Tải bản đầy đủ

SSKN Công tác quản lý Kinh nghiệm tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng vệ sinh cá nhân cho trẻ 56 tuổi

TT
1.
1.1.
1.2.
1.3.
1.4.
2.
2.1.
2.2.
2.2.1.
2.2.2.
2.2.3.
2.3.
2.3.1
2.3.2.

2.3.3.

2.3.4.
2.3.5.
2.4.

3.

MỤC LỤC
NỘI DUNG
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Cơ sở lý luận
Thực trạng của vấn đề
Thuận lợi
Khó khăn
Kết quả khảo sát thực trạng
Một số biện pháp tổ chức có hiệu quả các hoạt động
giáo dục kỹ năng vệ sinh cá nhân cho trẻ 5-6 tuổi ở
trường mầm non trên địa bàn huyện.
Biện pháp 1: Làm tốt công tác bồi dưỡng chuyên môn
cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên ở các nhà trường
trên địa bàn huyện.
Biện pháp 2: Chỉ đạo các trường lồng ghép nội dung
giáo dục kỹ năng vệ sinh cá nhân cho trẻ độ tuổi 5 - 6
tuổi khi xây dựng kế hoạch thực hiện theo chủ đề.
Biện pháp 3: Chỉ đạo giáo viên làm tốt việc giáo dục kỹ
năng vệ sinh cá nhân cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt
động học và lồng ghép qua các hoạt động khác theo chế
độ sinh hoạt ngày của trẻ.
Biện pháp 4: Chỉ đạo các nhà trường làm tốt công tác
phối hợp tuyên truyền với phụ huynh giáo dục kỹ năng vệ
sinh cá nhân cho trẻ.
Biện pháp 5: Thực hiện nghiêm túc công tác kiểm tra
đánh giá ở các trường học trên địa bàn.
Kết quả đạt được
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC SKKN ĐÃ ĐƯỢC XẾP LOẠI

TRANG


1
2
3
3
3
3
3
3
4
4
4
5
6

6

10

15
16
18
19
20
21

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống
giáo dục quốc dân, đặt nền móng ban đầu cho sự phát triển thể chất, trí tuệ, tình
cảm, thẩm mỹ của trẻ em. Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mần non
tốt có tác dụng rất lớn đến chất lượng giáo dục các bậc học tiếp theo. Như Bác
1


Hồ kính yêu đã từng nói “Giáo dục mầm non tốt sẽ mở đầu cho một nền giáo
dục tốt ”.[1]
Năm học 2018 - 2019, ngành Giáo dục huyện tiếp tục thực hiện thắng lợi
nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nghị quyết số
44/NQ-CP của Chính phủ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
Phương hướng chung của giáo dục mầm non năm học 2018 - 2019 là tiếp tục
đổi mới hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non theo quan điểm giáo dục lấy
trẻ làm trung tâm. Với quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm được coi là cơ
hội, mà những người làm công tác giáo dục tạo ra cơ hội cho trẻ phát triển một
cách hợp lý giữa việc chăm sóc và giáo dục trẻ. Một trong những nội dung
chiếm vị trí vô cùng quan trọng trong chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ
mầm non được nghị quyết thông qua là giáo dục thói quen vệ sinh, chăm sóc sức
khỏe cho trẻ.[2]
Thực tế hiện nay, sức khỏe, sự an toàn của con người phụ thuộc vào nhiều
yếu tố, từ chủ quan đến khách quan đòi hỏi mỗi người phải có kiến thức, hành vi
tự bảo vệ sức khỏe cho mình. Những kiến thức đó cần được học từ tuổi mầm
non thông qua gia đình, nhà trường và cộng đồng từ những việc đơn giản nhất
như: thói quen vệ sinh, hành vi văn minh, kỹ năng sống... Qua đó tạo cơ hội cho
trẻ sống và phát triển một cách khỏe mạnh về trí tuệ, thể chất.
Giáo dục thói quen vệ sinh cá nhân cho trẻ có ý nghĩa quan trọng trong
việc giáo dục trẻ phát triển toàn diện. Giáo dục vệ sinh cho trẻ là điều cần thiết
để tạo cho trẻ những thói quen tốt. Những thói quen lao động tự phục vụ như:
thói quen rửa mặt, rửa tay, tập súc miệng, tập đánh răng, tập ngồi ngay ngắn...
được lặp đi, lặp lại hàng ngày và trở thành những kỹ năng đối với trẻ.
Đặc điểm của trẻ từ 5 - 6 tuổicơ thể trẻ đang phát triển, hệ thần kinh chưa
hoàn chỉnh, sức chống đỡ với bệnh tật nói chung cũng như khả năng thích ứng
của da còn yếu, nên trẻ dễ bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn, cũng như dễ bị ảnh
hưởng của yếu tố thời tiết và môi trường. Mặt khác do kinh nghiệm sống của trẻ
còn ít. Vì vậy việc giáo dục trẻ em có kỹ năng vệ sinh cá nhân sẽ giúp trẻ có
được những thói quen tốt, là một trong những cách phòng tránh dịch bệnh đơn
giản, ít tốn kém nhất, những công việc vệ sinh hàng ngày tưởng chừng rất đơn
giản như: đánh răng, rửa mặt, rửa tay...nhưng lại rất cần thiết trong đời sống
hàng ngày của trẻ. Làm tốt việc vệ sinh cá nhân không chỉ tạo ấn tượng tốt với
những người xung quanh mà còn giúp trẻ duy trì một sức khỏe tốt để trẻ thích
nghi với môi trường. Vệ sinh đúng cách còn có tác dụng phòng bệnh rất tốt cho
trẻ. [3]
Trẻ lứa tuổi mầm non khi bắt đầu làm quen với trường lớp do chuyển từ
môi trường gia đình sang môi trường tập thể. Vì thế đòi hỏi trẻ phải có kỹ năng
nhất định để hòa nhập. Phần lớn trẻ đến trường thiếu thói quen và kỹ năng thực
hành vệ sinh cá nhân như: Chải răng, rửa tay, rửa mặt… như thế nào cho sạch và
đúng cách. Chính vì vậy việc giáo dục thói quen vệ sinh cho trẻ ngay từ khi trẻ
còn bé là điều vô cùng quan trọng, việc giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ không
giống với vệ sinh cá nhân của người lớn nên có nhiều phụ huynh lại cho rằng trẻ
còn quá nhỏ để nhận thức được và trẻ cần sự bao bọc của người lớn, điều đó
hoàn toàn sai lầm.
2


Trước thực trạng trên, đối với trường mầm non ngoài việc thực hiện tốt
công tác chăm sóc, giáo dục trẻ cần tập trung vào việc giáo dục, rèn luyện, hình
thành những thói quen, kỹ năng vệ sinh cần thiết cho trẻ trong cuộc sống hàng
ngày, giúp trẻ hình thành thói quen thực hiện hành vi văn hóa vệ sinh trong sinh
hoạt, để trẻ có thể tự bảo vệ mình, được sống thoải mái về thể chất và tinh thần,
sống khỏe mạnh trong môi trường tập thể. Với vai trò là người quản lý, tôi luôn
suy nghĩ tìm ra những biện pháp chỉ đạo các trường mầm non trên địa bàn huyện
về giáo dục trẻ có thói quen vệ sinh thường xuyên. Để phụ huynh hiểu được trẻ
mầm non cần phải giáo dục vệ sinh ngay từ khi đến trường lớp mầm non. Vì thế
tôi chọn đề tài “Kinh nghiệm tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng vệ sinh
cá nhân cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non trên địa bàn huyện , tỉnh

làm đề tài nghiên cứu của mình.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giáo dục thói quen
vệ sinh cá nhân cho trẻ trong trường mầm non, nhằm tìm ra những biện pháp
giáo dục tốt nhất, giúp trẻ có những kỹ năng, thói quen vệ sinh cá nhân như: rửa
mặt, đánh răng, rửa tay, chải tóc, vệ sinh trong ăn uống.... giúp cơ thể trẻ phát
triển tốt, bảo vệ được cơ thể phòng chống bệnh tật và thích nghi với điều kiện
sống. Từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe trẻ ở trường mầm non trên
địa bàn huyện , tỉnh
.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Kinh nghiệm tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng vệ sinh cá nhân cho
trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non trên địa bàn huyện , tỉnh
.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này bản thân tôi đã kết hợp sử dụng hệ
thống các phương pháp sau.
* Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp các tài liệu, những văn bản pháp quy có liên quan đến
thực tiễn và công tác chăm sóc, giáo dục trẻ.
* Phương pháp thực tiễn
Phương pháp quan sát
Quan sát các hoạt động hàng ngày của trẻ 5 - 6 tuổi tại các trường, theo
dõi các hoạt động của giáo viên, trong các công việc họ làm hàng ngày để thu
thập dữ liệu liên quan nhằm bổ sung cho nhiệm vụ nghiên cứu đề tài.
Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn
Tiếp xúc, trao đổi với cán bộ, giáo viên và trẻ của các trường để tìm hiểu,
nắm bắt kịp thời những suy nghĩ, nhận thức, hiểu biết của họ về nội dung giáo
dục vệ sinh cá nhân cho trẻ ở trường mầm non hiện nay, những hình thức tổ
chức phù hợp cho độ tuổi 5 - 6 tuổi.
Phương pháp nêu gương
Khi tham gia đàm thoại, phỏng vấn kịp thời nêu gương, động viên,
khuyến khích những thói quen vệ sinh tốt của trẻ, tạo tâm thế thoải mái, hứng
thú cho trẻ để trẻ tự tin tham gia vào các hoạt động.
Phương pháp điều tra
3


Sử dụng hình thức thăm dò, điều tra kết quả công tác trên từng nội dung,
thu thập thông tin cần thiết để làm căn cứ xác định nguyên nhân, hạn chế, thiếu
sót, từ đó đưa ra những biện pháp khắc phục.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tài liệu, hồ sơ, đồ dùng, trang thiết bị, môi trường lớp học, nề
nếp trẻ có liên quan đến nội dung dạy trẻ vệ sinh cá nhân.
Phương pháp toán học
Sử dụng phương pháp toán học để xử lý các kết quả và tính phần trăm.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận
Vệ sinh có thể hiểu là các thao tác, liên quan đến việc duy trì sức khỏe và
sự sống được áp dụng để giảm tỷ lệ nhiễm và lây lan dịch bệnh. Thói quen vệ
sinh là biểu hiện của nếp sống văn minh, một biện pháp khoa học nhằm mục
đích bảo vệ, nâng cao sức khỏe của con người. Để vệ sinh trở thành thói quen
văn hóa mỗi đứa trẻ cần phải có một quá trình tập luyện, rèn luyện và đấu tranh
với bản thân.[3]
Giáo dục thói quen văn hóa vệ sinh cho trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non là
một trong những nhiệm vụ giáo dục toàn diện có ý nghĩa lớn đối với sự hình
thành và phát triển nhân cách của trẻ sau này. Bởi đây là giai đoạn đánh dấu sự
tự lập dần dần trong sinh hoạt hàng ngày của trẻ, giai đoạn định hình nhân cách.
Giáo dục thói quen vệ sinh là rèn luyện cho trẻ những thói quen của nếp sống
văn minh như: tính sạch sẽ, ngăn nắp, gọn gàng. Đồng thời cung cấp cho trẻ
những kiến thức cơ bản, khoa học về vệ sinh. Giáo dục rèn luyện cho trẻ các kỹ
năng thói quen vệ sinh trong sinh hoạt hàng ngày giúp trẻ biết tự kiểm tra, đánh
giá hành động vệ sinh của mình, của bạn. Từ đó hình thành cho trẻ thói quen
thực hiện hành vi, vệ sinh văn minh để trẻ có thể tự bảo vệ bản thân.
Chăm sóc giáo dục vệ sinh cho trẻ mầm non là việc làm thiết thực, nhằm
giúp trẻ có thói quen nề nếp vệ sinh, phòng tránh bệnh tật, tăng cường sức khỏe,
hình thành và phát triển các kỹ năng sống cơ bản.
Giáo dục thói quen vệ sinh cá nhân cho trẻ mầm non là giúp trẻ hiểu được
tại sao cần phải thực hiện vệ sinh sạch sẽ. Thông qua giáo dục hình thành cho trẻ
những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhất định về các thói quen cá nhân. Ở lứa tuổi
này rất dễ uốn nắn, tuy nhiên trẻ chưa tự giác phục vụ bản thân, vì vậy cần có
những biện pháp giáo dục, chăm sóc phù hợp và khoa học để hình thành cho trẻ
thói quen vệ sinh tốt trong cuộc sống hàng ngày của trẻ.
Tóm lại: Dạy trẻ thói quen vệ sinh cá nhân, hành vi văn minh lịch sự
chính là tạo cho trẻ nền tảng đạo đức con người. Vệ sinh là biểu hiện của nếp
sống văn minh. Để vệ sinh thành thói quen văn hóa thì cần phải có một quá trình
luyện tập. Giáo dục thói quen vệ sinh ngay từ lứa tuổi mầm non là một trong
những nhiệm vụ giáo dục toàn diện qua đó tạo cơ hội cho trẻ sống và phát triển
một cách khỏe mạnh về trí tuệ, thể chất.
2.2. Thực trạng của vấn đề

4


là một huyện đồng bằng, thuần nông, có 15 xã, thị trấn với 16 trường
mầm non. Toàn huyện có 21.047 hộ dân, dân số 75.696 người, diện tích tự nhiên
82.406 km2.
2.2.1. Thuận lợi
Tính đến năm học 2018 - 2019, toàn huyện có 14/16 trường đạt 87,5% đã
đạt chuẩn Quốc gia. Vì vậy, môi trường giáo dục trong lớp, ngoài trời cũng đã
được các nhà trường cải thiện đáng kể;
Mạng lưới trường, lớp mầm non được quy hoạch tương đối tốt, đảm bảo
15 xã, thị trấn có 16 trường mầm non, mỗi trường tập trung ở 01 điểm, dân số ít
nên quy mô các trường vừa và nhỏ, nhu cầu đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị....
không quá lớn;
Trình độ đội ngũ giáo viên hàng năm được nâng lên rõ rệt (94.5% trên
chuẩn), chất lượng đội ngũ có nhiều chuyển biến tích cực, ứng dụng CNTT được
triển khai rộng rãi, có nhiều kinh nghiệm trong chỉ đạo thực hiện nâng cao chất
lượng chăm sóc, giáo dục trẻ và đổi mới việc xây dựng môi trường giáo dục
trong trường mầm non;
Công tác bồi dưỡng cán bộ giáo viên luôn được chú trọng, các chuyên đề
được cập nhật kịp thời và đầy đủ. Cán bộ giáo viên được trẻ hóa nhiều nên rất
năng động, sáng tạo, tiếp cận nhanh với những vấn đề chuyên môn mới, nắm bắt
nhanh những vấn đề mới trong việc xây dựng môi trường;
Đồ dùng, trang thiết bị phục vụ cho công tác chăm sóc vệ sinh cá nhân
cho trẻ ở các trường trên toàn huyện đầy đủ cho mỗi trẻ (xà phòng, ca cốc, khăn
mặt, bàn trải đánh răng, bát thìa...) các đồ dùng thường xuyên được giáo viên vệ
sinh, khử trùng hàng ngày, khu vực vệ sinh luôn khô ráo sạch sẽ. Trường lớp có
cây xanh thoáng mát, sử dụng nguồn nước sạch đảm bảo cho sinh hoạt của trẻ,
thùng đựng rác hợp vệ sinh.
Phụ huynh đã hiểu được mục đích giáo dục vệ sinh cho trẻ và cùng phối
hợp tốt với giáo viên và nhà trường về cách chăm sóc sức khỏe, giáo dục vệ sinh
cho trẻ đúng cách và khoa học.
Công tác xã hội hóa giáo dục hàng năm ở các trường luôn được lãnh đạo
các cấp và nhân dân quan tâm chăm lo đầu tư cho sự nghiệp giáo dục, nhân dân tích
cực đóng góp xây dựng trường lớp, mua sắm trang thiết bị dạy học đáp ứng với
yêu cầu giáo dục hiện nay.
2.2.2. Khó khăn
Toàn huyện có 15 xã, thị trấn, là một huyện nhỏ, thuần nông, điều kiện
kinh tế-xã hội còn gặp nhiều khó khăn;
Môi trường giáo dục đã được quan tâm chỉ đạo thực hiện đồng đều ở tất cả các
trường mầm non trên toàn huyện, song một số trường còn nặng tính hình thức mà chưa
mang lại hiệu quả thiết thực trong giáo dục. Đặc biệt là khai thác sử dụng môi trường giáo
dục chưa linh hoạt, sáng tạo, chưa thực sự phát huy được tính tích cực tham gia hoạt động
của trẻ.
Hiện nay việc giáo dục thói quen vệ sinh cho trẻ cũng được giáo viên thực
hiện, song chưa được quan tâm chú trọng nên hiệu quả chưa cao. Giáo viên thực
hiện chưa đúng thao tác, chưa đúng quy trình, các nội dung thực hiện thường bị
cắt xén, hoặc có thực hiện thì cũng đại khái, qua loa. Trong khi đó trẻ mầm non
5


còn rất nhỏ trẻ chưa có ý thức để giữ gìn vệ sinh sạch sẽ. Trường lớp mầm non
là nơi tập trung đông người, nếu cô giáo không giáo dục vệ sinh cho trẻ hoặc
giáo dục kém trẻ sẽ không có ý thức giữ gìn vệ sinh. Như vậy ảnh hưởng rất lớn
đến cuộc sống sinh hoạt của trẻ và có nguy cơ phát sinh, lây lan các dịch bệnh
làm ảnh hưởng tới sức khỏe của trẻ. Chính vì thế cô giáo cần có những hiểu biết
cơ bản để giáo dục vệ sinh cho trẻ, thông qua hoạt động chăm sóc và giáo dục
trẻ hàng ngày ở trường mầm non, cũng như phối hợp với phụ huynh ở nhà.
2.2.3. Kết quả khảo sát thực trạng
Kết quả khảo sát thực trạng vào thời điểm tháng 9/2018 tại 9 lớp mẫu giáo
với 225 trẻ 5 - 6 tuổi, 18 giáo viên ở 3 trường mầm non Đông Hoàng, Đông
Ninh và
. Kết quả như sau:
* Khảo sát cơ sở vật chất của 9 lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi/3 trường
Số lớp đạt
TT
Nội dung đánh giá
yêu cầu
1 Lớp học đảm bảo diện tích, thoáng mát cho trẻ sinh hoạt
9
hàng ngày.
2 Lớp có tên các góc phù hợp, phân chia không gian hợp
6
lý, màu sắc hài hòa, nội dung chơi rõ ràng, thiết kế theo
hướng mở, linh hoạt, sáng tạo.
3 Có đủ trang thiết bị cho trẻ tham gia các hoạt động theo
6
chế độ sinh hoạt.
4 Có đủ đồ dùng cho trẻ vệ sinh cá nhân hàng ngày.
9
5 Lớp có nhà vệ sinh riêng khép kín, đảm bảo yêu cầu.
9
Số lớp được đánh giá chung đạt yêu
6
cầu:

