Tải bản đầy đủ

Tiểu luận cao cấp chính trị đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác Cổ phẩn hoá các doanh nghiệp Nhà nước

Tiểu luận tốt nghiệp

Cao cấp lý luận chính trò

LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang trong quá trình đổi mới, Đảng
và Nhà nước chủ trương thực hiện nhất quán và lâu
dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thò trường
có sự quản lý của Nhà nước, theo đònh hướng xã
hội chủ nghóa.
Trong bước chuyển đổi chung của nền kinh tế,
các doanh nghiệp Nhà nước cũng đã chuyển hoạt
động từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thò
trường, lấy hiệu quảû sản xuất kinh doanh làm thước
đo cho hoạt động của mình và đó cũng là yếu tố
quyết đònh đến sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp.
Qua thực tế hoạt động trong cơ chế với sự cạnh
tranh gay gắt, quyết liệt, có nhiều doanh nghiệp đã
làm ăn có hiệu quảû, không những trụ vững được

mà ngày càng có xu hướng phát triển, khẳng đònh
được vò thế của mình trên thương trường và đã đóng
góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước,
cũng như mỗi ngành, mỗi đòa phương, song song với
những nỗ lực trên, bên cạnh đó cũng còn không ít
doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, nợ nần, phá sản, do
không tuân thủ các quy luật kinh tế khách quan, và
có một phần vi phạm các quy đònh của Nhà nước
làm cho đội ngũ Cán bộ của Đảng và Nhà nước bò
thiệt hại, gây nên nhiều hậu quả kinh tế, xã hội
phải giải quyết trong thời gian dài.
Báo cáo chính trò Đại hội đại biểu toàn quốc
khoá IX của Đảng đã khẳng đònh: Kinh tế Nhà nước
phải giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực
lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà
nước đònh hướng và điều tiết vó mô nền kinh tế.
Doanh nghiệp Nhà nước giữ vò trí then chốt, đi đầu
ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nêu gương
về năng suất chất lượng, hiệu quảû kinh tế – xã hội
và chấp hành pháp luật. Trong 5 năm qua nhiều đạo
luật về kinh tế, xã hội được ban hành đã thể chế,
cụ thể hoá đường lối chính sách của Đảng, Nhà
nước, hình thành về cơ bản khuôn khổ, pháp lý cho
Trang 1


Tiểu luận tốt nghiệp

Cao cấp lý luận chính trò

nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành
trong cơ chế thò trường, có sự quản lý của Nhà nước
theo đònh hướng xã hội chủ nghóa. Cơ chế quản lý
kinh tế, hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách được
đồng bộ hoá và hoàn thiện dần, đang phát huy tích
cực trong quản lý kinh tế và trong đời sống xã hội.
Vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để sắp
xếp lại khu vực kinh tế Nhà nước, mà chủ yếu là
các doanh nghiệp Nhà nước, nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động và vai trò chủ đạo của nó trong nền


kinh tế thò trường theo đònh hướng xã hội con người
như tinh thần của các Nghò quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII và IX của Đảng đã đề
ra.
Để thực hiện được yêu cầu đó, một trong những
giải pháp có ý nghóa chiến lược là chuyển một bộ
phận Doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty Cổ phần
( gọi là cổ phần hoá) nhằm đa dạng hoá sở hữu,
thay đổi phương thức quản lý, đưa các yếu tố cạnh
tranh lành mạnh vào, tạo động lực thúc đẩy và tăng
khả năng huy động vốn của toàn xã hội, nâng cao
thu nhập của người lao động, tạo điều kiện làm chủ
thật sự của người lao động và người mua cổ phiếu,
nhằm thực hiện tốt việc phát huy nội lực, góp phần
tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước.
Để làm rõ đề tài Tôi xin được nêu một số quan
điểm chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước
về công tác Cổ phẩn hoá các doanh nghiệp Nhà
nước và khái quát thực trạng của việc Cổ phẩn hoá
các doanh nghiệp Nhà nước trên đòa bàn Tỉnh Tây
Ninh trong thời gian qua và hiện nay, những mặt được
và những mặt còn tồn tại cần phải khắc phục
nhằm góp phần nâng cao hiệu quảû cho quá trình Cổ
phẩn hoá các doanh nghiệp Nhà nước tại Tỉnh nhà.

Trang 2


Tiểu luận tốt nghiệp

Cao cấp lý luận chính trò

CHƯƠNG I
I/. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ
CỔ PHẦN HOÁ:
Nghò quyết Đại hội VIII (tháng 6 năm 1996) đã
khẳng đònh: “ Triển khai tích cực và vững chắc
việc cổ phẩn hoá doanh nghiệp Nhà nước để
huy động thêm vốn, tạo thêm động lực thúc
đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu qủa làm cho
tài sản Nhà nước ngày càng tăng lên, không
phải để tư nhân hoá. Bên cạnh những Doanh
nghiệp 100% Nhà nước sẽ có nhiều doanh
nghiệp Nhà nước nắm đa số hay nắm tỷ lệ cổ
phần chi phối. Gọi thêm cổ phần hoặc bán cổ
phần cho người lao động tại Doanh nghiệp, cho
các tổ chức và cá nhân ngoài doanh nghiệp
tuỳ trường hợp cụ thể, vốn huy động phải được
dùng để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh
(Văn kiện Đại hội VIII, Sđđ trang 93). Nghò quyết
Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4 khoá
VIII ( tháng 12 năm 1997) đã chỉ rõ” … xác đònh
danh mục loại Doanh nghiệp cần giữ 100% vốn Nhà
nước, loại Doanh nghiệp Nhà nước chỉ cần giữ tỷ lệ
cổ phần ở mức thấp. Trong khi sắp xếp, cần chú ý
đến điều kiện đặc thù của các vùng miền núi,
vùng sâu, vùng xa… Đối với các Doanh nghiệp Nhà
nước không cần nắm 100% vốn, cần lập kế hoạch
cổ phần hoá để tạo động lực phát triển thúc đẩy
làm ăn có hiệu quả. Sửa đổi, bổ sung các quy đònh,
Trang 3


