đất, không để cho phân bay hơi.
4. Phòng trừ sâu bệnh hại:
4.1. Biện pháp phòng ngừa sự nhiễm sâu bệnh:
- Phương pháp phòng ngừa phải được thực hiện nghiêm túc khi tác động trực tiếp vào
những cây tiêu đã bị nhiễm bệnh như bệnh xoăn lá, bệnh thối rễ, bệnh thối gốc, bệnh héo chết,
…. Các dụng cục đã dùng như kéo cắt, dao, xẻng , cuốc…đều được rửa sạch sẽ và khử trùng
bằng cách ngâm vào nước vôi trong 5% ít nhất 15 phút trước khi dùng tiếp cho những cây khác,
hoặc dụng cụ dùng để làm ở vườn đang bị nhiễm bệnh không nên dùng cho các vườn khác.
- Hạn chế sự di chuyển của người làm vườn từ vườn bị bệnh sang vườn không bị bệnh.
4.2. Các biện pháp phòng trừ sâu bệnh tổng hợp:
Các loại sâu bệnh gây hại các bộ phận dưới mặt đất đối với cây tiêu rất khó chữa trị, do
tiêu có bộ rễ rất nhạy cảm khi bị sâu bệnh tấn công, vì vậy để quản lý sâu bệnh hại trong vườn
tiêu có hiệu quả cần áp dụng tổng hợp các biện pháp, thực hiện phương châm “phòng là chính,
trừ phải kịp thời và hiệu quả”.
* Biện pháp canh tác bao gồm:
Thực hiện đầy đủ các công việc chăm sóc như bón phân cân đối, hợp lý, đúng thời điểm,
đúng cách, đúng hàm lượng. Tưới đủ lượng nước cho hồ tiêu vào mùa khô, đặc biệt phải thoát
nước tốt cho vườn tiêu trong mùa mưa, quản lý tốt cỏ dại, hạn chế cuốc-xới trong khu vực rễ tiêu
làm tổn thương bộ rễ. Rong tỉa cây che bóng, cây chắn gió trong mùa mưa,
* Biện pháp cơ lý bao gồm:
Cắt tỉa lá già, cành tăm, cành sâu bệnh, bắt diệt sâu khi thấy mới xuất hiện, thường xuyên
vệ sinh tiêu hủy tàn dư làm cho vườn tiêu thông thoáng, đủ ánh sáng…
(các biện pháp canh tác, cơ lý cụ thể đã nêu ở mục 1; 2; 3)
* Thường xuyên giám sát sâu bệnh và thiên địch để đưa ra quyết định xử lý kịp
thời, phù hợp.
Thường xuyên kiểm tra vườn tiêu để nắm bắt diễn biến phát sinh-phát triển của sâu bệnh
cũng như thiên địch.


* Biện pháp sinh học: Đây là biện pháp được ưu tiên hàng đầu trong việc áp dụng phòng
ngừa sâu bệnh hại tiêu.
- Duy trì môi trường thuận lợi tạo điều kiện cho các loài sinh vật có ích phát triển khống
chế dịch hại, tăng cường bón phân hữu cơ, bón phân hóa học cân đối hợp lý, hạn chế sử dụng các
loại hóa chất nông nghiệp….
- Sử dụng các chế phẩm sinh học để phòng trừ sâu bệnh như Trichoderma,
- Đảm bảo mối cân bằng sinh học trong tự nhiên: Không nên cố gắng tiêu diệt hết các
loài dịch hại vì khi dùng thuốc hóa học tiêu diệt dịch hại thì các loài thiên địch, vi sinh vật có ích
cũng sẽ bị tiêu diệt, trong khi vòng đời của thiên địch thường dài hơn vòng đời của sâu hại nên
dễ gây sự bùng phát của dịch hại làm phá vỡ sự cân bằng sinh thái trên đồng ruộng.
* Biện pháp hóa học:
Biện pháp hóa học chỉ áp dụng khi thật cần thiết trong trường hợp áp dụng các biện pháp
khác không khống chế được sâu bệnh hại. Nghiêm chỉnh chấp hành sử dụng thuốc theo nguyên
tắc 4 đúng , lựa chọn các loại thuốc ít độc hại phân hủy nhanh để sử dụng.
4.3. Một số đối tượng sâu bệnh hại chính và biện pháp phòng trừ ở giai đoạn này:
4.3.1 Rệp sáp giả: (Pseudococcus sp; Pseudococcidae- Homoptera):
Đến nay theo tài liệu của Cục BVTV công bố đã phát hiện một số loài rệp sáp giả sau:
- Rệp sáp giả 1 cặp đuôi ngắn - Pseudococcus sp.1.