Tỉ lệ
(%)
100
66,7
66,7
100
100
66,7

* Khảo sát 225 trẻ/9 lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua việc trò chuyện, quan
sát khi trẻ tham gia hoạt động vệ sinh cá nhân.
Số trẻ đạt Tỉ lệ
TT
Nội dung đánh giá
yêu cầu
(%)
1 Trẻ mạnh dạn, tự tin, thân thiện và tích cực trong giao
115
51,1
tiếp và trong các hoạt động tập thể.
2 Trẻ có thói quen vệ sinh thân thể (rửa mặt, rửa tay, chân,
115
51,1
đi giày dép, đánh răng, trải tóc, mặc quần áo).
3 Trẻ có thói quen vệ sinh trong ăn uống.
120
53,3
4 Trẻ có thói quen đi vệ sinh đúng nơi quy định.
125
55,5
5 Trẻ có ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường.
115
51,1
Số trẻ được đánh giá chung đạt yêu cầu:
115
51,1
* Khảo sát 18 giáo viên trực tiếp đứng 9 lớp thông qua trao đổi phỏng
vấn và quan sát cách giáo viên hướng dẫn, tổ chức hoạt động vệ sinh cá nhân
cho trẻ.
Số GV đạt Tỉ lệ
6


TT
Nội dung đánh giá
yêu cầu
(%)
1 Giáo viên coi trọng ngôn ngữ giao tiếp, thể hiện mối
18
100
quan hệ thân thiện đối với trẻ luôn mẫu mực trong sinh
hoạt hàng ngày để trẻ noi theo.
2 Giáo viên có ý thức trong việc vệ sinh đồ dùng, đồ chơi
14
77,8
và thường xuyên thay đổi cách trang trí, sắp xếp góc chơi
tạo hứng thú cho trẻ.
3 Biết tạo những điều kiện, cơ hội, tận dụng hoàn cảnh,
14
77,8
tình huống thật cho trẻ hoạt động trải nghiệm, khám phá
trong môi trường an toàn.
4 Giáo viên có phương pháp, ý tưởng sáng tạo khi xây
14
77,8
dựng và hướng dẫn kỹ năng vệ sinh cá nhân cho trẻ.
Số giáo viên xếp loại chung đạt yêu
14
77,8
cầu:
Nhận xét: Qua khảo sát thực tế cơ sở vật chất, chất lượng trẻ và giáo viên
ở 9 lớp 5 - 6 tuổi tại 3 trường mầm non, tôi nhận thấy:
* Về cơ sở vật chất lớp học: 100% các lớp đảm bảo diện tích, thoáng mát
cho trẻ; có đủ đồ dùng cho trẻ vệ sinh cá nhân hàng ngày; có nhà vệ sinh riêng
khép kín, đảm bảo theo yêu cầu. Tuy nhiên tên các góc chơi phù hợp, phân chia
không gian hợp lý, màu sắc hài hòa, nội dung chơi rõ ràng, thiết kế theo hướng
mở, linh hoạt, sáng tạo, có đủ trang thiết bị cho trẻ tham gia các hoạt động theo
chế độ sinh hoạt một số lớp còn hạn chế.
-> Số lớp được đánh giá chung đạt yêu cầu là 6/9 lớp mới đạt 66,7%.
* Đánh giá về kỹ năng vệ sinh cá nhân của trẻ: Đa số trẻ có thói quen đi
vệ sinh đúng nơi quy định. Song trẻ chưa mạnh dạn, tự tin, chưa tích cực trong
giao tiếp và trong các hoạt động tập thể. Thói quen vệ sinh thân thể (rửa mặt,
rửa tay, chân, đi giày dép, đánh răng, trải tóc, mặc quần áo), ý thức giữ gìn vệ
sinh môi trường, thói quen vệ sinh trong ăn uống của trẻ còn nhiều hạn chế.
-> Số trẻ được đánh giá chung đạt yêu cầu là 115/225 trẻ mới đạt 51,1%.
* Về nhận thức và năng lực của giáo viên: 100% giáo viên coi trọng
ngôn ngữ giao tiếp, thể hiện mối quan hệ thân thiện đối với trẻ luôn mẫu mực
trong sinh hoạt hàng ngày để trẻ noi theo. Tuy nhiên giáo viên có ý thức trong
việc vệ sinh đồ dùng, đồ chơi, thường xuyên thay đổi cách trang trí, sắp xếp góc
chơi tạo hứng thú cho trẻ. Chưa tạo được những điều kiện, cơ hội, tận dụng hoàn
cảnh, tình huống thật cho trẻ hoạt động trải nghiệm, khám phá. Phương pháp, ý
tưởng sáng tạo khi xây dựng và hướng dẫn kỹ năng vệ sinh cá nhân cho trẻ còn
bộc lộ nhiều hạn chế.
-> Số giáo viên xếp loại chung đạt yêu cầu là 14/18 người mới đạt 77,8%
Từ thực trạng trên với vai trò và trách nhiệm là người quản lý, chỉ đạo
chuyên môn tôi suy nghĩ và tìm ra một số biện pháp chỉ đạo, giáo dục kỹ năng
vệ sinh cá nhân cho trẻ nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở trường mầm non trên địa bàn huyện đạt hiệu quả
tốt hơn.

7


2.3. Một số biện pháp tổ chức có hiệu quả các hoạt động giáo dục kỹ
năng vệ sinh cá nhân cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non trên địa bàn huyện
.
2.3.1. Biện pháp 1: Làm tốt công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đội
ngũ cán bộ quản lý, giáo viên ở các nhà trường trên địa bàn huyện.
Nghị quyết hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
đã nêu: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã
hội tôn vinh....Giáo viên phải có đủ đức, đủ tài, do đó phải đào tạo giáo viên có
chất lượng cao, thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên, bồi dưỡng,
chuẩn hoá, nâng cao phẩm chất và năng lực cho đội ngũ giáo viên.”[4]
Chất lượng giáo dục mầm non do đội ngũ giáo viên mầm non quyết định.
Họ là nhân tố trung tâm của quá trình thực hiện mục tiêu đào tạo. Vai trò của
ngành học chỉ được thể hiện và phát huy bằng chính vai trò của người giáo viên
mầm non - chủ thể trực tiếp của quá trình chăm sóc giáo dục trẻ. Vì vậy muốn
nâng cao chất lượng của ngành học, vấn đề mang tính chiến lược hàng đầu là
phải nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên cả về trình độ, phẩm chất và năng
lực.
Trong nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục, thì việc bồi
dưỡng chuyên môn là một hình thức hoạt động chuyên môn được tiến hành
thường xuyên, liên tục của các trường học. Nhằm không ngừng nâng cao năng
lực chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ quản lý, giáo viên, đồng thời cũng chính
là nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ. Việc bồi dưỡng chuyên môn cho
cán bộ quản lý, giáo viên là yêu cầu cần thiết, là yếu tố cơ bản có ý nghĩa quyết
định chất lượng giáo dục. Nên cán bộ quản lý, giáo viên phải là người nắm vững
chuyên môn, giỏi nghiệp vụ để thực hiện tốt công việc của mình. Chính vì vậy
tôi đã tập trung chỉ đạo bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ quản lý, giáo viên với
hình thức sau:
* Bồi dưỡng kiến thức giáo dục vệ sinh cho trẻ
Để trẻ hiểu và có kỹ năng thực hiện các thao tác vệ sinh cá nhân tốt thì
trước tiên giáo viên phải có kiến thức. Vì giáo viên có kiến thức mới giáo dục,
rèn kỹ năng cho trẻ một cách có hiệu quả. Vào đầu năm học ngoài kế hoạch
chuyên môn được triển khai, tôi chỉ đạo các trường chú trọng nhấn mạnh nội
dung trọng tâm giáo dục vệ sinh, chăm sóc sức khỏe cho trẻ. Trước khi triển
khai kế hoạch tôi nghiên cứu xem nội dung nào cần triển khai kỹ, nội dung nào
hướng dẫn cho giáo viên nghiên cứu tài liệu, thời gian còn lại tôi hướng dẫn một
số kỹ năng thực hành thao tác vệ sinh.
Ví dụ: Giáo dục thói quen vệ sinh cá nhân bao gồm: Thói quen rửa mặt
buổi sáng sau khi ngủ dậy, buổi tối trước khi đi ngủ; rửa tay bằng xà phòng và
nước sạch trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn; rửa chân khi chân bẩn
và trước khi đi ngủ; chải răng khi ngủ dậy và trước khi đi ngủ, sau khi ăn; chải
tóc; mặc quần áo sạch sẽ gọn gàng và thường xuyên tắm gội sạch sẽ.
Giáo dục trẻ khi ho ngáp, hắt hơi dùng tay che miệng, không khạc nhổ
bừa bãi, đi đại tiện, tiểu tiện phải vào nhà vệ sinh và đúng nơi quy định. Giáo
dục trẻ thói quen thường xuyên đi giày dép đúng chân, đội mũ khi đi ra ngoài
nắng.
8