Tiểu luận tốt nghiệp

Cao cấp lý luận chính trò

kiện toàn tổ chức chỉ đạo cổ phần hoá các cấp.
Thí điểm việc bán cổ phần cho người nước ngoài.
Khuyến khích nông dân sản xuất nguyên liệu, tham
gia mua cổ phần ở các Doanh nghiệp chế biến nông
sản… chuyển các Doanh nghiệp kinh doanh sang hoạt
động theo cơ chế Công ty Trách nhiệm hữu hạn hoặc
Công ty Cổ phần… ( Văn kiện hội nghò, trang 68, 69,
70).
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, ngay từ
năm 1987, với Quyết đònh 217/HĐBT Chính phủ đã tạo
bước đột phá, giao quyền tự chủ cho các Doanh
nghiệp Nhà nước. Việc cổ phần hoá doanh nghiệp
Nhà nước được triển khai thí điểm theo quyết đònh
202/CT ngày 08/06/1992 của Chủ tòch Hội đồng Bộ
trưởng. Kết quả thực hiện thí điểm đã khẳng đònh cổ
phần hoá là một biện pháp tích cực nhằm cải tổ lại
các Doanh nghiệp Nhà nước. Các Nghò đònh 28/CP
ngày 07/05/1996, Nghò đònh sửa đổi 25/CP ngày
26/03/1997 đã cụ thể hoá quyết tâm của Chính phủ
về công tác cổ phần hoá. Nghò đònh 44/1998/NĐ-CP
ngày 29/06/1998 của Chính phủ đã quy đònh các
nguyên tắc thành lập Công ty Cổ phần, và phân
loại các doanh nghiệp để lựa chọn cổ phần hoá.
Triển khai nội dung các Nghò đònh của Chính phủ, Bộ
Tài chính đã có nhiều văn bản hướng dẫn, cụ thể
như thông tư 47/TC-TCT ngày 17/08/1996, thông tư 50/TCTCDN ngày 30/08/1996 “ Hướng dẫn những vấn đề
Tài chính, bán cổ phần và phát hành cổ phiếu
trong việc chuyển một số Doanh nghiệp Nhà
nước thành Công ty cổ phần”. Bên cạnh đó, Ban
đổi mới quản lý Doanh nghiệp Trung ương, Văn phòng
Chính phủ, Kho bạc Nhà nước Trung ương, Tổng cục
Quản lý vốn tài sản Nhà nước tại Doanh nghiệp, Ủy
ban Chứng khoán Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam, Bộ Lao động Thương binh Xã hội, Tổng Liên
đoàn Lao động Việt Nam cũng đã ra nhiều văn bản
để hướng dẫn chính sách và các nội dung liên quan
đến công tác cổ phần hoá.
Như vậy có thể nói việc cổ phần hoá Doanh
nghiệp Nhà nước đã có đầy đủ căn cứ pháp lý
và “ Độ chín mùi” để từng ngành, từng đòa phương
và Doanh nghiệp Nhà nước triển khai thực hiện mục
Trang 4


Tiểu luận tốt nghiệp

Cao cấp lý luận chính trò

tiêu nhất quán của việc chuyển Doanh nghiệp Nhà
nước thành Công ty Cổ phần là nhằm:
1/. Huy động vốn toàn xã hội bao gồm cá nhân,
các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong nước và
ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, tạo thêm
việc làm phát triển Doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh
tranh, thay đổi cơ cấu Doanh nghiệp Nhà nước.
2/. Tạo điều kiện để người lao động trong doanh
nghiệp có cổ phần và những người đã góp vốn
được làm chủ thực sự. Thay đổi phương thức quản lý
tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có
hiệu quả, tăng tài sản Nhà nước, nâng cao thu nhập
của người lao động, góp phần tăng trưởng kinh tế
đất nước (Điều 2 Nghò đònh 44/1998/NĐ-CP của Chính
phủ ngày 29/06/1998).
Để thực hiện mục tiêu đó, cổ phần hoá
được tiến hành theo các hình thức sau đây:
1- Giữ nguyên giá trò thuộc vốn Nhà nước hiện
có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu thu hút
thêm vốn để phát triển doanh nghiệp.
2- Bán 1 phần giá trò thuộc vốn Nhà nước hiện
có tại doanh nghiệp.
3- Tách một bộ phận của Doanh nghiệp đủ điều
kiện để cổ phần hoá.
4- Bán toàn bộ giá trò hiện có thuộc vốn Nhà
nước tại doanh nghiệp để chuyển thành Công ty Cổ
phần: ( Điều 7, Nghò đònh 44/CP ngày 29/06/1998 của
Chính phủ) theo hình thức 1, thì giá trò cổ phần Nhà
nước góp vào Công ty bằng giá trò thực tế vốn Nhà
nước tại Doanh nghiệp trừ chi phí cổ phần hoá, giá trò
ưu đãi cho người lao động và giá trò phần trả dần
của người lao động nghèo theo quy đònh của Nhà
nước.
Theo hình thức 2 thì Nhà nước sử dụng 1 phần giá
trò thực tế vốn Nhà nước tại doanh nghiệp để bán
cho cổ đông.
Theo hình thức 3 thì 1 bộ phận của doanh nghiệp
có thể hoạt động độc lập và hạch toán riêng giá
trò tài sản, được tách ra để cổ phần hoá (Phân
xưởng sản xuất, Cửa hàng, bộ phận dòch vụ…)
Trang 5


Tiểu luận tốt nghiệp

Cao cấp lý luận chính trò

Theo hình thức 4 thì Nhà nước không tham gia cổ
phần ở Công ty Cổ phần.
Trong nhiều năm qua Đảng và Nhà nước ta có
nhiều chủ trương nhằm chấn chỉnh, sắp xếp Doanh
nghiệp Nhà nước theo đònh hướng làm cho khu vực
Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động có hiệu quả hơn,
đảm nhiệm được vai trò chủ đạo của nền kinh tế.
Có thể chia quá trình đổi mới Doanh nghiệp Nhà
nước làm 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Trước Nghò quyết Hội nghò lần thứ 6
Ban chấp hành Trung ương khoá IV (năm 1979). Đây là
giai đoạn Doanh nghiệp Nhà nước hoàn toàn vận
hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Các
doanh nghiệp chòu sự quản lý trực tiếp và toàn diện
của Nhà nước.
Giai đoạn 2: Từ Nghò quyết Hội nghò lần thứ 6,
Ban chấp hành Trung ương khoá IV đến Nghò quyết Hội
nghò lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương khoá VI (năm
1987) đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc tìm
tòi phương pháp đổi mới quản lý doanh nghiệp Nhà
nước bằng các quyết đònh 25, 26/CP ngày 21/01/1981
của Chính phủ, quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của
Doanh nghiệp Nhà nước đã từng bước được xác lập.
Hội nghò lần thứ 3 của Ban chấp hành Trung ương
khoá VI ngày 28/08/1987 đã ra Nghò quyết “ Chuyển
hoạt động của các đơn vò kinh tế cơ sở quốc
doanh sang hạch toán xã hội chủ nghóa, đổi
mới quản lý Nhà nước về kinh tế”. Đây là thời
kỳ tồn tại song trùng hai cơ chế quản lý kinh tế, song
bản thân cơ chế cũ không còn nguyên vẹn, các
Doanh nghiệp Nhà nước đã có phần được tự chủ.
Giai đoạn 3: Từ Nghò quyết Hội nghò lần thứ 3
Ban chấp hành Trung ương khoá VI đến quyết đònh
315/HĐBT ( tháng 9 năm 1990) và Nghò đònh 388/HĐBT
( tháng 11 năm 1991). Đây là giai đoạn nền kinh tế
chuyển mạnh hoạt động theo cơ chế thò trường có sự
quản lý của Nhà nước. Nhà nước quản lý nền kinh
tế bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các
công cụ khác, không can thiệp vào hoạt động sản
xuất khoa học của doanh nghiệp. Đặc biệt, với chủ
trương giảm mạnh bao cấp và hạn chế bù lỗ, đặt
Doanh nghiệp Nhà nước trước thò trường, các doanh
Trang 6


Tiểu luận tốt nghiệp

Cao cấp lý luận chính trò

nghiệp bắt đầu bộc lộ những mặt mạnh và cả
những mặt yếu của mình.
Giai đoạn 4: Từ khi có quyết đònh 315/HĐBT và
Nghò đònh 388/HĐBT đến nay. Đây là thời kỳ rà soát,
chọn lọc các Doanh nghiệp Nhà nước, đồng thời áp
dụng nhiều giải pháp quan trọng nhằm cải cách đổi
mới Doanh nghiệp Nhà nước, đặc biệt là Chỉ thò
220/CT ngày 08/06/1992 về cổ phần hoá một bộ
phận doanh nghiệp Nhà nước, quyết đònh 90, 91/CP
ngày 07/03/1994 về thành lập các Tổng Công ty và
Tập đoàn kinh doanh của Nhà nước. Nghò đònh 44/CP
ngày 28/06/1998 của Chính phủ về việc chuyển Doanh
nghiệp Nhà nước thành Công ty Cổ phần.
Như vậy, sau 20 năm bắt đầu từ quyết đònh 25,
26/CP đến nay, số lượng Doanh nghiệp Nhà nước đã
giảm hơn một nửa. Mặc dù vậy nó vẫn chiếm vò trí
quan trọng trong các nguồn thu cho ngân sách Nhà
nước. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Nhà nước đã tăng lên so với trước, nên đã giảm
bớt các khoản trợ cấp từ ngân sách. Quan hệ giữa
các cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế và Doanh
nghiệp Nhà nước đã được phân đònh theo hướng bảo
đảm quyền tự chủ kinh doanh của Doanh nghiệp Nhà
nước. Chủ trương bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh
của Doanh nghiệp Nhà nước, chủ trương cổ phần hoá
một bộ phận Doanh nghiệp Nhà nước đang được triển
khai khẩn trương và một số doanh nghiệp cổ phần
hoá đã hoạt động có hiệu quả.
Tuy nhiên, hệ thống doanh nghiệp Nhà nước ở
nước ta vẫn đang đứng trước những khó khăn gay
gắt mà trước hết là tình trạng máy móc thiết bò và
công nghệ lạc hậu, thiếu vốn hoạt động và sử dụng
vốn còn thiếu hiệu quả ở nhiều doanh nghiệp. Hiệu
quả sản xuất kinh doanh tuy có tăng nhưng chưa đồng
đều và chưa tương xứng với tiềm lực vật chất mà
Nhà nước đã đầu tư trang bò, cơ cấu doanh nghiệp
Nhà nước tuy có được điều chỉnh nhưng vẫn còn
nhiều bất hợp lý. Quản lý Nhà nước về kinh tế còn
chưa theo kòp yêu cầu đổi mới của doanh nghiệp Nhà
nước.

Trang 7


Tiểu luận tốt nghiệp

Cao cấp lý luận chính trò

Tình hình trên đây đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới
tổ chức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh của Doanh nghiệp Nhà nước.
Đảng ta đã đề ra một số giải pháp nhằm đổi
mới cơ chế quản lý doanh nghiệp gồm:
Một là, tiếp tục sắp xếp, đổi mới Doanh
nghiệp Nhà nước trong 5 năm 2001 – 2006 là hoàn
thành cơ bản việc cổ phần hoá các Doanh nghiệp
Nhà nước mà Nhà nước không cần nắm giữ 100%
sở hữu vốn, tập trung giải quyết các vấn đề như nợ
tồn đọng, lao động dôi dư và đảm bảo vốn hoạt
động cho Doanh nghiệp Nhà nước, thực hiện giao, bán
kinh doanh, khoán cho thuê, sáp nhập, giải thể, phá
sản đơn vò doanh nghiệp quy mô nhỏ có vốn Nhà
nước vốn 5 tỷ đồng, Nhà nước không cần nắm giữ
và không cổ phần hoá được. Tuỳ thực tế của từng
doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước có quyền quyết đònh
một trong các hình thức : Giao, bán, khoán kinh doanh,
cho thuê. Khuyến khích Doanh nghiệp Nhà nước đã
bàn giao, bán được chuyển thành Công ty Cổ phần
của người lao động. Sáp nhập, giải thể, phá sản
những Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động không hiệu
quả, nhưng không thực hiện được các hình thức nói
trên. Số doanh nghiệp mà Nhà nước còn giữ 100%
vốn, sau đợt sắp xếp này chỉ còn 50% - 60% doanh
nghiệp, sửa đổi, bổ sung Luật phá sản doanh nghiệp
theo hướng và quyết đònh thành lập doanh nghiệp có
quyền đề nghò tuyên bố phá sản.
Hai là, tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý của
Nhà nước đơn vò doanh nghiệp Nhà nước bao gồm :
- Đổi mới cơ chế vay vốn tín dụng của Nhà nước
để doanh nghiệp Nhà nước có điều kiện tăng vốn
đầu tư, đổi mới kỹ thuật và ứng dụng công nghệ
mới vào sản xuất.
- Tiến hành kiểm tra, xác đònh lại tài sản thuộc
quyền sử dụng của doanh nghiệp bao gồm vốn lưu
động, đất đai, lợi thế về mặt bằng và vò trí, lợi thế
về công nghệ… để giao cho doanh nghiệp quản lý.
- Tạo lập quyền đại diện sở hữu Nhà nước tại
doanh nghiệp Nhà nước phù hợp với từng loại doanh
nghiệp ( Tổng Công ty, Doanh nghiệp vừa và nhỏ).
Trang 8


Tiểu luận tốt nghiệp

Cao cấp lý luận chính trò

- Đònh ra cơ chế kiểm soát chi phí và thu nhập đơn
vò các doanh nghiệp có tính chất độc quyền.
- Quản lý có hiệu quả vấn đề hợp tác liên
doanh giữa doanh nghiệp Nhà nước với nước ngoài,
sử dụng quy chế khuyến khích doanh nghiệp Nhà nước
đầu tư ra nước ngoài.
Ba là, tiếp tục đào tạo, đào tạo lại và bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp Nhà
nước, đồng thời thí điểm chế độ thuê Giám đốc
điều hành doanh nghiệp Nhà nước.
Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã kiên trì tiến
hành công tác sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp
Nhà nước. Đến nay cơ cấu và quy mô Doanh nghiệp
Nhà nước đã được điều chỉnh theo hướng thích ứng
và hiệu quả hơn với cơ chế thò trường. Số Doanh
nghiệp Nhà nước cả nước đã giảm 7.644 doanh
nghiệp ( từ 13.300 xuống còn 6.655). Tỷ lệ doanh
nghiệp Nhà nước có vốn dưới 1 tỷ đồng đã giảm
từ 50% xuống còn 18%. Vốn bình quân của một Doanh
nghiệp Nhà nước tăng từ 3,3 tỷ đồng lên 22 tỷ
đồng. Trong năm 2000 Doanh nghiệp Nhà nước đã làm
ra 39,5% GDP và đóng góp 39,2% tổng thu Ngân sách
Nhà nước.
Bên cạnh những tiến bộ, các doanh nghiệp còn
có những tồn tại và hạn chế, biểu hiện ở chỗ một
số các doanh nghiệp còn nhỏ bé về quy mô và dàn
trải về ngành nghề. Nhiều doanh nghiệp cùng loại
hoạt động trong tình trạng chồng chéo về ngành
nghề, cấp quản lý và trên cùng một đòa bàn tạo ra
sự cạnh tranh không đáng có trong chính khu vực kinh
tế Nhà nước với nhau. Trình độ kỹ thuật, công nghệ
lạc hậu đã dẫn đến năng lực cạnh tranh kém và thua
thiệt trong hội nhập về kinh tế với khu vực và quốc
tế. Không ít các doanh nghiệp Nhà nước vẫn còn
phải dựa vào sự bao cấp rất lớn của Nhà nước, và
còn mang nợ quá lớn, khả năng thanh toán thấp. Số
lao động dư dôi lớn so với yêu cầu đã ảnh hưởng
đến tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sản xuất kinh
doanh trong các doanh nghiệp Nhà nước.
Bên cạnh các khó khăn chủ quan xuất phát từ
nội bộ nền kinh tế, thì biến động của cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ khu vực đã ảnh hưởng theo
Trang 9


Tiểu luận tốt nghiệp

Cao cấp lý luận chính trò

chiều hướng xấu đến nền kinh tế nước ta. Hơn nữa,
việc tham gia hội nhập khu vực và quốc tế sẽ diễn ra
tự do hoá thương mại trong thời gian tới, buộc các
doanh nghiệp muốn tồn tại phải nâng cao khả năng
cạnh tranh bằng mọi cách. Những điều này cho thấy
tính cấp thiết phải sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp
Nhà nước nhằm tăng cường hiệu quả và sức cạnh
tranh của nền kinh tế và bảo đảm cho sự phát triển
đất nước một cách ổn đònh, vững chắc không
những cho những năm trước mắt mà còn cả tương lai
lâu dài.
Tóm lại, khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thò
trường, mọi yếu tố bao cấp của Nhà nước đối với
doanh nghiệp được xoá bỏ một cách thật sự và để
tăng cường động lực phát triển sản xuất và thúc
đẩy doanh nghiệp Nhà nước hoạt động có hiệu quả
hơn thì xu hướng cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước
diễn ra như là một quy đònh.
II/. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC:
1/. Một số khái niệm cơ bản:
a). Doanh nghiệp Nhà nước ?
Doanh nghiệp Nhà nước là một tổ chức kinh tế
do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức
quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công
ích nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế – xã hội Nhà
nước quy đònh.
Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh là:
Doanh nghiệp hoạt động chủ yếu nhằm mục tiêu lợi
nhuận. Doanh nghiệp Nhà nước công ích là doanh
nghiệp hoạt động sản xuất, cung ứng dòch vụ theo
các chính sách của Nhà nước hoặc trực tiếp thực
hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
b). Thế nào là Công ty Cổ phần?
Công ty Cổ phần là doanh nghiệp trong đó:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng
nhau gọi là cổ phần.
- Số cổ đông chỉ chòu trách nhiệm về nợ và
các nghóa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong
phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
Trang 10


Tiểu luận tốt nghiệp

Cao cấp lý luận chính trò

- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ
phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy
đònh tại khoản 3 điều 55 và khoản 1 điều 58 của Luật
doanh nghiệp.
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số
lượng cổ đông tối thiểu là 3, không hạn chế số
lượng tối đa.
c) Thế nào là cổ phần, cổ phiếu và cổ
đông?
Cổ phần : Là phần vốn tối thiểu mà mỗi cổ
đông tham gia vào Công ty cổ phần, giá trò tối thiểu
mỗi cổ phần là mệnh giá cổ phiếu.
Cổ đông : Là pháp nhân hay thể nhân chủ sở
hữu cổ phiếu.
Cổ phiếu : Là chứng chỉ xác nhận sự đầu tư
và quyền sở hữu về vốn của chủ sở hữu đơn vò
Công ty Cổ phần.
d). Thế nào là cổ phần hoá?
Cổ phần hoá là chuyên thể một doanh nghiệp
từ dạng chưa phải là Công ty Cổ phần thành Công ty
Cổ phần.
Thí dụ :
- Chuyển Doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty
Cổ phần.
- Chuyển Doanh nghiệp tư nhân thành Công ty Cổ
phần.
- Chuyển Công ty Trách nhiệm hữu hạn thành
Công ty Cổ phần..v.v.
Như vậy Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước
tức là chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty
Cổ phần, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp được
Quốc Hội Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghóa Việt
Nam thông qua ngày 12/06/1999, có hiệu lực thi hành
kể từ ngày 01/01/2000.
2/. Mục đích cổ phần hoá:
- Huy động vốn của cán bộ công nhân viên
trong doanh nghiệp, cá nhân, các tổ chức kinh tế
Trang 11


Tiểu luận tốt nghiệp

Cao cấp lý luận chính trò

trong nước và nước ngoài để đầu tư đổi mới công
nghệ, phát triển doanh nghiệp.
- Tạo điều kiện để những người góp vốn và cán
bộ công nhân viên trong doanh nghiệp có cổ phần,
nâng cao vai trò làm chủ thật sự, tạo thêm động lực
thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả.
3/. Điều kiện để một Doanh nghiệp được
chọn cổ phần hoá:
- Các Doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ.
- Những doanh nghiệp đang kinh doanh có lãi hoặc
trước mắt tuy có khó khăn nhưng triển vọng sẽ hoạt
động tốt.
- Không thuộc diện các doanh nghiệp Nhà nước
cần thiết giữ 100% vốn đầu tư của Nhà nước.
Dưới đây là danh mục các loại doanh nghiệp Nhà
nước để chọn cổ phần hoá ( danh mục này ban hành
kèm theo Nghò đònh số 44/1998/NĐ-CP ngày 29/06/1998)
bao gồm:
a). Loại doanh nghiệp Nhà nước hiện có,
chưa tiến hành cổ phần hoá:
- Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích quy
đònh tại điều 1 Nghò đònh số 56/CP ngày 02/01/1996 của
Chính phủ, bao gồm:
- Các doanh nghiệp sản xuất, sửa chữa vũ khí,
khí tài, trang bò chuyên dùng cho Quốc phòng, an ninh
và các doanh nghiệp tại các đòa bàn chiến lược quan
trọng kết hợp kinh tế với quốc phòng.
- Các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm, cung
ứng dòch vụ công cộng phải ít nhất 70% doanh thu từ
các hoạt động trong các lónh vực sau đây:
- Giao thông, Công chánh đô thò.
- Quản lý, khai thác, di tu, bảo dưỡng hệ thống
cơ sở hạ tầng.
- Khai thác bảo vệ các công trình Thuỷ lợi.
- Sản xuất giống gốc cây trồng vật nuôi.
- Xuất bản và phát hành sách giáo khoa, sách
báo chính trò. Sản xuất và phát hành phim thời sự,
tài liệu, phim cho thiếu nhi. Sản xuất và cung ứng
Trang 12


Tiểu luận tốt nghiệp

Cao cấp lý luận chính trò

muối ăn, chiếu bóng phục vụ vùng cao, biên giới,
hải đảo. Sản xuất sản phẩm, cung ứng dòch vụ phải
theo chính sách xã hội của Nhà nước.
- Sản xuất sản phẩm, cung ứng dòch vụ Nhà
nước độc quyền kinh doanh: Vật liệu nổ, hoá chất
độc, chất phóng xạ, in bạc và đúng các chứng chỉ
có giá, mạng trục thông tin quốc gia và quốc tế.
b). Loại doanh nghiệp Nhà nước hiện có,
Nhà nước cần nắm cổ phần chi phối, cổ phần
đặc biệt khi tiến hành cổ phần hoá:
- Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích trên
10 tỷ.
- Khai thác quặng quý hiếm.
- Khai thác khoáng sản quy mô lớn.
- Các hoạt động dòch vụ kỹ thuật về khai thác
dầu khí.
- Sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc chữa
bệnh và hoá dược.
- Sản xuất kim loại màu và kim loại quý hiếm quy
mô lớn.
- Sản xuất điện quy mô lớn, truyền tải và phân
phối điện.
- Sửa chửa phương tiện bay.
- Khai thác dòch vụ Bưu chính – Viễn thông.
- Vận tải đường sắt, Hàng không, Viễn dương.
- In, xuất bản, sản xuất rượu, bia, thuốc lá có uy
mô lớn.
- Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng cho người nghèo.
- Kinh doanh xăng dầu có quy mô lớn.
c). Các doanh nghiệp Nhà nước hiện có còn
lại đều có thể thực hiện cổ phần hoá và áp dụng
các hình thức chuyển đổi sở hữu nhưng trong đó Nhà
nước không giữ cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt.
Để thực hiện việc lựa chọn doanh nghiệp cổ
phần hoá, hoặc chưa cổ phần hoá, hoặc bán, khoán
cho thuê. Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thò số
20/1998/CT-TT ngày 21/04/1998 về việc đẩy mạnh sắp
Trang 13


Tiểu luận tốt nghiệp

Cao cấp lý luận chính trò

xếp và chuyển đổi Doanh nghiệp Nhà nước, trên cơ
sở đó được phân thành 3 nhóm như sau:
Nhóm một gồm những Doanh nghiệp quan trọng,
cần duy trì hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà
nước để phát huy vai trò nòng cốt và dẫn dắt trong
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đó là
những doanh nghiệp cần duy trì 100% vốn Nhà nước
và một số doanh nghiệp Nhà nước hợp đồng sản
xuất kinh doanh được lựa chọn thật chặt chẽ thuộc
các lónh vực cần cổ phần hoá nhưng chưa có điều
kiện thực hiện cổ phần hoá. Những doanh nghiệp
hoạt động công ích không đủ điều kiện để hoạt
động theo nguyên tắc bảo toàn vốn thì phải kòp thời
chấn chỉnh hoặc cho đấu thầu quản lý. Khuyến khích
chuyển thành Công ty Cổ phần, Công ty trách nhiệm
hữu hạn có một phần vốn góp của Nhà nước hoặc
hoàn toàn sở hữu của người góp vốn dòch vụ các
hoạt động vệ sinh môi trường đô thò và một số hoạt
động dòch vụ có công ích nhưng có sự hỗ trợ và
giám sát của Nhà nước.
Nhóm hai gồm những doanh nghiệp cần chuyển
đổi cơ cấu sở hữu, đó là những doanh nghiệp không
cần duy trì 100% vốn Nhà nước. Trong nhóm này cần
phân rõ những doanh nghiệp cần duy trì tỷ lệ cổ
phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt của Nhà
nước, đại diện sở hữu Nhà nước giữ vai trò điều
hành doanh nghiệp. Đơn vò những doanh nghiệp Nhà
nước quá nhỏ ( vốn dưới 1 tỷ đồng) có thể xem xét
vận dụng các hình thức cho đấu thầu công khai, cho
thuê, cho sáp nhập với các doanh nghiệp nhưng nếu
việc sáp nhập có khả năng mang lại hiệu quả kinh
tế xã hội cao hơn, khoán kinh doanh, bán ưu tiên cho
tập thể cán bộ, công nhân trong doanh nghiệp hoặc
bán cho cho các pháp nhân, thể nhân thuộc các
thành phần kinh tế khác.
Nhóm ba gồm những doanh nghiệp bò thua lỗ kéo
dài. Đó là những doanh nghiệp qua hai năm liên tục
trở lên bò thua lỗ, không trả được nợ đến hạn, không
nộp đủ thuế cho Nhà nước, không trích đủ Bảo hiểm
Xã hội và các quỹ khác theo quy đònh. Các doanh
nghiệp thuộc nhóm được xử lý như sau:

Trang 14


Tiểu luận tốt nghiệp

Cao cấp lý luận chính trò

Nếu doanh nghiệp có thò trường tiêu thụ sản
phẩm nhưng do thiếu vốn hoặc năng lực quản lý yếu
kém thì cơ quan quyết đònh thành lập doanh nghiệp
xem xét biện pháp hỗ trợ và kiên quyết thay thế
cán bộ để chấn chỉnh quản lý. Sau đó sẽ thực
hiện các biện pháp chuyển đổi cơ cấu sở hữu.
Nếu doanh nghiệp không có khả năng khắc phục
thì bán đấu giá hoặc giải thể. Cơ quan quyết đònh
thành lập doanh nghiệp thu hồi và trả những khoản
nợ đã phát sinh để tránh gây khó khăn cho các
doanh nghiệp có liên quan. Trường hợp lâm vào tình
trạng phá sản thì giải quyết theo Luật phá sản doanh
nghiệp.
4/. Hình thức Cổ phần hoá:
Tuỳ theo tình hình và yêu cầu cụ thể, các doanh
nghiệp Nhà nước có thể lựa chọn và vận dụng một
trong 4 hình thức cổ phần hoá dưới đây:
a). Giữ nguyên giá trò phần vốn Nhà nước hiện
có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu, thú hút
thêm vốn để phát triển doanh nghiệp.
b). Bán một phần giá trò vốn Nhà nước hiện
có tại doanh nghiệp. Nghóa là Nhà nước sử dụng một
phần giá trò thực tế vốn Nhà nước tại doanh nghiệp
để bán cho các cổ đông.
c). Tách một bộ phận của doanh nghiệp đủ điều
kiện để cổ phần hoá. Doanh nghiệp tách ra để cổ
phần hoá cần hội đủ các điều kiện sau:
- Là đơn vò hạch toán phụ trách, tính được giá
thành trên cơ sở đònh mức kinh tế kỹ thuật có báo
cáo kết quả hoạt động kinh doanh ít nhất là một
năm cuối cùng của thời điểm cổ phần hoá.
- Phải độc lập tương đối về tài sản, tiền vốn,
công nghệ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, đòa điểm
làm việc.
- Bảo đảm điều kiện về vốn pháp đònh đơn vò
ngành nghề kinh doanh phải có vốn pháp đònh.
d). Bán toàn bộ giá trò hiện có tiền vốn Nhà
nước tại doanh nghiệp để chuyển thành Công ty Cổ
phần. Theo hình thức này, Nhà nước không tham gia
cổ phần ở Công ty Cổ phần.
Trang 15


Tiểu luận tốt nghiệp

Cao cấp lý luận chính trò

5/. Chế độ ưu đãi đơn vò doanh nghiệp và
người lao động:
a). Đơn vò Doanh nghiệp:
Doanh nghiệp Nhà nước chuyển thành Công ty
Cổ phần là hình thức đầu tư mới, được hưởng ưu đãi
theo quy đònh của Luật khuyến khích đầu tư trong nước.
Trường hợp không đủ điều kiện để hưởng ưu đãi
theo quy đònh của Luật khuyến khích đầu tư trong nước
thì được giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 2
năm liên tiếp.
Được miễn lệ phí trước bạ đơn vò việc chuyển
những tài sản khác quyền quản lý và sử dụng của
doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá thành sở hữu
của Công ty Cổ phần.
Trước khi cổ phần hoá được chủ động sử dụng
số quỹ dư khen thưởng và quỹ phúc lợi chia cho người
lao động đang làm việc để mua cổ phần.
Được tiếp tục vay vốn Ngân hàng hoặc các tổ
chức tín dụng khác của Nhà nước theo cơ chế lãi
suất như đã áp dụng đơn vò doanh nghiệp Nhà nước.
Các khoản chi phí thực tế, hợp lý và cần thiết
cho quá trình chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành
Công ty Cổ phần được trừ vào tiền bán cổ phần
tiền vốn Nhà nước theo mức quy đònh của Bộ Tài
chính.
b). Khi thực hiện chế độ ưu đãi cho người lao
động trong doanh nghiệp cần đảm bảo các
điều kiện sau.
- Nếu cổ phần bán ưu đãi theo mức quy đònh tối
đa của Nhà nước mà tổng giá trò ưu đãi cho người
lao động quá mức khống chế ( 20% hoặc 30% của
giá trò thực tế phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp)
thì phải điều chỉnh giảm tổng sống cổ phần bán ưu
đãi để giá trò ưu đãi không vượt quá mức khống
chế trên.
- Nếu tính theo mức khống chế trên mà giá trò ưu
đãi cho người lao động và giá trò trả dần của người
lao động nghèo vượt quá giá trò cổ phần tiền vốn
Nhà nước bán ra sau khi trừ chi phí cổ phần hoá thì
Trang 16


Tiểu luận tốt nghiệp

Cao cấp lý luận chính trò

phải tiếp tục điều chỉnh giảm tổng số cổ phần bán
ưu đãi để thoả mãn điều kiện này.
c). Thủ tục và thẩm quyền xét duyệt ưu
đãi cho người lao động:
- Doanh nghiệp cổ phần hoá lập danh sách người
lao động trong doanh nghiệp, số năm làm việc và cổ
phần được mua ưu đãi của từng người.
- Đơn vò người lao động nghèo, phải có giấy đề
nghò mua cổ phần trả dần và cam kết thời hạn trả
tiền cho Nhà nước.
- Giám đốc doanh nghiệp cổ phần hoá phối hợp
với Đảng ủy, Công đoàn doanh nghiệp xét duyệt
danh sách người lao động, số lượng cổ phần mua ưu
đãi và danh sách người lao động nghèo, số lượng cổ
phần mua trả dần. Danh sách này phải được niêm
yết công khai trong doanh nghiệp và gởi cho cơ quan
quyết đònh cổ phần hoá, kèm theo đề án cổ phần
của doanh nghiệp.

CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CỦA TÂY NINH TRONG TIẾN
HÀNH
SẮP XẾP ĐỔI MỚI VÀ CỔ PHẦN HOÁ
DOANH NGHIỆP
NHÀ NƯỚC.

Trang 17


Tiểu luận tốt nghiệp

Cao cấp lý luận chính trò

I/. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CHUNG CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG THỜI GIAN QUA.
Đối với Tây Ninh là một tỉnh có biên giới giáp
Campuchia chiều dài 240km, cơ sở hạ tầng còn nhiều
yếu kém so với các tỉnh khác trong khu vực, cơ chế
tập trung bao cấp mới được xoá bỏ, phần lớn các
doanh nghiệp Nhà nước còn trang bò máy móc cũ,
công nghệ lạc hậu, cơ cấu cồng kềnh, kém hiệu
quả, sản phẩm không phong phú và kém khả năng
cạnh tranh, số lượng doanh nghiệp quá ít, quy mô nhỏ,
tích luỹ từ nội bộ còn thấp, chưa phát huy nội lực,
đầu tư khoa học kỹ thuật chưa đồng bộ, mạnh dạng,
chất xám còn bò lãng phí, là những nhân tố mà lẽ
ra phải được xác lập đúng mức, có chiều sâu.
Trong Nghò quyết Hội nghò lần thứ 3 Ban chấp
hành Trung ương khoá IX Đảng ta đã khẳng đònh: Hơn
10 năm qua Đảng và Nhà nước thực hiện nhiều chủ
trương, biện pháp tích cực nhằm đổi mới và nâng cao
hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước. Trong bối cảnh Thế
giới có nhiều diễn biến phức tạp và nền kinh tế
còn nhiều khó khăn, doanh nghiệp Nhà nước đã vượt
qua nhiều thử thách, trụ và đứng vững, không ngừng
phát triển góp phần to lớn vào thành tựu to lớn của
quá trình đổi mới và phát triển kinh tế đất nước,
đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội
chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá.
Thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và
Nhà nước, đặc biệt là sau khi có Nghò đònh 388/HĐBT
thì tình hình doanh nghiệp có nhiều chuyển biến đáng
kể trong cả nước. Tây Ninh thực hiện kế hoạch số
12/KH-TU của Tỉnh ủy ngày 28/01/2001 về tiếp tục
sắp xếp đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả
hoạt động của các doanh nghiệp. Trong năm 2002 một
số doanh nghiệp Nhà nước đã được củng cố sắp
xếp lại ổn đònh hơn và có hiệu quả hơn, kết hợp với
quyết đònh số 16 ngày 08/01/2002 của Ủy ban Nhân
dân Tỉnh về việc ban hành chương trình hành động
thực hiện Nghò quyết Hội nghò Trung ương lần 3 khoá
IV. Một số kết quả mà Tây Ninh đã đạt được tính đến
hết ngày 31/12/2002 như sau:

Trang 18


Tiểu luận tốt nghiệp

Cao cấp lý luận chính trò

Về số lượng Doanh nghiệp Nhà nước:
Tổng số Doanh nghiệp Nhà nước hạch toán độc
lập hiện có trên đòa bàn Tỉnh là 43 doanh nghiệp,
trong đó :
- 5 Doanh nghiệp Nhà nước do Trung ương quản lý
( 2 hoạt động công ích).
- 7 Doanh nghiệp Nhà nước thuộc hệ Đảng quản
lý.
- 2 Doanh nghiệp Nhà nước thuộc đoàn thể quản
lý.
Về vốn Nhà nước đầu tư vào:
Tính đến hết ngày 31/12/2002 là 318 tỷ đồng,
tăng 7,95% so với năm trước (doanh nghiệp Trung ương
tăng 7,39%, doanh nghiệp đòa phương tăng 9,05%, doanh
nghiệp khối Đảng giảm 0,75%).
Trong năm 2002 doanh nghiệp Nhà nước thuộc
tỉnh quản lý tiếp tục được cấp bổ sung vốn 10,8 tỷ
đồng trong đó Ngân sách cấp 3 tỷ đồng và Qũy hỗ
trợ sắp xếp cổ phần hoá cấp 7,8 tỷ đồng. Nhìn
chung quy mô của các doanh nghiệp còn thấp, phân
tán ( 65% số doanh nghiệp có quy mô nhỏ vốn dưới
10 tỷ đồng và chỉ chiếm 8,38% tổng số vốn doanh
nghiệp Nhà nước), vốn tăng thêm chủ yếu là do
Ngân sách tỉnh bổ sung trong năm.
Chất lượng công tác quản lý vốn và bảo toàn
vốn của Nhà nước ngày càng được nâng cao, hầu
hết các doanh nghiệp Nhà nước được bảo toàn vốn
và hoạt động có lãi (trừ các doanh nghiệp Nhà
nước hoạt động công ích được Nhà nước trợ cấp như
Công ty Dầu thực vật), một số doanh nghiệp bò thất
thoát vốn những năm trước được bù đắp lại từng
bước.
Kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp Nhà nước:
• Số doanh nghiệp Nhà nước có lãi trong năm
2002 là 36/43 doanh nghiệp.
• Số doanh nghiệp có lãi khá trong năm 2002:
- Doanh nghiệp Trung ương có:
Trang 19


Tiểu luận tốt nghiệp

Cao cấp lý luận chính trò

Công ty Cao su Tây Ninh
đồng.

29.164

triệu

Công ty Cao su Tân Biên Tây Ninh
triệu đồng.

16.000

Công ty Sửa chửa cầu đường
triệu đồng.

742.800

- Doanh nghiệp đòa phương :
Công ty Xổ số Kiến thiết
150.000 triệu đồng.
Công ty quản lý sửa chửa cầu đường
triệu đồng.

3.010

Công ty Cao su 1 tháng 5
triệu đồng.

3.000

Công ty Du lòch
triệu đồng.

2.187

Công ty sách thiết bò
đồng.

916

Công ty Vốn xây dựng tổng hợp
triệu đồng.

triệu
733

Công ty Xây Lắp
đồng.

650

triệu

Công ty Mía đường
đồng.

586

triệu

Công ty Cơ khí
đồng.

550

triệu

Công ty Vật liệu xây dựng
triệu đồng.

550

- Doanh nghiệp hệ Đảng quản lý:
Công ty Cao su 30/4
triệu đồng.

8.089

Xí nghiệp Giầy Xuất khẩu Trâm Vàng
triệu đồng.

4.465

- Doanh nghiệp hoạt động Công ích:
Công ty Khai thác Thuỷ lợi Dầu Tiếng
triệu đồng.

Trang 20

650


Tiểu luận tốt nghiệp

Cao cấp lý luận chính trò

Công ty Công viên cây xanh và Công trình
công cộng Thò Xã
1.559
triệu đồng.
Công ty Công viên cây xanh và Công trình
công cộng Hoà thành
1.118
triệu đồng.
Công ty Khai thác công trình Thuỷ lợi Tây Ninh
318 triệu đồng.
Công ty Khai thác Thuỷ lợi DMC
triệu đồng.

166

Công ty Khai thác C. Trình Thuỷ Lợi Gò Dầu 111
triệu đồng.
Đánh giá về hiệu quả hoạt động của các doanh
nghiệp trong toàn Tỉnh, hoà cùng sự phát triển kinh
tế của cả nước trong năm 2003 kinh tế của tỉnh Tây
Ninh phát triển khá toàn diện, tốc độ tăng trưởng
kinh tế cao, tổng sản phẩm trong Tỉnh ước tăng 18,4%
so với năm 2002, các ngành công nghiệp trong Tỉnh
đều tăng trưởng khá như Công ty Chế biến Mì, Cao
su… Riêng ngành Mía đường do giá cả không được
thuận lợi trong năm 2003 so với trước đó, có tăng
trưởng nhưng không đáng kể, giá thu mía thấp, Công
ty chưa có chính sách hỗ trợ cho người trồng mía để
thu hút người dân, làm cho người trồng mía phấn
khởi biết được sản phẩm của mình làm ra được tiêu
thụ nhanh có hiệu qủa. Về công tác kêu gọi đầu tư
được quan tâm, có cơ chế phù hợp nhằm thu hút vốn
đầu tư, đến nay trên đòa bàn toàn Tỉnh có 62 dự án
đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép với tổng số
vốn đăng ký 27.959 triệu USD hiện có 46/62 dự án đi
vào hoạt động, Khu Công nghiệp Trảng Bàng có 37
dự án được đăng ký và có 24 dự án đã và đang
hoạt động.
II/. TÌNH HÌNH SẮP XẾP ĐỔI MỚI CÀ CỔ PHẦN
HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC.
1/. Sáp nhập các doanh nghiệp nhỏ trùng
chức năng hình thành một số doanh nghiệp lớn
và giải thể một số doanh nghiệp hoạt động
kém hiệu quả.
Trong Chỉ thò số 20/TTg ngày 21/04/1998 có ghi rõ
chủ trương: “ Đối với những doanh nghiệp Nhà nước
Trang 21


Tiểu luận tốt nghiệp

Cao cấp lý luận chính trò

quá nhỏ ( Vốn Nhà nước dưới 1 tỷ đồng) có thể
xem xét vận dụng các hình thức cho đấu thầu công
khai, cho thuê, sáp nhập với doanh nghiệp khác nếu
việc sáp nhập có khả năng mang lại hiệu quả kinh
tế xã hội cao hơn khoán kinh doanh, bán ưu tiên cho
tập thể cán bộ, công nhân viên trong Doanh nghiệp,
bán cho các pháp nhân, thể nhân thuộc các thành
phần kinh tế khác”.
Trên cơ sở đó Tây Ninh cũng đã thực hiện việc
sáp nhập các doanh nghiệp nhỏ trùng chức năng
hình thành một số doanh nghiệp lớn và giải thể một
số doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả cụ thể như
sau:
Hình thành Công ty Thương mại Xuất nhập khẩu
Tây Ninh trên cơ sở sáp nhập Doanh nghiệp: Công ty
Lương thực, Công ty Thương nghiệp Tổng hợp Tây Ninh,
Công ty Thương nghiệp Tổng hợp Tân Lập, Công ty
Thương mại Tổng hợp Trảng Bàng, Công ty Dòch vụ Kỹ
thuật Giống và cây trồng, Công ty Xuất nhập khẩu
(cũ).
Hình thành Công ty Cao su 1/5 Tây Ninh trên cơ sở
sáp nhập và giải thể các doanh nghiệp thành viên
của Liên hiệp Xí nghiệp Cao su Tây Ninh: sáp nhập
Nông trường Cao su Suối Dây, giải thể Xí nghiệp Chế
biến Cao su xuất khẩu và Xí nghiệp Chế biến Cao su
Tây Ninh.
Hình thành Công ty Mía đường trên cơ sở sáp
nhập : Nhà máy đường Nước Trong, Nông trường
Nước Trong, Nông trường Thạnh Bình, Nông trường Tân
Hưng, Xí nghiệp Đường 22/12, Xí nghiệp Đường số 1.
Củng cố lại Công ty Du lòch Tây Ninh trên cơ sở
sáp nhập lại Trung tâm Kinh tế văn hoá lòch sử Núi
Bà vào Công ty.
Hình thành Công ty Sách thiết bò và Xây dựng
Trường học Tây Ninh trên cơ sở sáp nhập Công ty
Sách – Thiết bò trường học và Xí nghiệp thiết bò
trường học.
Hình thành Công ty Kinh doanh Xuất nhập khẩu
30/4 Tây Ninh (khối Đảng) trên cơ sở sáp nhập Công
ty Xuất nhập khẩu 30/4, Công ty Sản xuất kinh doanh
Tân Biên, Công ty Sản xuất kinh doanh Tân Châu.
Trang 22


Tiểu luận tốt nghiệp

Cao cấp lý luận chính trò

Hình thành Công ty Cao su 30/4 Tây Ninh (khối
Đảng) trên cơ sở sáp nhập Nông trường cao su Châu
Thành, Nông trường cao su Tân Biên, Nông trường cao
su Dương Minh Châu, Nông trường cao su 22/12, Nông
trường cao su Bến Sắn, Nông trường cao su Bời Lời,
Nông trường cao su Phước Minh, Xí nghiệp chế biến cao
su 30/4 Tây Ninh.
Sáp nhập Xí nghiệp Mỹ nghệ xuất khẩu và Xí
nghiệp May 30/4 Tây Ninh và hình thành Xí nghiệp May
30/4.
Giải thể Công ty Vật phẩm văn hoá, Xí nghiệp
nước đá Hoà Thành. Khi sáp nhập Doanh nghiệp Nhà
nước cần chú y xem doanh nghiệp đó phải tương đối
vững về khả năng cạnh tranh, đang có triển vọng
phát triển thò trường, có thể thiếu lao động, thiếu
vốn, thiếu mặt bằng, cần và có thể đứng ra làm
nòng cốt, trên cơ sở đó tiến hành sáp nhập các
doanh nghiệp nhỏ hơn, yếu hơn thành một doanh
nghiệp cỡ vừa hoặc có một số sẽ là cỡ tương đối
lớn ( không phải là Tổng Công ty Nhà nước).
 Đặc biệt khi sáp nhập cần tránh :
Sáp nhập các doanh nghiệp kinh doanh quá khác
nhau về công nghệ, về đòa bàn hay phân bố quá xa.
Cần tránh đưa các doanh nghiệp Nhà nước không đủ
điều kiện tồn tại, đã xử lý nhiều lần, hỗ trợ nhiều
cách… mà hoạt động vẫn kém hiệu quả. Trường hợp
này phải xử lý theo Luật Phá sản giải thể hoặc
bán Doanh nghiệp. Những doanh nghiệp như vậy không
nên đưa vào diện sáp nhập.
Tóm lại : Khi tiến hành sáp nhập các doanh
nghiệp Nhà nước thì chúng ta không thể không tiến
hành giải thể hoặc cho phá sản một số doanh
nghiệp hoạt động không hiệu quả. Doanh nghiệp
không đáp ứng được những tiêu chuẩn do Luật đònh,
không có điều kiện sáp nhập với các doanh nghiệp
khác để thành lập doanh nghiệp mới.
2/. Thành lập mới Doanh nghiệp Nhà nước
phân đònh hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp
hoạt động công ích, đổi tên doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh
và hoạt động công ích có quy mô lớn, có vai trò tạo
Trang 23


Tiểu luận tốt nghiệp

Cao cấp lý luận chính trò

điều kiện phát triển trong các ngành, lónh vực then
chốt của nền kinh tế trong việc ứng dụng công nghệ
mũi nhọn, công nghệ cao và góp phần ổn đònh kinh
tế vó mô, đặc biệt, phải đảm bảo nhu cầu thiết
yếu cho phát triển sản xuất và nâng cao đời sống
vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc ở miền
núi, vùng sâu, vùng xa.
Nhưng “Việc thành lập mới các Doanh nghiệp
Nhà nước hoạt động kinh doanh chủ yếu sẽ thực hiện
dưới hình thức Công ty Cổ phần. Chỉ thành lập mới
Doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước đối với những
ngành và lónh vực mà Nhà nước cần giữ độc
quyền, hoặc các thành phần kinh tế khác không
muốn hay không có khả năng tham gia”. Hay “ Việc
thành lập mới Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động
công ích phải được xem xét chặt chẽ, đúng đònh
hướng có yêu cầu và đủ các điều kiện cần
thiết…”.
Qua đó thấy rằng, việc thành lập mới Doanh
nghiệp Nhà nước đòi hỏi phải đảm bảo đủ các
yêu cầu do Luật đònh, đó cũng là một trong những
khó khăn khi tiến hành thành lập một doanh nghiệp
dù nhỏ hay lớn. Tây Ninh cũng đã thành lập được 3
doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích.
 3 Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh gồm:
- Công ty Tư vấn Xây dựng Tây Ninh.
- Công ty Khai thác khoáng sản Tây Ninh.
- