Tải bản đầy đủ

2 NNTLY5

PHCN trong bệnh lý ngôn ngữ và lời nói
PGSTS. Vũ Thị Bích Hạnh
Mục tiêu: sau khi học bài này, học viên có khả năng:
1. Trình bày được khái niệm về giao tiếp và các hình thức giao tiếp
2. Kể lại được các phạm vi của ngôn ngữ trị liệu
3. Phát hiện được người có khó khăn về nghe- nói
4. Nêu được nguyên tắc PHCN cho một số dạng có khó khăn về giao tiếp. (3T)
Ngôn ngữ trị liệu là một chuyên ngành trong phục hồi chức năng, nó nghiên
cứu và giải quyết các bệnh lý gây khó khăn về giao tiếp.
1. Một số khái niệm về giao tiếp:
Giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin, nhu cầu, tình cảm giữa ít nhất hai đối
tượng, nhờ các hình thức khác nhau của ngôn ngữ.
Quá trình này mang tính hai chiều: vai trò gửi và nhận thông tin được luân
chuyển giữa các đối tượng giao tiếp, một người là người gửi thông điệp - hay là
người khởi xướng, còn người kia đáp ứng- hay là người nhận thông điệp. Không
thể có giao tiếp tốt nếu không có sự luân phiên vai trò này. Quá trình này có thể
được mô tả bằng sơ đồ sau:








Phương tiện để truyền đạt thông điệp chính là ngôn ngữ. Ngôn ngữ là một
hệ thống tín hiệu được mã hoá một cách võ đoán, được một cộng đồng chấp nhận
và sử dụng. Ngôn ngữ là sản phẩm của quá trình tư duy, nhờ hoạt động của não.
Người ta giao tiếp bằng các hình thức khác nhau của ngôn ngữ: có lời và không
lời. Đối với một người bình thường, lời nói là hình thức được sử dụng nhiều và dễ
dàng nhất. Nhưng người có khó khăn về giao tiếp lại phải dùng nhiều hình thức
giao tiếp khác nhau nhằm đạt được hiệu quả mong muốn, đặc biệt những người
không thể dùng lời nói để giao tiếp (người bị câm điếc). Các hình thức giao tiếp có
thể biểu diễn tóm tắt ở sơ đồ dưới đây:




Các hình thức giao tiếp

Lời nói

Dấu, chữ cái
ngón tay

NN cơ thể:
Ánh mắt,nét
mặt, giọng nói
Chữ viết

Hình ve

Sơ đồ 1. Các hình thức giao tiếp
Ngôn ngữ có lời gồm: lời nói và chữ viết. Ngôn ngữ không lời gồm ngôn ngữ
cơ thể (giao tiếp bằng nét mặt, ánh mắt, tư thế cơ thể, giọng nói), dấu và hình vẽ.
Qua ánh mắt, nét mặt, cử chỉ, giọng nói của người đối thoại, ta có thể đoán được
nhiều điều: tâm trạng, sự chân thành, hứng thú giao tiếp.. mặc dù điều đó không
được nói ra.
Dùng dấu để giao tiếp gồm các kỹ năng: ra hiệu bằng những cử động của tay
thông thường (ví dụ: “ra đây!”, “ngồi xuống!”hoặc “yên lặng!”). Những cử chỉ này
không cần quy ước, mọi người đều hiểu và sử dụng được. Nhưng ở trong những
trường, lớp đặc biệt, trẻ câm điếc được dạy một hệ thống dấu khác, được quy


ước và sử dụng chung. Hệ thống dấu này được chia thành những bộ dấu theo các
chủ đề như: các đại từ nhân xưng (bố, mẹ, anh chị, em..); danh từ chỉ vật, từ hành
động... Những nhược điểm của hệ thống dấu này được hoàn chỉnh nhờ bộ dấu
chữ cái ngón tay. Mỗi chữ cái trong bảng an-pha-bê của tiếng Việt, các thanh điệu
và số được mã hoá thành những tư thế khác nhau của ngón tay, bàn tay. Nhờ nó
mà người câm điếc có thể giao tiếp về mọi chủ đề phức tạp nhất.
2. Nguyên nhân gây khó khăn về giao tiếp: có 3 nhóm
2.1. Trước khi sinh:
Dị dạng tai, khiếm khuyết vành tai


Dị dạng miệng (khe hở vòm miệng)
Mẹ ốm trong khi mang thai (rubeon, tiêm chủng)
Dinh dưỡng mẹ- thai nhi (thiếu iot khiến trẻ bị chậm phát triển trí tuệ)
2.2.