- Rệp sáp giả 1 cặp đuôi dài - Pseudococcus sp.2.
- Rệp sáp giả 2 cặp đuôi dài - Pseudococcus sp.3.
- Rệp sáp giả 4 cặp đuôi dài - Pseudococcus sp.4.
a. Triệu chứng và tác hại:
Trên cây hồ tiêu, rệp thường bám vào các gié hoa, gié quả, kẽ cành hoặc mặt dưới lá; bộ
phận dưới mặt đất của cây chúng thường bám vào cổ rễ, rễ cây để gây hại. Rệp hút nhựa cây làm
cho lá, hoa, quả héo khô. Nếu rệp phát triển với mật độ cao làm cho cây hồ tiêu cằn cỗi khô héo
giống như cây bị hạn hán. Các bộ phận dưới mặt đất, rệp chích hút dịch từ cổ rễ, rễ và gốc cây số
lượng rệp hại có thể từ vài chục con tới hàng ngàn con. Khi rệp phá hại lâu ngày ở rễ chúng còn
cộng sinh với nấm Bornetina sp ở trong đất. Sợi nấm kết thành lớp dày như một cái ống màu
trắng ngà bao quanh rễ, bên trong ống rất nhiều rệp sinh sống. Thuốc trừ sâu rất khó đi qua ống
sợi nấm này để tiếp súc với rệp. Khi rễ bị hại nặng, tán lá cây căn cỗi, ra hoa đậu quả kém, quả
nhỏ héo dần vì bộ rễ không có khả năng hút nước và các chất dinh dưỡng cung cấp cho cây.
những cây hồ tiêu bị rệp gây hại nặng thường có các loại nấm bệnh xâm nhập và gây hại theo.
b. Đặc điểm hình thái:
- Rệp sáp giả 1 cặp đuôi ngắn (Pseudococcus sp.1) là loại côn trùng có kích thước nhỏ,
hình bầu dục, dài từ 2,5-4,5 mm , bề ngang từ 2-3 mm. Cơ thể rệp màu hồng nhạt, bên ngoài được bao phủ lớp bột sáp trắng, phấn lưng nổi dạng hình mui rùa. Xung quanh rìa cơ thể có 18 đôi
tua sáp trắng dài gần bằng nhau. Phần bụng của ngực có 3 đôi chân dài và khá linh hoạt. Con cái
đẻ trứng thành bọc, bên ngoài bao phủ lớp sáp trắng, bên trong bọc hàng trăm quả trứng, trứng
có dạng hình cầu hoặc gần hình cầu, trứng trong, màu nâu hay nâu hồng. Rệp non mới nở có
màu vàng hồng, hình bầu dục, di chuyển nhanh. Vài ngày sau trên mình xuất hiện lớp sáp bột
trắng và bắt đầu có tua sáp ở đuôi, Rệp càng lớn mức độ di chuyển càng ít dần.
- Rệp sáp giả 1 cặp đuôi dài (Pseudococcus sp.2), hình dạng, màu sắc, kích thước giống
rệp sáp giả 1 cặp đuôi ngắn nhưng các tua xung quanh cơ thể dài hơn và đặc biệt đôi tua sáp thứ
17 dài gần bằng 1/2 chiều dài cơ thể.
- Rệp sáp giả 2 cặp đuôi dài (Pseudococcus sp.3), hình dạng, màu sắc, kích thước giống
rệp sáp giả 01cặp đuôi dài nhưng cặp tua sáp thứ 17 dài hơn1/2 chiều dài cơ thể, cặp thứ 18 dài
gần bằng 1/2 chiều dài cơ thể.


- Rệp sáp giả 4 cặp đuôi dài (Pseudococcus sp.4): Các tua sáp xung quanh cơ thể đều dài,
riêng 4 cặp tua sáp cuối bụng dài hơn bình thường.
- Rệp sáp giả vằn (Ferrisia virgata CKII): đây là loài rệp sáp giả có kích thước cơ thể lớn
hơn các loài rệp sáp giả nêu trên. Cơ thể hình ô van dài, xung quanh cơ thể không có các tua sáp,
riêng cuối bụng có cặp tua sáp vừa to vừa dài, giữa lưng có một vệt dọc
c. Đặc điểm sinh học:
Rệp sáp giả là loài sâu hại đa thực sống thành bày bám chặt vào các bộ phận cây, gây hại
nhiều loại cây trồng.