Giáo dục trẻ cách rót nước vào ca cốc, thói quen uống nước đun sôi để
nguội, nước các loại rau quả. Hạn chế uống các loại nước ngọt có ga.
Ví dụ: Thói quen vệ sinh môi trường: Giáo dục cho trẻ về tác hại do ô
nhiễm môi trường gây ra cho con người như: không khí và nước bị ô nhiễm, các
động vật trung gian truyền bệnh phát triển. Vệ sinh phòng nhóm lớp, đồ dùng,
đồ chơi; vệ sinh khuôn viên trong và ngoài nhà trường; giữ sạch nguồn nước và
xử lí rác, nước thải; vệ sinh trong học tập, lao động, luyện tập thể dục thể thao
phù hợp với lứa tuổi, giới tính để phòng tránh bệnh tật; phòng tránh tai nạn
thương tích thường gặp và nâng cao sức khỏe cho trẻ.
Bất cứ làm việc gì có rác, bụi ở bàn ghế, sàn nhà như cắt xé giấy, gọt bút
chì, chơi trò chơi… giáo viên đều giáo dục trẻ biết quét dọn đem bỏ vào thùng
rác, không vứt bừa bãi; biết dọn dẹp đồ dùng, cất đồ chơi cẩn thận vào nơi quy
định sau khi dùng hoặc chơi xong.
Giường chiếu, tủ đồ chơi, giá khăn mặt, giá để ca cốc phải luôn giữ gọn
gàng, ngăn nắp.
Ví dụ: Dinh dưỡng, vệ sinh ăn uống như: Cải tiến bữa ăn, dinh dưỡng
hợp lý. Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm (không kén chọn thức ăn, ăn chín,
uống sôi, không ăn thức ăn ôi thiu..), biết phòng tránh ngộ độc thức ăn và các
bệnh do rối loạn dinh dưỡng.
Ví dụ: Chỉ đạo các trường thông qua buổi họp chuyên môn để đánh giá
những ưu điểm và hạn chế, đồng thời đưa vào tiêu chí thi đua hàng tháng, cuối
kỳ, cuối năm học. Đánh giá việc giáo viên rèn luyện, giáo dục kiến thức, kỹ
năng vệ sinh cá nhân cho trẻ, cách thực hiện như thế nào? tốt hay chưa tốt? thực
hiện có thường xuyên không? trẻ đã có kỹ năng thói quen chưa?... Ngoài ra tôi
gợi ý, hướng dẫn cho giáo viên truy cập trên mạng Internet một số tài liệu tham
khảo để nâng cao hiểu biết và có thêm kinh nghiệm dạy trẻ.
Nội dung bồi dưỡng chỉ đạo các trường triển khai vào đầu năm học, hàng
tuần, hàng tháng, bồi dưỡng qua các buổi sinh hoạt chuyên môn cho giáo viên.
* Bồi dưỡng hướng dẫn trẻ thực hành thao tác vệ sinh
Không phải trẻ nào cũng có thói quen biết rửa tay khi bẩn, trước khi ăn và
sau khi đi vệ sinh, chải răng, rửa mặt đúng quy trình. Muốn tạo được thói quen
cho trẻ thì công việc này phải được hướng dẫn chính xác và duy trì thường
xuyên, chủ yếu là giữ gìn vệ sinh thân thể sạch sẽ (đầu tóc, mặt mũi, chân tay,
răng miệng, quần áo…), vệ sinh đồ dùng cá nhân, vệ sinh trong ăn uống....
Ví dụ:
Bồi dưỡng cho giáo viên các thao tác thực hành vệ sinh
Vệ sinh mặt mũi. Hướng dẫn trẻ tự lau mặt sạch sẽ trước và sau khi ăn,
khi mặt bẩn (mùa đông cần chuẩn bị khăn ấm cho trẻ lau).
Vệ sinh bàn tay. Hướng dẫn trẻ biết và rửa tay đúng quy trình, lau tay khô
sạch sẽ (trẻ mới vào lớp, nên hướng dẫn trẻ tỉ mỉ từng thao tác rửa tay và tập cho
trẻ làm quen dần với việc tự phục vụ)
Vệ sinh răng miệng. Thường xuyên nhắc nhở trẻ uống nước và súc miệng
sau khi ăn. Kết hợp với gia đình dạy trẻ tập chải răng ở nhà. Tuyên truyền cho
phụ huynh không nên cho trẻ ăn quà vặt nhất là kẹo, bánh ngọt. Khám răng định
kì phát hiện sớm răng sâu và chữa trị kịp thời.
9


Hướng dẫn trẻ đi vệ sinh: Hướng dẫn trẻ đi vệ sinh đúng nơi quy định.
Dạy trẻ cách giữ vệ sinh cho bản thân, giữ gìn nhà vệ sinh sạch sẽ. Nhắc trẻ dội
nước, rửa tay sau khi đi vệ sinh.
Giữ gìn quần áo, giày dép sạch sẽ. Không để trẻ mặc quần áo ẩm, ướt. Khi
trẻ bị nôn hoặc đại, tiểu tiện ra quần áo hoặc khi mồ hôi ra nhiều, cần thay ngay
cho trẻ. Cởi bớt quần áo khi trời nóng hoặc mặc thêm áo khi trời lạnh. Nhắc nhở
phụ huynh chuẩn bị đủ tất, quần áo dự trữ để thay cho trẻ khi cần thiết. Cho trẻ
mặc quần áo bằng những loại vải mềm, thấm mồ hôi. Nên dùng loại giày, dép
vừa chân, mềm, mỏng, nhẹ, có quai sau và dễ cởi, tháo.
Để việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên có hiệu quả. Tôi chỉ đạo các
trường xây dựng quy chế hoạt động chuyên môn cụ thể, nhằm chấn chỉnh nề
nếp, kỷ cương trong nhà trường, đồng thời đưa vào quy chế chuyên môn và tiêu
chí đánh giá thi đua hàng tháng, cuối kì, cuối năm học.
2.3.2. Biện pháp 2: Chỉ đạo các trường lồng ghép nội dung giáo dục kỹ
năng vệ sinh cá nhân cho trẻ độ tuổi 5 - 6 tuổi khi xây dựng kế hoạch thực
hiện theo chủ đề.
Việc xây dựng kế hoạch có tầm quan trọng đặc biệt, nó được ví như chiếc
chìa khóa để thực hiện có hiệu quả mục tiêu đã đề ra, là kim chỉ nam có tác dụng
chỉ đạo cho hoạt động thực hiện theo con đường đã định sẵn. Kế hoạch cũng có
thể được xem như ngọn đèn dẫn lối cho ta thực hiện công việc một cách khoa
học và đi đến thành công. Xây dựng kế hoạch có nghĩa là giáo viên phải xác
định được những mục tiêu, những nội dung cụ thể, những phương thức tốt nhất
để lựa chọn. Việc xây dựng kế hoạch tạo điều kiện cho công tác kiểm tra, đánh
giá đạt hiệu quả cao hơn. Tuy nhiên, xây dựng kế hoạch phải cụ thể, bám sát vào
mục tiêu đề ra và phù hợp với đối tượng trẻ thì kế hoạch đó mới có thể thực hiện
và đạt mục tiêu theo kế hoạch.
Với trẻ 5 - 6 tuổi khi xây dựng kế hoạch thực hiện theo chủ đề để lồng
ghép nội dung giáo dục kỹ năng vệ sinh cá nhân cho trẻ một cách đầy đủ, rõ
ràng và phù hợp với lớp, độ tuổi mình phụ trách. Tôi đã chỉ đạo các trường thực
hiện như sau:
Ví dụ: Với chủ đề 1“Trường mầm non”
Dạy trẻ nhận biết được các món ăn tại trường có lợi cho sức khỏe.
Rèn cho trẻ thói quen vệ sinh cá nhân như: rửa mặt, chải răng, súc miệng,
rửa tay bằng xà phòng, rửa chân, mặc quần áo, đi vệ sinh đúng nơi quy định, giữ
gìn vệ sinh môi trường.
Dạy trẻ nhận biết được những hành động, đồ vật trong trường lớp có thể
gây hại cho sức khỏe, cho răng lợi như: không dùng tăm nhọn xỉa răng, cắn bút,
cắn vật quá nóng hay quá lạnh.
Giáo dục trẻ không nghịch đất, cầm, nắm chơi những vật bẩn, nguy hiểm.
Chủ đề 2: “Bản thân”
Trẻ biết được một số thức ăn tốt cho sức khỏe và răng lợi, cần ăn uống
đầy đủ chất để cơ thể khỏe mạnh.
Vệ sinh thân thể: tập cho trẻ có thói quen vệ sinh tự phục vụ trong sinh
hoạt (rửa mặt sạch sẽ; chải răng sau khi ăn, trước khi đi ngủ; rửa tay trước khi
10