Trong khi sinh
Đẻ non, chấn thương não do can thiệp sản khoa (bại não)

2.3.

Sau khi sinh:
Bệnh nhiễm trùng: viêm màng não mủ, sởi, quai bị, viêm não gây các di
chứng não, chậm phát triển trí tuệ và tổn thương thính giác.
Do thuốc (streptomycin, gentamycine, quinin..) gây điếc
Lão hoá: tuổi tác đi kèm với thoái hoá thần kinh thính giác gây nghe kém
Môi trường ồn: gây điếc do môi trường làm việc.

3. Phát hiện người có KK về giao tiếp :
Những người có khó khăn về giao tiếp có thể thể hiện một số dấu hiệu như:
-

Không nghe thấy / không hiểu hoặc hiểu kém những điều mọi người xung
quanh nói

-

Không nói được hoặc nói không rõ giống những người cùng tuổi ở cộng
đồng, khiến mọi người xung quanh khó hiểu

-

Người thu mình lại không giao tiếp

* Cách kiểm tra khả năng nghe:
Trẻ dưới 6 tháng: để trẻ nằm ngửa trên bàn, đứng phía đầu trẻ, cách nửa
mét và vỗ tay hoặc dùng xúc xắc phát ra tiếng động. Nếu nghe thấy, trẻ sẽ quay
đầu về nơi phát ra tiếng động.
Trẻ từ 6 tháng- 3 tuổi: để trẻ ngồi quay mặt về phía mẹ. Người khám đứng
sau lưng trẻ cách 3m, vỗ tay hoặc gọi tên trẻ, xem trẻ có quay lại hay không.
Trẻ trên 3 tuổi và người lớn: đứng sau lưng người bệnh 3m, nói bình
thường, yêu cầu họ thực hiện mệnh lệnh. Ví dụ: “giơ tay phải lên”, “giơ 3 ngón tay
trái lên...”. Xem họ thực hiện có đúng không.


Khi có nghi ngờ người bị nghe kém, hãy gửi họ đi khám chuyên khoa Tai
mũi họng để kiểm tra và đo thính lực. Hãy kiểm tra tai trẻ để phát hiện có chảy mủ
tai hay không và cho điều trị viêm tai giữa nếu có.


Kiểm tra khả năng hiểu:

Yêu cầu trẻ hoặc bệnh nhân thực hiện một số mệnh lệnh; VD: “hãy đưa chìa khóa
cho tôi và đặt cái thìa lên bàn!”. “Hãy rót nước và để cốc lên ghế!”.... Nếu trẻ/ BN
làm đúng các mệnh lệnh đó, có nghĩa là họ hiểu những điều chúng ta nói.


Kiểm tra khả năng nói:

Hãy nói chuyện tự nhiên với trẻ/ BN. Hãy đặt một số câu hỏi về cá nhân, công việc
của họ, tinh hình sức khỏe, gia đình họ. Nếu họ nói chuyện tự nhiên dễ dàng
giống như mọi người cùng tuổi khác, có nghĩa họ không có khó khăn về nói hoặc
phát âm.
Nếu thấy BN hoặc trẻ có khó khăn về nghe, về hiểu và làm theo các mệnh lệnh
hoặc nói kém, cần cho trẻ hoặc BN khám tai mũi họng, đo thính lực và khám
chuyên khoa Ngôn ngữ trị liệu.
4. Nguyên tắc can thiệp ngôn ngữ trị liệu
Nguyên tắc 3 T: nội dung của nó là những người xung quanh cần thay đổi cách
giao tiếp của mình để người tàn tật có thể hiểu và học được ngôn ngữ dễ hơn khi
giao tiếp với họ.
T1 - Theo ý thích của trẻ: để trẻ tập trung lâu hơn và nhớ lâu hơn
Bằng cách:

Chờ đợi quan sát và lắng nghe xem trẻ thích gì, quan tâm đến điều

gì. Bằng cách chờ đợi, trẻ sẽ tự khởi xướng và chủ động giao tiếp .
T2 - Thích ứng với trẻ: người lớn thay đổi cách giao tiếp của mình cho phù hợp
với trẻ tàn tật
Bằng cách:
+ Mặt ngang mặt để trẻ nhìn miệng người nói, trẻ sẽ quan sát nét mặt ánh mắt của
người đối thoại và hiểu người khác nói gì.
+ Nói chậm, câu ngắn, từ đơn giản, kết hợp với dùng dấu, cử chỉ điệu bộ và kỹ
năng không lời khác để trẻ dễ hiểu hơn.
+ Giao tiếp có lần có lượt, không tranh lượt chơi hoặc lượt nói của trẻ.