Rệp sáp thuộc dạng biến thái không hoàn toàn, Rệp non có 3 tuổi, nhiệt độ phát triển
thích hợp từ 27,5-28,5oC , ẩm độ 80% , vòng đời từ 35-40 ngày.
Trong quá trình sống rệp thường sống cộng sinh với kiến, rệp tiết ra các chất mật cho
kiến ăn, kiến bảo vệ chăm sóc rệp và vận chuyển rệp đến nơi có nhiều chất dinh dưỡng hơn để
sinh sống. Sau một thời gian rệp hại thường thấy nấm bồ hóng đen phát triển do có chất mật do
rệp tiết ra.
d. Biện pháp phòng trừ:
- Phải thường xuyên điều tra phát hiện, theo dõi diễn biến của rệp trên các khu vực trồng
hồ tiêu (trên cây và dưới gốc, rễ) đặc biệt là mùa khô (có thể qua đường đi của kiến).
- Không được để cỏ dại xâm lấn cây hồ tiêu, không xới xáo đất ở vùng rễ làm đứt rễ cây.
Cắt bỏ các cành dưới gốc sát mặt đất, tỉa tạo tán cho hồ tiêu không để cành quá dày, đảm bảo
thông thoáng gốc và trong tán cây.
- Bón phân cho cây hồ tiêu kịp thời, đủ về lượng, cân đối theo quy trình, đặc biệt là phân
hữu cơ.
- Khi phát hiện thấy các ổ rệp đang phát triển, nhất là trong mùa khô cần phải xử lý thuốc
phòng trừ rệp kịp thời.
+ Đối với rệp sáp giả gây hại các bộ phận của cây trên mặt đất, sử dụng các thuốc trừ
sâu phun ướt đều trên thân, cành, mặt sau lá, chùm quả cây hồ tiêu, hướng pet phun để thuốc tiếp
xúc được với rệp thì hiệu quả sẽ đạt cao. Có thể sử dụng một trong các loại thuốc trừ sâu như
Bemetent WP, DP; Confidor 100 SL pha nồng độ 0,1% + 0,2% dầu khoáng (SK hay DC – Tron
plus,…); Suprathion 40ND pha nồng độ 0,1-0,15% hoặc Pegasus 500 SC pha nồng độ 0,1%. Sau
khi phun thuốc phải đảm bảo thời gian cách ly trước khi thu hoạch.
+ Đối với rệp sáp giả gây hại các bộ phận cây hồ tiêu dưới mặt đất (gốc, rễ), sử dụng các
thuốc trừ sâu dạng bột như Diaphos 10 H; Oncol 25 WP;…rắc xung quang gốc với lượng 15-20
g/nọc (gốc) và phủ lớp đất mỏng. Nếu không có thuốc trừ sâu bột, có thể sử dụng các thuốc như
đối với trừ rệp hại các bộ phận trên mặt đất như đã nêu trên và tưới vào vùng gốc, rễ cây với
lượng 2-3 lít dung dịch nước thuốc đã pha/nọc.
4.3.2. Bọ xít lưới (rầy thánh giá) hại tiêu:
Tên khoa học: Elasmognathus nepalensis
a. Triệu chứng và tác hại:
Chúng chích hút lá non, gié bong, quả non làm cho bông rụng hàng loạt, giảm tỷ lệ đậu
trái của cây. Mức độ rụng hoa quả phụ thuộc vào mật độ của bọ
xít lưới trên cây.
b. Đặc điểm hình thái:
Con trưởng thành của bọ xít lưới màu đen cơ thể nhỏ kích thước khoảng 7mm x15mm,
cánh dài quá bụng mảnh lưng ngực trước kéo dài ra hai bên và phình tròn trông giống như thánh
giá. Phần cứng và phần mềm của cánh không phân biệt rõ. Toàn bộ phần lưng và phần cánh có
cấu tạo như lưới. Vòi chích hút nằm giữa sát giữa đầu ngực.
c. Đặc điểm sinh học:


Bọ xít lưới thường xuất hiện và gây hại thời kỳ cây tiêu ra bông và chớm có trái
non. Bọ xít có thể sống ở cỏ hoặc ẩn nấp dưới lá tiêu. Bọ xít xuất hiện nhiều vào đầu mùa mưa
lúc cây tiêu đang ra hoa và quả non. Vòng đời của Bọ xít lưới từ 15-25 ngày.
2.4.Biện pháp phòng trừ:
Dọn sạch cỏ dại trong vườn tiêu và xung quanh. Trồng tiêu với mật độ thích hợp
với mật độ thông thoáng. Khi bọ xít xuất hiện có thể dùng các thuốc như Sherpa 25EC, Subatox
75 EC,… phun theo nồng độ khuyến cáo. Chú ý phun kỹ vào mặt dưới lá của cây.
4.3.3. Bệnh thán thư: (Collectotrichum gloeosporioides)
a. Triệu chứng và tác hại:

Trên lá: vết bệnh đầu tiên là các đốm màu vàng nhạt, sau đó vết bệnh hoá
nâu và đen dần. Vết bệnh thường lõm, không đều nhau, đường kính vết bệnh
thường khoảng 4-5 cm. Bệnh thường xâm nhiễm và gây hại ở mép và chóp lá. Khi
già vết bệnh có quầng đen rộng bao quanh phân cách rõ rệt giữa mô khoẻ và mô
bệnh. Trên mặt vết bệnh thường xuất hiện các chấm, đám đen bẩn đó là các ổ bào
tử nấm.
Trên hoa: bệnh làm cho hoa bị khô đen. Khi quả mới hình thành bệnh làm cho quả non bị
khô đen, đối với quả lớn bệnh gây đen từng đám trên quả và hạt lép thối.
Trên thân cành non: bệnh làm cho thân cành bị nâu đen xám từng vệt, từng đám hoặc toàn
bộ, cành bị rụng tại các đốt hoặc khô từ đầu thân cành trở vào.
b. Điều kiện phát sinh của bệnh:
Bệnh phát sinh trong điều kiện mưa nhiều có nhiệt độ và độ ẩm cao. Đây là bệnh hại phổ
biến trên cây hồ tiêu ở tất cả các vùng trồng hồ tiêu. Bệnh có thể xuất hiện gây hại ở hom hồ tiêu
giống, cây con mới trồng, cây đang cho thu hoạch. Những vườn hồ tiêu chăm sóc kém, để khô
hạn, bón phân không đầy đủ và không cân đối nhất là bón phân đạm nhiều càng bị bệnh gây hại
nặng.
c. Biện pháp phòng trừ:
- Chăm sóc và bón đầy đủ phân hữu cơ hoai mục và bón cân đối các loại phân vô cơ, đặc
biệt chú ý đến đợt bón phân sau khi thu hoạch quả.
- Thoát nước tốt cho vườn hồ tiêu trong mùa mưa và tưới đủ ẩm cho vườn hồ tiêu trong
mùa khô.
- Cắt tỉa các nhánh hồ tiêu ở sát mặt đất, bấm ngọn cho hồ tiêu phân cành đều. Thu dọn
sạch các tàn dư lá, cành bị bệnh đưa ra xa vườn cây để tiêu hủy.
- Khi thấy bệnh xuất hiện gây hại khoảng 5% số lá, cành trở lên, cần phải phun thuốc trừ
bệnh. Có thể sử dụng các thuốc trừ bệnh như Tilt super 300 EC, Bordeaux 1%, Viben C 50 WP,
Scor 250 EC..., phun 2-3 lần cách nhau 10-15 ngày.
4.3.4. Bệnh đen lá: (Lasiodiplodia theobromae)
a. Triệu chứng và tác hại:
Trên lá lúc đầu vết bệnh là các đốm vàng nhạt, lớn dần và chuyển thành màu đen. Vết
bệnh có thể nằm ở mép, đầu lá nhưng cũng có thể nằm giữa phiến lá và vết bệnh có thể phát triển
tới 1/4 chiều dài của lá. Khi vết bệnh đã già màu sắc vết bệnh bạc đi và có thể có các quầng đồng
tâm, xung quanh vết bệnh không có quầng đen. Cần chú ý các đặc điểm này để không bị lầm lẫn
với bệnh thán thư.
Trên thân, cành, vết bệnh lúc đầu là các đốm vàng xám, bệnh phát triển làm cho các đốt
thân, cành chuyển màu đen, rụng dần tại các đốt từ ngọn trở xuống làm cho cây tiêu xơ xác.
b. Điều kiện phát sinh của bệnh:


Nấm phát sinh gây hại cây tiêu cả mùa mưa lẫn mùa khô, nhưng bệnh đặc biệt phát triển
gây hại mạnh trong mùa mưa, sau những đợt mưa dài ngày liên tục, ẩm độ cao, kèm theo thời tiết
nóng bức, bộ rễ cây hồ tiêu ít nhiều trong trạng thái úng nước.
Trong mùa khô bệnh tiến triển chậm, tỷ lệ lá bị nhiễm bệnh thấp hơn nhiều so với mùa
mưa.
Những vườn hồ tiêu chăm sóc kém, không thoát nước tốt trong mùa mưa hoặc để bị khô
hạn trong mùa khô, cây sinh trưởng yếu càng bị bệnh gây hại nhiều có thể tới 20-30% số lá.
c. Biện pháp phòng trừ:
- Chăm sóc, bón đầy đủ phân hữu cơ hoai mục và bón cân đối các loại phân khoáng vô
cơ, đặc biệt chú ý đợt bón sau thu hoạch quả.
- Thoát nước tốt cho vườn hồ tiêu vào mùa mưa và tưới đủ ẩm cho hồ tiêu trong mùa khô.
- Cắt tỉa các nhánh cành ở sát mặt đất, bấm ngọn cho cây hồ tiêu phân cành đều.
- Thu dọn sạch các tàn dư lá, bộ phận cây bị bệnh đưa ra xa vườn để tiêu huỷ.
- Khi bệnh xuất hiện gây hại khoảng 10% số lá, 5% số cành trở lên, sử dụng các loại
thuốc trừ bệnh cây để phun như thuốc Tilt super 300 EC, Ridomil MZ 72, Viben C 50 BTN,
Aliette 80Wp..., có thể phun 1-3 lần tuỳ tình hình bệnh hại trên vườn, các lần cách nhau 10-15
ngày.
4.2.5. Tuyến trùng hại rễ hồ tiêu:
Tuyến trùng u bưú: Meloidogyne incognita
a. Triệu chứng và đặc điểm gây hại:
Ban đầu cây sinh trưởng, phát triển chậm các lá già thường bị vàng sau đó bị rụng. Cây ra
hoa và đậu quả kém dẫn đến năng suất và chất lượng bị giảm sút
Hệ thống rễ của cây tiêu phát triển kém, đầu rễ bị thối, rễ có những nốt sần kích thước từ
vài mm đến hơn 1cm . Những nốt sần này có thể phát triển riêng lẽ tạo thành chuỗi hoặc liên kết
tạo thành nốt u sưng lớn. Sau một thời gian các u sưng này bị thối và vỡ ra.
Những vết thương do các loài tuyến trùng gây ra trên rễ đã tạo điều kiện cho các nấm
bệnh xâm nhiễm gây hại tiếp theo làm chết cây.
Ở các vườn bón nhiều phân hữu cơ nếu kết hợp thêm nấm đối kháng Trichoderma thì
tuyến trùng gây hại nhẹ hơn.
Vùng đất dí chặt thường bị tuyến trùng gây hại nặng.
b. Biện pháp phòng trừ:
- Biện pháp canh tác:
+ Bón phân đầy đủ, cân đối giúp cho cây hồ tiêu sinh trưởng tốt sẽ tăng khả năng chống
chịu sự gây hại của tuyến trùng cũng như các bệnh hại khác.
Chú ý bón phân hữu cơ đã ủ hoai mục sẽ tăng số lượng và sự hoạt động của các loài vi
sinh vật có ích cạnh tranh, hạn chế và tiêu diệt các loài tuyến trùng gây hại
+ Trong khi làm đất trồng hồ tiêu cũng như quá trình chăm sóc hồ tiêu, cần chú ý dọn
sạch cỏ rác, phơi đất ải, tưới nước đủ ẩm cho cây, thu dọn hết tàn dư gốc rễ các cây đã bị bệnh
tuyến trùng mang ra xa vườn cây để đốt tiêu hủy và xử lý đất nơi đã bị bệnh trước khi trồng hồ
tiêu trở lại.
- Biện pháp hoá học: Khi tiêu đã bị bệnh tuyến trùng gây hại, có thể sử dụng các loại
thuốc hoá học như Maplogic 90 WP với lượng 15 kg/ha rải xung quanh vùng rễh, Mocap 10 G
với lượng 10-20 g/nọc xới nhẹ quanh gốc và tạo rãnh nhỏ rộng 10 cm, sâu 5 cm, cách gốc 30-50
cm, quanh gốc hồ tiêu để rắc thuốc hoặc tưới 3-5 lít nước thuốc/nọc và lấp đất lại. Hoặc dùng
dung dich thuốc Marshal 200SC nồng độ 0,3% tưới 3-4 lít /gốc. Xử lý thuốc từ 2-3 lần/năm
trong mùa mưa.
Chú ý xử lý thuốc trong điều kiện đất phải có độ ẩm cao.




Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×