ăn, khi tay bẩn và sau khi đi vệ sinh; rửa chân trước khi đi ngủ, khi chân bẩn,
không đi chân đất; đầu tóc luôn sạch sẽ gọn gàng; ăn mặc quần áo phù hợp; biết
lấy khăn lau mũi không quệt ra áo, tay áo...)
Vệ sinh ăn uống: trẻ biết lấy tay che miệng khi ho, ngáp, biết nhặt cơm rơi
vào đĩa riêng, không ngậm lâu thức ăn trong miệng, không nhai ngồm ngoàm.
Giáo dục trẻ nhận biết một số thói quen có hại cho sức khỏe và răng
miệng (mút tay, chống cằm, cắn vật cứng).
Trẻ biết giữ gìn bảo vệ sức khỏe: Nhận biết một số biểu biện khi ốm.
Chủ đề 3 “Gia đình”
Trẻ biết được các món ăn trong gia đình có lợi cho sức khỏe và răng
miệng; làm quen, nhận biết 4 nhóm thực phẩm (nhóm thực phẩm giàu chất đạm,
chất béo, chất Vitamin muối khoáng, chất bột đường)
Trẻ biết giúp bố mẹ một số công việc vừa sức trong gia đình
Dạy trẻ ăn uống sạch sẽ, ăn thức ăn đã nấu chín, uống nước đã được đun
sôi, ăn chậm nhai kỹ, không làm rơi vãi thức ăn khi ăn.
Luyện tập cho trẻ một số nề thói quen, hành vi văn minh trong ăn uống,
trẻ biết giúp mẹ chuẩn bị bàn ăn và biết cách sơ chế một số loại rau, quả.
Chủ đề 4 “Nghề nghiệp”
Giới thiệu cho trẻ một số nghề liên quan đến cung cấp thực phẩm, chăm
sóc bảo vệ sức khỏe (Bác sỹ, bác sỹ nha khoa, cô y tá; người sản xuất ca cốc,
khăn mặt, quần áo, giầy dép, xà phòng, kem đánh răng, bàn chải đánh răng...).
Dạy trẻ khi được khám sức khỏe, khám răng không sợ, phải “dũng cảm”
hợp tác với bác sỹ.
Trẻ nhận biết nơi nguy hiểm ở các khu vực sản xuất, xây dựng; mối nguy
hiểm khi nghịch kim tiêm, kéo, dụng cụ y tế.
Dạy trẻ tập chia thức ăn, rót nước uống. Rèn luyện cho trẻ thói quen tốt
trong ăn uống, tư thế ngồi khi ăn.
Dạy trẻ ăn uống sạch sẽ ở cửa hàng bán đồ ăn, có hành vi văn minh ăn
uống nơi công cộng.
Chủ đề 5“Thế giới động vật”
Trẻ nhận biết được giá trị dinh dưỡng của một số món ăn, thực phẩm có
nguốn gốc từ động vật và lợi ích của chúng đối với sức khỏe.
Trẻ biết giữ gìn vệ sinh an toàn thực phẩm. Không ăn thức ăn ôi thiu và
biết bảo quản thực phẩm.
Trẻ nhận biết được sự nguy hiểm khi trêu, chọc hoặc chơi với chó, mèo.
Cẩn thận khi tiếp xúc với con vật.
Trẻ biết gọi tên và phòng trách được một số bệnh lây nhiễm từ động vật.
Chủ đề 6 “Thế giới thực vật - Tết và mùa xuân”
Trẻ nhận biết được giá trị dinh dưỡng của một số món ăn, thực phẩm có
nguồn gốc từ thực vật và lợi ích của chúng đối với sức khỏe.
Trẻ có một số hiểu biết các món ăn ngày tết, giữ gìn vệ sinh an toàn thực
phẩm ngày tết.
Trẻ biết phải rửa sạch, gọt vỏ, bỏ hạt khi ăn các loại quả
Trẻ biết giữ gìn sức khỏe trong ngày Tết và khi thay đổi thời tiết. Biết ăn
mặc phù hợp với thời tiết.
11


Chủ đề 7 “Giao thông”
Trẻ nhận biết các phương tiện chuyên chở thực phẩm, xe cứu thương.
Dạy cho trẻ biết một số quy định an toàn cho bản thân khi tham gia giao
thông, giữ gìn sức khỏe khi đi trên các phương tiện giao thông.
Trẻ biết ăn những thức ăn, nước uống có lợi cho sức khỏe khi đi tàu, xe.
Chủ đề 8 “Nước và các hiện tượng tự nhiên ”.
Giáo dục trẻ biết được vai trò của nước đối với sức khỏe con người.
Dạy trẻ biết lựa chọn, ăn mặc trang phục phù hợp với thời tiết và lợi ích
việc ăn mặc phù hợp đối với sức khỏe con người.
Dạy trẻ biết bảo vệ bản thân khi gặp thời tiết mưa bão, sấm chớp.
Chủ đề 9 “Quê hương, Đất nước, Bác Hồ - Trường Tiểu học”
Dạy trẻ nhận biết một số món ăn theo vùng miền, một số món ăn của quê
hương tốt cho sức khỏe.
Trẻ biết giữ gìn vệ sinh trong ăn uống; vệ sinh môi trường và những ngày
lễ hội taị quê hương.
Trẻ nhận biết được một số bệnh liên quan đến ăn uống không hợp vệ sinh
Sử dụng đồ dùng học tập an toàn, ăn đủ chất để có sức khỏe vào lớp 1.
Trẻ biết cách ngồi đọc, viết đúng tư thế, đọc sách ở nơi đủ ánh sáng.
Như vậy, việc lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng vệ sinh cá nhân khi
xây dựng kế hoạch thực hiện chủ đề được chỉ đạo một cách cụ thể, chi tiết cùng
với việc thực hiện nghiêm túc của giáo viên sẽ mang lại kết quả tốt tạo cho trẻ
có thói quen vệ sinh cá nhân một cách thường xuyên.
2.3.3. Biện pháp 3: Chỉ đạo giáo viên làm tốt việc giáo dục kỹ năng vệ
sinh cá nhân cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động học và lồng ghép qua các
hoạt động khác theo chế độ sinh hoạt ngày của trẻ.
1. Giáo dục kỹ năng vệ sinh cá nhân thông qua hoạt động học
Tổ chức hoạt động học giáo dục vệ sinh là cách thức, tác động trực tiếp
đến nhận thức và hành vi của trẻ. Nhằm trang bị cho trẻ những tri thức chủ yếu
về vệ sinh, giúp trẻ nắm được các thao tác thực hiện trong từng hành động vệ
sinh một cách chính xác, đúng đắn, làm cơ sở để trẻ thực hành luyện tập trong
sinh hoạt hàng ngày. Trong quá trình tổ chức hoạt động này yêu cầu giáo
viên phải chuẩn bị đầy đủ đồ dùng, có thể sử dụng các dụng cụ trực quan như
tranh ảnh hoặc các dụng cụ vệ sinh cá nhân (vật thật), giúp trẻ dễ dàng nắm
được cách thức, quy trình thực hiện.
Ví dụ 1: Hướng dẫn trẻ thao tác rửa mặt [5]
Trước khi tiến hành giáo viên tạo hứng thú cho trẻ qua bài thơ “Bé tập
rửa mặt” hoặc bài hát mô phỏng động tác rửa mặt. Sau đó trò chuyện giải thích
với trẻ tại sao phải giữ cho mặt sạch sẽ, khi nào phải rửa mặt (khi mặt bẩn, lúc
ngủ dậy, khi đi chơi về, sau bữa ăn...). Hướng dẫn cách rửa mặt
Bước 1: Xắn cao tay áo (nếu tay áo dài)
Bước 2: Rửa tay sạch trước khi rửa mặt
Bước 3: Vò khăn trước khi vắt bớt nước. Nếu dùng chậu thì múc nước
vào chậu, vò khăn vắt bớt nước.
12


Bước 4: Giữ khăn, chải lên hai lòng bàn tay, lau 2 mắt trước, di chuyển
khăn lau sống mũi, di chuyển khăn cứ như vậy lau miệng, cằm, gấp đôi khăn lau
trán từng bên má.
Bước 5: Gấp đôi khăn lần nữa hoặc vò khăn lần hai, vắt bớt nước, lau gáy,
cổ lật mặt sau khăn ngoáy hai lỗ tai, vành tai, cuối cùng dùng 2 góc khăn ngoáy
hai lỗ mũi.
Bước 6: Vò khăn lần cuối vắt kiệt nước phơi khăn lên giá.
Ví dụ 2: Hướng dẫn trẻ thao tác rửa tay bằng xà phòng [5]
Giáo viên trò chuyện giúp trẻ hiểu vì sao phải rửa tay sạch sẽ? khi nào cần
phải rửa tay? hướng dẫn cách lấy nước lấy nước từ vòi, hoặc từ trong xô chậu,
thùng bể. Hướng dẫn thao tác vệ sinh rửa tay đúng cách.
Bước 1: Làm ướt hai bàn tay, xoa xà phòng vào lòng bàn tay. Chà xát hai
lòng bàn tay vào nhau.
Bước 2: Dùng ngón tay và lòng bàn tay cuốn và xoay từng ngón tay của
bàn tay kia và ngược lại.
Bước 3: Dùng bàn tay này chà xát lên cổ tay, mu bàn tay kia và ngược lại.
Bước 4: Dùng ngón tay của bàn tay này miết vào kẽ giữa các ngón tay của
bàn tay kia và ngược lại.
Bước 5: Chụm năm đầu ngón tay của bàn tay này cọ vào lòng bàn tay kia,
bằng cách xoay đi xoay lại và ngược lại.
Bước 6: Xả tay cho sạch hết xà phòng dưới nguồn nước sạch. Sau đó lau
tay bằng khăn khô.

13


Hình ảnh: Giáo viên hướng dẫn trẻ lau mặt, rửa tay theo quy trình
(lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi, trường MN
)
Ví dụ 3: Hướng dẫn trẻ chải răng, súc miệng [5].
* Hướng dẫn chải răng
Giáo viên trò chuyện với trẻ lợi ích của việc chải răng, khi nào cần chải
răng, tại sao phải chải răng đúng cách, giáo dục trẻ không dùng tăm xỉa răng.
Hướng dẫn trẻ biết các mặt của răng, sử dụng bàn chải riêng.
Hướng dẫn trẻ cách chải răng: Rửa sạch bàn chải dưới vòi nước, sau đó
lấy lượng kem đánh răng vừa đủ lên mặt bàn chải.
Chải mặt ngoài răng: Đặt bàn chải nghiêng 45 độ so với mặt ngoài của
răng, một phần bàn chải đặt lên nướu và kẽ răng luôn để lông bàn chải tiếp xúc
với răng. Chải nhẹ nhàng mặt ngoài với động tác rung và xoay tròn tại chỗ 6-10
lần cho từng đoạn (2-3 răng), sau đó nhích dần bàn chải qua phần răng kế tiếp,
tiếp tục chải hết mặt ngoài từ trái qua phải.
Chải mặt trong răng: Sau khi chải xong mặt ngoài thì chải đến mặt trong
của răng, giống như khi chải mặt ngoài của răng, đồng thời chải theo thứ tự để
không xót đoạn nào.
14


Chải mặt nhai răng: Đặt lông bàn chải thẳng góc với mặt nhai, hơi ép nhẹ
cho lông bàn chải chui vào rãnh trũng của răng, chải từng động tác lui từng đoạn
ngắn, khi chải răng xong cần rửa sạch bàn chải, cầm bàn chải cắm vào cốc theo
chiều thẳng đứng, cán ở phía dưới để bàn chải khô ráo.
* Hướng dẫn trẻ súc miệng: Ngậm một ngụm nước vừa phải, tốt nhất súc
miệng nước muối, ngậm 1-2 phút sau đó ngửa cổ để súc sạch cổ họng.

Hình ảnh: Giáo viên hướng dẫn trẻ cách chải răng và thực hành chải răng
(lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi, trường mầm non Đông Ninh)
Ví dụ 4: Hướng dẫn trẻ chải tóc [5]
Đối với bé gái cầm lược bằng tay phải, chia tóc làm 2 phần, chải tóc cho
suôn, rẽ ngôi và chải sang hai bên hoặc chải hất từ dưới ra sau, từ trên xuống
dưới (nếu tóc dài chải dần từ ngọn đến gốc để tóc không bị rối và không làm đau
đầu trẻ)
Đối với trẻ trai: Cầm lược bằng tay phải chải tóc cho suôn, rẽ ngôi và trải
15


sang hai bên hoặc chải hất ra sau, từ trên xuống dưới.
Ví dụ 5: Hướng dẫn trẻ mặc quần áo [5]
Đối với áo chui đầu: Cần xác định mặt trước của áo, xỏ từng tay áo, sau
đó chui từng tay áo, chui cổ áo qua đầu hoặc chui cổ áo qua đầu, chui từng tay
áo. Khi cởi áo cần kéo áo lên phía đầu, rồi lần lượt cởi từng bên tay áo sau đó
kéo áo qua đầu.
Đối với áo có cúc, mặc lần lượt từng ống tay một, kéo 2 vạt áo bằng nhau
và cài cúc, khuy, khóa, bẻ cổ áo, kéo áo phẳng phiu ngay ngắn. Khi cởi áo cởi
lần lượt hết hàng cúc, khuy, khóa sau đó cởi tay áo.
Mặc quần: Trẻ ngồi xuống ghế, giường để lấy thăng bằng lần lượt mặc
từng ống quần sau đó đứng dậy cài móc hoặc khóa, khuy.

Hình ảnh: Trẻ thực hành chải tóc và mặc quần áo
(lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi, trường mầm non
)
16


Ví dụ 6: Hướng dẫn trẻ rửa chân đi giầy dép [5]
* Rửa chân: Trẻ có thể đứng, hoặc ngồi trên ghế thấp, xắn cao ống quần
(nếu quần dài). Mở vòi nước hoặc dùng gáo dội nước vào hai chân từ cổ chân
xuống làm ướt hai bàn chân. Dùng chân này cọ vào chân kia (tay vịn bạn hoặc
vật chắc để giữ thăng bằng) rửa cổ chân, mắt cá, mu bàn chân, ngón chân, kẽ
ngón chân. Dội nước sạch lau khô chân và đi dép.
* Đi giày dép: Dạy trẻ phân biệt chân trái, chân phải. Đặt đôi giày dép
trước mặt hướng dẫn trẻ đi từng chân trái, phải cho đúng chân nào thì xỏ giày
dép đó. Hướng dẫn cách buộc dây giày bằng cách làm mẫu 2-3 lần, sau đó để trẻ
tự làm và cô giúp đỡ trẻ khi cần thiết.
Như vậy thông qua tiết học giáo dục vệ sinh, trẻ có những kiến thức kỹ
năng cần thiết về thao tác vệ sinh đúng cách, đúng quy trình từ đó trẻ áp dụng
vào hoạt động hàng ngày một cách hiệu quả hơn.
2. Giáo dục kỹ năng vệ sinh cá nhân thông qua các hoạt động khác
Việc chăm sóc sức khỏe, giáo dục vệ sinh cho trẻ được tiến hành thông
qua các hoạt động giáo dục ở trường mầm non với nhiều hoạt động phong phú,
đa dạng trẻ được rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, thói quen và có cảm xúc tốt đối với
quá trình thực hiện các hoạt động dạy học như: Hoạt động văn học, âm nhạc
khám phá khoa học, thể dục.... trẻ sẽ lĩnh hội được các biểu tượng đúng về quá
trình vệ sinh, hiểu được ý nghĩa của nó.
Nội dung giáo dục thói quen vệ sinh cá nhân cho trẻ thông qua hoạt động
học cần phải đảm bảo được tính tự nhiên, hợp lý từng hoạt động. Nội dung giáo
dục phải là một bộ phận không tách rời hoạt động học tập, có tác dụng làm tăng
ý nghĩa thực tiễn của hoạt động học tập gắn với cuộc sống, các nội dung lồng
ghép không làm biến dạng nội dung học tập. Tránh hiện tượng khai thác hoạt
động học tập một cách máy móc, quá sơ sài, mang tính hình thức. Song lưu ý
tránh quá đơn giản, nhạt nhẽo làm trẻ chán hoặc quá cao so với nhận thức của
trẻ, nội dung đưa ra phải thiết thực, gần gũi với trẻ.
Ví dụ 1: Thông qua hoạt động Khám phá khoa học “Tìm hiểu về cơ thể
của bé” hướng dẫn giáo viên nội dung lồng ghép: Để cơ thể chúng ta khỏe
mạnh, phát triển cân đối thì ngoài ăn uống đủ chất, các con phải làm gì? (cô để
trẻ tự nói lên ý hiểu của trẻ), sau đó cô củng cố cho trẻ hiểu: Cần phải giữ gìn vệ
sinh cho cơ thể luôn được sạch sẽ như: Rửa tay, rửa mặt, tắm rửa hàng ngày...
Hay khi dạy trẻ “Tìm hiểu các giác quan” giáo viên lồng ghép: Để bảo vệ
đôi mắt các con phải làm gì? tại sao phải làm như vậy? làm thế nào để đôi tay,
đôi chân được sạch sẽ?...
Ví dụ 2: Thông qua hoạt động dạy Thơ bài “Cơ thể nói gì”
Qua bài thơ giáo viên trò chuyện với trẻ cơ thể các con gồm bộ phận nào?
Đôi mắt giúp chúng ta những gì? Nếu mắt bị đau thì điều gì sẽ xảy ra? Để cho
đôi mắt trong sáng, không bị đau, các con phải làm gì? Miệng để làm gì? Để
miệng luôn sạch sẽ thơm tho thì các con phải làm sao? Chân để làm gì? Để bảo
vệ đôi chân các con phải làm gì? Muốn có mái tóc gọn gàng, sạch sẽ các con
phải làm thế nào? Bàn tay mà nghịch bẩn điều gì xảy ra?...

17


Ví dụ 3: Thông qua hoạt động Âm nhạc giáo viên dạy các bài hát để cung
cấp kiến thức vệ sinh cho trẻ như bài hát “Khám tay” giáo dục trẻ hàng ngày các
con phải làm gì để tay sạch sẽ? Nếu tay bẩn phải làm gì?...
Hay bài hát “Rửa mặt như mèo” giáo dục trẻ bài hát nói về chú mèo rửa
mặt như thế nào? Vì sao chú mèo bị đau mắt? (cô nhấn mạnh chú mèo rửa mặt
không sạch, không lấy khăn lau nên đã bị đau mắt rồi khóc). Giáo dục trẻ hàng
ngày biết dùng khăn lau mặt sạch sẽ để giữ gìn vệ sinh cơ thể.
Ví dụ 4: Thông qua hoạt động Tạo hình bài “xé dán” giáo dục trẻ biết giữ
gìn vệ sinh, không vứt giấy vụn bừa bãi, thu gom giấy vụn vào thùng rác, rửa tay
sạch sẽ khi kết thúc hoạt động...
Như vậy việc lồng ghép giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ, thường liên hệ
thực tế gợi lại những điều trẻ đã biết, đưa ra tình huống cho trẻ giải quyết sẽ
giúp trẻ tiếp thu bài nhanh hơn, hiểu được cách bảo giữ gìn vệ sinh, bảo vệ cơ
thể tốt hơn.
3. Giáo dục kỹ năng vệ sinh cá nhân thông qua hoạt động vui chơi
Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo, vui chơi có vai trò quan
trọng đối với việc hình thành nhân cách trẻ nói chung, giáo dục vệ sinh bảo vệ
sức khỏe nói riêng. Bởi vì chơi là quá trình để trẻ học, được trải nghiệm những
cảm xúc, hành vi của con người qua các vai chơi khác nhau. Do vậy những yếu
tố đạo đức xuất hiện ngay trong bản thân trẻ một cách tích cực, có tác dụng hình
thành động cơ đúng cho trẻ, chứ không phải lời nói trừu tượng. Nội dung giáo
dục thói quen vệ sinh phụ thuộc vào chủ đề chơi, dựa vào chủ đề chơi để hình
thành kỹ năng vệ sinh cá nhân cho trẻ.
Ví dụ 1: Hoạt động chơi ở các góc hướng dẫn giáo viên cho trẻ chơi:
Góc chơi phân vai: Nhóm chơi bế em trẻ chơi (rửa mặt, rửa tay, tắm cho
búp bê, cho búp bê ăn, chăm sóc búp bê bị ốm, bị đau mắt, vệ sinh quần áo, mũ
dép, giường chiếu cho búp bê).
Nhóm chơi bán hàng, nấu ăn: Trẻ biết được những đồ chơi dùng để chơi
không được bóc, cắn ăn ...
Góc chơi xây dựng: Nhắc nhở trẻ không ngồi lê la dưới đất, khi chơi tay
bẩn không dụi lên mặt, mắt, mũi.
Góc tạo hình: Chơi nặn, vẽ, xé dán tay bẩn không dụi lên mặt mũi, chơi
xong biết thu dọn đồ dùng, đồ chơi gọn gàng, rác, giấy vụn biết thu rọn bỏ vào
thùng rác.
Góc khám phá khoa học: Chơi với cát, nước giáo viên hướng dẫn, giáo
dục trẻ chơi sạch sẽ, không vầy nước, nghịch nước làm ướt quần áo.
Góc chơi kỹ năng sống: dạy trẻ các kỹ năng cài cúc áo, tết, chải tóc...

18


Hình ảnh: Góc chơi thực hành kĩ năng sống
(lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi, trường mầm non Đông Hoàng)
Ví dụ 2: Thông qua hoạt động chơi ngoài trời khi cho trẻ lao động nhặt lá
rụng, rọn vệ sinh sân trường, quan sát chăm sóc cây, nhổ cỏ, tưới cây. Giáo dục
trẻ tay bẩn không dụi lên mắt, mặt mũi, chơi xong trẻ biết rửa tay sạch sẽ, không
chơi những nơi bẩn, nơi nguy hiểm, nơi nắng to, gió lạnh. Kết thúc hoạt động
nhắc nhở trẻ xếp đồ chơi gọn gàng, rửa tay sạch sẽ)
Như vậy việc lồng ghép giáo dục kỹ năng vệ sinh cá nhân cho trẻ qua hoạt
động vui chơi, giúp trẻ có cơ hội truyền tri thức và kỹ năng đã biết để đạt được
mục đích chơi. Cùng với sự hỗ trợ của cô giáo trẻ phát triển mối quan hệ trong
trò chơi bằng cách mở rộng nội dung chơi, vai chơi. Qua đó giúp trẻ kịp thời
điều chỉnh hành động đúng hướng. Từ đó giáo viên giao nhiệm vụ cho trẻ luyện
tập vệ sinh trong sinh hoạt hàng ngày.
4. Giáo dục kỹ năng vệ sinh cá nhân cho trẻ thông qua mọi lúc, mọi nơi
19


Giáo dục thói quen vệ sinh, chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho trẻ thông qua
hoạt động hàng ngày phụ thuộc vào nội dung sinh hoạt của trẻ. Muốn xác định
nội dung cụ thể cần dựa vào hoạt động sinh hoạt hàng ngày của trẻ. Từ đó để lựa
chọn nội dung chăm sóc sức khỏe, giáo dục vệ sinh trẻ cho phù hợp . Các nội
dung giáo dục thói quen vệ sinh, kỹ năng thực hành tôi hướng dẫn chỉ đạo giáo
viên lồng ghép vào tất cả các hoạt động trong ngày.
Ví dụ 1: Trong giờ đón trẻ, khi trẻ đến lớp cô nhắc nhở trẻ để giày dép, đồ
dùng cá nhân ngay ngắn đúng nơi quy định, ăn mặc phù hợp với thời tiết, trời
lạnh quàng khăn, đi tất, mặc áo ấm, trời nóng mặc áo mỏng, ngắn tay...
Hay trò chuyện với trẻ: Buổi sáng thức dậy các con làm những việc gì
phục vụ cho bản thân? Các con chải răng như thế nào? Lau mặt ra sao? Khi chải
răng, lau mặt xong các con thấy thế nào? để trẻ tự nói lên suy nghĩ của trẻ và sau
đó cô giáo nhắc nhở trẻ làm đúng quy trình, đúng thao tác vệ sinh.
Ví dụ 2: Khi dạo chơi ngoài sân trường cô cho trẻ quan sát, phân biệt, so
sánh các loại rau, củ, quả, con vật và lợi ích của chúng đối với sức khỏe con
người. Cô giáo dục trẻ không đưa tay bẩn lên mắt, vứt rác ra sân trường, không
được chơi với vật sắc nhọn, ngậm vật bẩn, cứng, hột hạt vào mồm, rửa tay sạch
sẽ trước khi vào lớp. Đồng thời hướng dẫn trẻ một số nguyên tắc chơi ngoài trời
an toàn, không chơi gần nơi nguy hiểm, đồ chơi được phép chơi và không được
phép chơi (đồ chơi nguy hiểm, sắc nhọn).

Hình ảnh: Trẻ sắp xếp dép gọn gàng và vứt rác đúng nơi quy định.
(lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi, trường mầm non
)
Ví dụ 3: Đối với giờ ăn cô giới thiệu cho trẻ biết thức ăn trong bữa ăn,
nhắc trẻ nhai kỹ, ăn uống từ tốn, không nhai ngồm ngoàm nuốt vội, không ngậm
lâu thức ăn trong miệng, biết nhặt cơm rơi vào đĩa riêng, khi ho ngáp, hắt hơi
biết lấy tay che miệng, ăn xong biết chải răng, súc miệng sạch sẽ...
Giờ ngủ cô nhắc nhở trẻ đi vệ sinh trước khi ngủ, tự lấy gối, tuyệt đối
không được ra ngoài khi không được phép.
Hướng dẫn trẻ rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, khi tay bẩn, không
vứt đồ chơi bừa bãi, chơi xong sắp xếp gọn gàng và đúng nơi quy định. Cuối
tuần cho trẻ tổng vệ sinh đồ chơi, đồ dùng.
20


Hình ảnh: Giờ ăn và giờ ngủ của trẻ lớp 5 - 6 tuổi, trường mầm non Đông Ninh
Ví dụ 4: Hoạt động chiều sau khi ngủ dậy cô cho trẻ đi vệ sinh, rửa tay,
rửa mặt sạch sẽ, ngậm nước muối cho sạch miệng, giúp cô thu dọn chăn, chiếu,
gối rồi vận động nhẹ nhàng chuẩn bị ăn chiều. Thời gian hoạt động chiều ngoài
việc ôn luyện kiến thức cũ, cô hướng dẫn cho trẻ ôn lại kỹ năng thực hành thao
tác vệ sinh. Sau đó cho trẻ chuẩn bị đồ dùng cá nhân, sửa sang quần áo, giày dép
chuẩn bị ra về.
Giờ trả trẻ cô phối hợp với phụ huynh, lồng ghép giáo dục vệ sinh cá nhân
cho trẻ và cách phòng tránh một số bệnh thường gặp do vấn đề vệ sinh gây ra.
Có thể nói, thông qua các hoạt động lồng ghép giáo dục kỹ năng vệ sinh
cá nhân, chăm sóc sức khỏe cho trẻ mọi lúc, mọi nơi giúp trẻ được luyện tập, ghi
21


nhớ các kỹ năng, thao tác vệ sinh mà cô giáo hướng dẫn. Từ đó trẻ thực hiện
đúng quy trình, đúng thao tác,giúp cho trẻ có kỹ năng thói quen vệ sinh tốt trong
sinh hoạt hàng ngày.
2.3.4. Biện pháp 4: Chỉ đạo các nhà trường làm tốt công tác phối hợp
tuyên truyền với phụ huynh giáo dục kỹ năng vệ sinh cá nhân cho trẻ.
Phối kết hợp giữa nhà trường và gia đình có vai trò tác động vô cùng quan
trọng, gia đình là trọng tâm của hoạt động kết hợp, là nơi trẻ được sinh ra, lớn
lên và hình thành nhân cách của mình. Ảnh hưởng giáo dục của gia đình đến với
trẻ là sớm nhất. Ý nghĩa của việc phối hợp giáo dục đã được Bác Hồ khẳng định
tại Hội nghị cán bộ Đảng trong ngành giáo dục tháng 6/1957: “Giáo dục trong
nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia
đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong
nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội
thì kết quả cũng không hoàn toàn” [6]. Chính vì vậy tôi chỉ đạo giáo viên phối
hợp chặt chẽ với phụ huynh, nội dung phối hợp ngoài việc phụ huynh quan tâm
đến chế độ ăn uống, sinh hoạt, học tập, dạy trẻ cách giao tiếp ứng xử đúng đắn,
giáo dục lòng thương yêu đối với con người và sự vật và xung quanh. Lưu ý
giáo viên nội dung phối hợp nề nếp thói quen vệ sinh, chăm sóc sức khỏe cho trẻ
ở gia đình, trao đổi tuyên truyền cho phụ huynh biết và hiểu được kiến thức
cũng như các thao tác, kỹ năng chăm sóc giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ, để
phụ huynh rèn luyện nhắc nhở giáo dục trẻ ở nhà nhằm giúp trẻ có thói quen vệ
sinh tốt. Tuyên truyền cho phụ huynh biết muốn giáo dục trẻ thì người lớn phải
là tấm gương sáng cho trẻ noi theo. Sự gương mẫu của người lớn ảnh hưởng rất
lớn đối với trẻ. Đặc điểm của trẻ là hay bắt chước những hành động, lời nói của
người lớn. Vì vậy muốn giáo dục trẻ làm một việc gì, thì người lớn phải làm
việc đó.
Ví dụ 1: Tuyền truyền với phụ huynh qua giờ đón. trả trẻ, nhắc nhở trẻ
đến lớp chào cô giáo, chào bạn, tạm biệt bố mẹ, hướng dẫn nhắc nhở trẻ cất đồ
dùng cá nhân đúng nơi quy định, sắp xếp giày dép gọn gàng, ăn mặc đủ ấm khi
trời lạnh, trời nóng trẻ tự cởi bớt quần áo, khi về trẻ biết tự chuẩn bị quần áo,
đầu tóc sạch sẽ gọn gàng, tự lấy đồ dùng cá nhân, xin phép cô giáo, chào bố mẹ,
tạm biệt bạn ra về.
Ví dụ 2: Tuyên truyền thông qua cuộc họp phụ huynh, tôi chỉ đạo cho
giáo viên dành thời gian tuyên truyền kiến thức, cách chăm sóc vệ sinh cho trẻ ở
gia đình cũng như mọi lúc, mọi nơi.
Ví dụ 3: Tuyên truyền qua góc trao đổi với phụ huynh của các nhóm lớp,
ngoài những nội dung tuyền truyền chăm sóc giáo dục trẻ, thì nội dung tuyên
truyền giáo dục thói quen vệ sinh, chăm sóc sức khỏe cho trẻ bằng những hình
ảnh, nội dung tuyên truyền phong phú, đa dạng. Các nội dung tuyên truyền
thường xuyên được thay đổi để làm mới hình thức tuyên truyền.
Ví dụ 4: Tuyên truyền qua đài truyền thanh của trường phát vào các buổi
sáng và chiều trong giờ đón, trả trẻ. Nội dung giáo dục vệ sinh, chăm sóc sức
khỏe cho trẻ, cách phòng trách một số các bệnh thường gặp do vấn đề vệ sinh
22


gây ra. Nội dung tuyên truyền rất thực tế với sinh hoạt cuộc sống hàng ngày nên
được phụ huynh quan tâm và chú ý lắng nghe.
Việc phối hợp giữa gia đình, nhà trường nhằm đảm bảo sự thống nhất trong
nhận thức cũng như các hoạt động giáo dục của nhà trường và gia đình cùng một
hướng, một mục đích, tạo sức mạnh kích thích, thúc đẩy quá trình phát triển
nhân cách của trẻ đạt kết quả tốt hơn.

Hình ảnh: Góc trao đổi với phụ huynh lớp 5 - 6 tuổi trường MN Đông Hoàng
2.3.5. Biện pháp 5. Thực hiện nghiêm túc công tác kiểm tra đánh giá ở
các trường học trên địa bàn.
23


Việc kiểm tra, đánh giá kết quả mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Bởi vì có kiểm tra mới nắm bắt được giáo viên thực hiện như thế nào? tốt hay
chưa tốt? để biểu dương những việc làm tốt, điều chỉnh kịp thời những việc làm
chưa tốt. Nội dung kiểm tra với nhiều hình thức khác nhau như:
Kiểm tra thường xuyên: Chỉ đạo cán bộ quản lý các trường hàng ngày
kiểm tra, giám sát việc giáo viên thực hiện giáo dục, rèn luyện vệ sinh cho trẻ có
thường xuyên không, kiểm tra vệ sinh trước, trong và sau khi ăn của trẻ như thế
nào. Sắp xếp đồ dùng cá nhân của trẻ có gọn gàng không? Nhà vệ sinh có khô
ráo sạch sẽ không? Từ đó biết được giáo viên nào thực hiện tốt, giáo viên nào
thực hiện chưa tốt để góp ý, chấn chỉnh ngay.
Kiểm tra trước khi ăn trẻ có rửa tay không? Việc kê sắp bàn ăn, chỗ ngồi
cho trẻ có đảm bảo thoải mái không? đã thuận tiện cho cô chăm sóc bữa ăn cho
trẻ chưa. Trên bàn ăn của trẻ có đầy đủ khăn, đĩa đựng khăn lau tay, đựng thức
ăn rơi chưa? Trong quá trình ăn trẻ có nhặt thức ăn rơi để ăn không? trẻ có bốc
thức ăn trong bát mình hay bát của bạn không?...
Chuẩn bị khăn lau miệng cho trẻ ăn xong được gấp vắt trên giá khăn ra
sao để cho trẻ nhận được ký hiệu của mình. Trẻ có súc miệng sau khi ăn
không?...
Dụng cụ cho trẻ ăn uống: Bát, thìa, cốc luôn được rửa sạch, tráng nước sôi
để ráo trước khi sử dụng và cuối ngày úp cất vào tủ đóng cửa để trách chuột, côn
trùng bò vào...
Kiểm tra đột xuất: Ngoài việc kiểm tra thường xuyên hàng ngày, tăng
cường kiểm tra đột xuất các nhóm lớp có thực hiện theo kế hoạch đề ra không.
Kiểm tra bất kỳ ngày nào trong tuần hoặc trong tháng và bất kỳ thời điểm nào
trong ngày, việc thực hiện của giáo viên ở các nhóm lớp.
Quan sát đánh giá: Ngoài việc kiểm tra trực tiếp, quan sát giáo viên và trẻ
xem việc thực hiện của giáo viên, trẻ đạt được mức độ nào để có biện pháp chỉ
đạo phù hợp.
Ví dụ: Theo dõi giáo viên có giặt khăn cho trẻ thường xuyên không? có
chuẩn bị đầy đủ đồ dùng cho trẻ trước khi ăn không? Trẻ rửa tay cô giáo có
hướng dẫn, nhắc nhở các thao tác rửa tay cho những trẻ chưa?
Qua quan sát để nắm được phương pháp giáo dục, rèn luyện của giáo
viên, nhận thức của trẻ để có biện pháp điều chỉnh kịp thời giúp giáo viên thực
hiện nghiêm túc và thường xuyên hơn.
Khảo sát trên trẻ: Qua việc kiểm tra giáo viên, việc khảo sát trên trẻ, để
nhận biết được giáo viên đã rèn luyện, giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ có
thường xuyên không, tốt hay chưa tốt.
Ví dụ: Khảo sát trẻ vệ sinh trước, trong, sau khi ăn trẻ thực hiện những gì,
nếu đa số trẻ thực hiện và trả lời được, như vậy là giáo viên đã giáo dục trẻ và
trẻ cũng được thực hiện thường xuyên. Ngược lại nếu nhiều trẻ chưa biết hoặc
thực hiện chưa đúng, như vậy giáo viên nhóm lớp đó chưa thực hiện thường
xuyên…
Căn cứ vào kết quả kiểm tra để chỉ đạo các trường xếp loại giáo viên,
nhóm lớp hàng tháng, cuối kỳ tổng hợp đánh giá xếp loại và đưa vào tiêu chí
xếp loại thi đua cuối năm học và đánh giá chuẩn nghề nghiệp giáo viên.
24


2.4. Kết quả đạt được
Sau khi áp dụng các biện pháp trên trong năm học 2018 - 2019. Kết quả
khảo sát vào thời điểm tháng 3/2019 tại 9 lớp mẫu giáo với 225 trẻ 5 - 6 tuổi, 18
giáo viên ở 3 trường mầm non Đông Hoàng, Đông Ninh và
. Kết quả như
sau:
* Khảo sát cơ sở vật chất của 9 lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi/3 trường
Số lớp đạt Tỉ lệ
TT
Nội dung đánh giá
yêu cầu
(%)
1 Lớp học đảm bảo diện tích, thoáng mát cho trẻ sinh hoạt
9
100
hàng ngày.
2 Lớp có tên các góc phù hợp, phân chia không gian hợp
9
100
lý, màu sắc hài hòa, nội dung chơi rõ ràng, thiết kế theo
hướng mở, linh hoạt, sáng tạo.
3 Có đủ trang thiết bị cho trẻ tham gia các hoạt động theo
9
100
chế độ sinh hoạt.
4 Có đủ đồ dùng cho trẻ vệ sinh cá nhân hàng ngày.
9
100
5 Lớp có nhà vệ sinh riêng khép kín, đảm bảo yêu cầu.
9
100
Số lớp được đánh giá chung đạt yêu
9
100
cầu:
* Khảo sát 225 trẻ/9 lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua việc trò chuyện, quan
sát khi trẻ tham gia hoạt động vệ sinh cá nhân.
Số trẻ đạt Tỉ lệ
TT
Nội dung đánh giá
yêu cầu
(%)
1 Trẻ mạnh dạn, tự tin, thân thiện và tích cực trong giao
225
100
tiếp và trong các hoạt động tập thể.
2 Trẻ có thói quen vệ sinh thân thể (rửa mặt, rửa tay, chân,
225
100
đi giày dép, đánh răng, trải tóc, mặc quần áo).
3 Trẻ có thói quen vệ sinh trong ăn uống.
225
100
4 Trẻ có thói quen đi vệ sinh đúng nơi quy định.
225
100
5 Trẻ có ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường.
225
100
Số trẻ được đánh giá chung đạt yêu cầu:
225
100
* Khảo sát 18 giáo viên trực tiếp đứng 9 lớp thông qua trao đổi phỏng
vấn và quan sát cách giáo viên hướng dẫn, tổ chức hoạt động vệ sinh cá
nhân cho trẻ.

TT
Nội dung đánh giá
1 Giáo viên coi trọng ngôn ngữ giao tiếp, thể hiện mối
quan hệ thân thiện đối với trẻ luôn mẫu mực trong sinh
hoạt hàng ngày để trẻ noi theo.
2 Giáo viên có ý thức trong việc vệ sinh đồ dùng, đồ chơi
và thường xuyên thay đổi cách trang trí, sắp xếp góc chơi
tạo hứng thú cho trẻ.

Số GV đạt
yêu cầu
18

Tỉ lệ
(%)
100

18

100

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×