T3 - Thêm từ mới và thông tin mới khi giao tiếp với trẻ
Bằng cách:

Nói về mọi vật, sự việc đang diễn ra quanh trẻ.
Tưởng tượng và nói về các việc đã đang và sẽ xảy ra.
Nhắc đi nhắc lại nhưng từ đã học.

Bằng những kỹ năng này, trẻ sẽ có nhiều cơ hội hơn, và được khuyến khích giao
tiếp. Mục đích giao tiếp với trẻ là hội thoại càng kéo dài càng tốt và trẻ bị cuốn hút,
tham gia giao tiếp một cách chủ động và hào hứng.
5. Phạm vi can thiệp của ngôn ngữ trị liệu: Bệnh lý về giao tiếp
5.1. Bệnh lý ngôn ngữ:
5.1.1. Thất ngôn
Là tình trạng mất khả năng hiểu và tạo các tín hiệu ngôn ngữ do tổn thương
não; gồm các khả năng ngôn ngữ như: hiểu lời nói, hiểu chữ viết (đọc hiểu), biểu
đạt bằng lời nói và biểu đạt bằng chữ viết. 85% các trường hợp thất ngôn là do
tai biến mạch não bán cầu trái. Có nhiểu thể thất ngôn, nhưng có thể phân ra
những nhóm như: rối loạn khả năng hiểu, rối loạn khả năng diễn đạt ngôn ngữ
hoặc phối hợp.
5.1.2. Chậm phát triển ngôn ngữ ở trẻ em:
Là hiện tượng thụ đắc ngôn ngữ mẹ đẻ muộn hơn, hạn chế và khó khăn
hơn do chậm phát triển trí tuệ. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này,
nhưng một trong những lý do thường gặp là do thiếu iot trong quá trình mẹ mang
thai. Phát hiện chậm phát triển trí tuệ và ngôn ngữ dựa trên sự phát triển bình
thường của trẻ. Nguyên tắc dạy ngôn ngữ cho trẻ cũng phải dựa vào quá trình
phát triển các hình thức ngôn ngữ bình thường.
5.13. Tự kỷ:
Là dạng khuyết tật phát triển của trẻ em, đặc trưng bởi rối loạn hành vi, khả
năng ngôn ngữ và quan hệ xã hội.
5 dấu hiệu phát hiện sớm trẻ tự kỷ:
-

Chậm phát triển và sử dụng ngôn ngữ không lời kém

-

Gọi tên không quay lại, không biết “dạ”

-

Không nói nhiều từ đơn ở độ tuổi 16 tháng


-

Không nói câu có từ ghép ở độ tuổi 24 tháng

-

Mất ngôn ngữ ở bất kỳ độ tuổi nào.

Chẩn đoán xác định dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán DSM-IV của Hôi Tâm thần Mỹ
1994
5.2.

Rối loạn ngôn ngữ của trẻ câm điếc:
Tai người nghe được các

âm thanh có tần số từ 20 tới
20000Hz. Cường độ âm thanh
mà người bình thường nghe

Độ điếc (dB)

Tần số (Hz)
0

20

Điếc nhẹ

30
40

20đề xi ben dB trong điều kiện

70

(hình1)

500 1000 2000 4000

Nghe bình thường

50

ngưỡng nghe và phân độ điếc

250

10

được khoảng dưới ngưỡng
yên lặng. Bên đây là biểu đồ

125

Điếc vừa

60
80
90
100

Điếc nặng
Điếc sâu

110
120

Nghe kém là khi ngưỡng nghe của một người cao hơn so với bình thường,
chẳng hạn:
Từ 20-40dB:

điếc nhẹ

40-70 dB

điếc vừa

70-90dB

điếc nặng

90-120 dB

điếc sâu

Trên 120 dB

điếc đặc

Giọng nói bình thường trước đám đông (lớp học) khoảng 50-60 dB. Nếu
ngưỡng nghe ở các tần số đều trên 70dB thì bị coi là điếc. Điếc do bệnh lý của
tai ngoài và tai giữa gọi là điếc dẫn truyền (hình 2). Nếu nguyên nhân thuộc tai
trong và thần kinh thính giác gọi là điếc tiếp nhận (hình 3)
Trẻ nghe kém có thể đeo máy trợ thính (khi ngưỡng nghe dưới 70dB), còn
trẻ điếc (ngưỡng nghe trên 70 dB) đeo máy trợ thính ít có khả năng học nói được
bình thường. Ngày nay những trẻ này thường được cấy điện cực ốc tai từ nhỏ và
có thể học nói được bình thường nếu kết hợp với phục hồi chức năng ngôn ngữ.
5.3.

Bệnh lý lời nói và phát âm:


Bao gồm nói ngọng và nói lắp. Nói ngọng là những trường hợp nói không rõ ràng,
không tròn vành rõ tiếng và không theo được chuẩn mức phát âm mà cộng đồng
dân cư đó chấp nhận. Theo tổn thương giải phẫu của cơ quan phát âm, nói ngọng
chia làm ngọng chức năng và ngọng thực thể
5.3.1. Ngọng chức năng
Là khi không có khiếm khuyết hoặc cấu tạo bất thường của cơ quan phát âm.
Ngọng chức năng gồm ngọng phát triển; ngọng do thói quen phát âm sai và nói
tiếng địa phương


Ngọng phát triển và ngọng do thói quen:

Là những trường hợp trẻ nói ngọng theo thói quen từ nhỏ và không được sửa kịp
thời. Những trẻ này thường không bị bất kỳ khuyết tật nào ở cơ quan phát âm. Trẻ
nói ngọng có thể bị hoặc không bị nghe kém. Nên cho trẻ đi kiểm tra thính lực. Trẻ
có thể học nói như các trẻ khác hoặc muộn hơn..
* Có thể có ngọng phụ âm đầu: Ví đụ “chó” thành “có” hoặc “ó”...
* Ngọng phần vần: “ tránh” thành “trắn”...
“ voi” thành “vo”...
* Ngọng thanh điệu: “ cũ” thành “cú”...


Ngọng do nói tiếng địa phương: mỗi vùng miền có phương ngữ riêng, nếu

so với phát âm được quy định chuẩn là dân cư ở Hà Nội thì một số vùng có thể
nói ngọng âm đầu (n/l) hoặc ngọng vần, hoặc ngọng thanh điệu (hỏi, ngã)…
Người ta không sửa tiếng điịa phương trừ khi cư dân đó có nhu cầu.
5.3.2. Ngọng thực thể:
Khi có khiếm khuyết của cơ quan phát âm. Cần được khám chuyên khoa Ngôn
ngữ trị liệu để phát hiện. Các khiếm khuyết có thể là: do phanh lưỡi, do khe hở
môi, vòm miệng, do bất thường cấu trúc của hầu họng, do nghe kém hoặc do bại
não, chậm phát triển trí tuệ- vận động; tổn thương thần kinh khác… Những trường
hợp này cần có can thệp khác ngoài ngôn ngữ trị liệu.
Phát hiện nói ngọng: khi thấy người bệnh hoặc trẻ nói không rõ, cần được đành
giá phát âm. Khi đó, cần khám cơ quan phát âm để tìm các dị tật, khiếm khuyết,
sau đó trẻ nói theo bảng từ thử.


Cách sửa phát âm:
+ Nói chậm để làm mẫu âm sai để trẻ bắt chước
+ Viết ra một loạt các từ chứa âm sai để trẻ đọc
+ Sửa âm sai khi trẻ đọc hoặc nói.
5.3.3. Nói lắp:
Là bệnh lý về sự lưu loát. Mất lưu loát khiến nói trở nên khó nhọc, kém trôi
chảy. Có nhiều dạng nói lắp:
+ Lắp một âm vị: “ch..ch..ch..cháu tên là...”
+ Lắp một từ: “Ngày..ngày..ngày..ngày mai được nghỉ học”
+ Lắp cả một ngữ: “Con không.. con không.. con không thích cái ôtô này”
Nói lắp thường do thói quen. Nếu ngay khi mới bị nói lắp, bạn lưu ý trẻ ngay trẻ sẽ
tự chỉnh được. Có một số trẻ thích nói lắp để được chú ý. Còn ở trẻ lớn hơn, khi
đã bị nói lắp thường xấu hổ và lo lắng về tật nói lắp của mình, do vậy trẻ càng dễ
bị nói lắp hơn, đặc biệt khi trẻ lo lắng.
+ Điều trị nói lắp: gồm điều trị về tâm lý và huấn luyện một số kỹ năng nói
* Điều trị tâm lý: BN cần được phân tích về tâm lý, điều trị về tâm lý và được tư
vấn về hành vi, cư xử. Giảm bớt căng thẳng và lo lắng của trẻ:
Nếu trẻ nói lắp trong một số tình huống như sắp đọc bài, bị mắng, đến chỗ lạ...
cần tạo cho trẻ một không khí thư giãn, nhẹ nhàng
* Tập thở:
Nên hướng dẫn trẻ tập thở chậm, và nhẹ nhàng. Đặc biệt trước khi trẻ nói, cần hít
sau và thở ra chậm vài lần rồi mới nói. Cách này có thể giúp trẻ chuẩn bị tốt và
thư giãn trước khi nói.
* Nói chậm, câu ngắn: Nhắc để trẻ nói bằng những câu ngắn vài ba từ, trẻ có thời
gian nghĩ và bớt nói lắp.
5.4.

Rối loạn ngôn ngữ- phát âm do bệnh lý thần kinh:

Phần này đề cập đến các khiếm khuyết ngôn ngữ, trí tuệ, phát âm, tạo âm thanh ở
trẻ bại não, người bị Parkinson... Do bị nhiều khiếm khuyết về thính giác, thị giác,
vận động, thở, nhai nuốt… nên trẻ hiểu chậm, nghe kém, nói khó và không rõ
ràng.


* Dạy trẻ thổi hơi ra thật dài: thổi bong bóng, thổi cuộng rơm vào cốc nước, thổi
nến, hoặc lông gà...
* Giúp trẻ tạo âm thanh:
+ Để trẻ bắt chước các âm của bạn: lúc đầu nên tạo các âm: “a,o, e, i,...” Có thể
phải làm nhiều ngày các âm đó mới rõ ràng.
+ Sau đó dạy trẻ tạo các âm “mamama, baba, tata, chacha..”
+ Khi trẻ đã bắt chước được một số âm, hãy dạy trẻ gọi tên những người thân, tên
một số thức ăn, đồ vật quanh chúng.
+ Khi trẻ đã nói được khá nhiều từ đơn, hãy tập cho trẻ ghép vài ba từ lại . Ví dụ:
trẻ nói “mẹ”, bạn hãy nhắc trẻ “ mẹ nấu cơm” hoặc “chị học bài”...
* Nếu trẻ không thể phát âm được:
Mặc dù bạn và trẻ đều đã cố gắng rất lâu những trẻ vẫn không thể phát âm được,
bạn có thể dùng một số cách sau để giao tiếp với trẻ và dạy trẻ giao tiếp.
+ Hãy làm nhiều bảng tranh để giao tiếp với trẻ. Bảng tranh là những tờ giấy, trên
mỗi mặt, hãy vẽ từ 4-8 tranh.
Mỗi bảng tranh chỉ vẽ những hình vẽ theo các chủ đề : các thức ăn, các đồ uống,
các hoạt động của trẻ... Khi cần nói chuyện với trẻ, bạn hãy để tờ tranh lên bàn,
trước mặt trẻ và hỏi; ví dụ: “hôm nay con muốn ăn gì?”, trẻ sẽ chỉ vào một trong
các tranh để trả lời “cá” hoặc ‘trứng”...
Trẻ có thể dùng nhiều bảng tranh để ghép thành câu như : “ hôm nay con
muốn chơi với chị Hương”. Bạn hãy thường xuyên sử dụng những bảng tranh này
để nói chuyện với trẻ.
5.5.

Rối loạn giọng:

Các bất thường của giọng nói như: nói khàn, giọng hơi, mất tiếng, hoặc giọng bất
thường khác đều có nguyên nhân các bệnh lý của tai mũi họng như: viêm thanh
quản, hạt xơ hoặc polyp, u nang dây thanh, ung thư thanh quản… Những trường
hợp đó cần khám chuyên khoa và điều trị bệnh tai mũi họng sau đó can thiệp ngôn
ngữ trị liệu.
Kết luận: Đây là những nét sơ lược những vấn đề chính của phục hồi chức năng
các bệnh lý ngôn ngữ và lời nói. Những nội dung này có thể áp dụng được ở


tuyến y tế cơ sở giúp giải quyết những khó khăn về giao tiếp cho phần lớn trẻ tàn
tật nhẹ ở cộng đồng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×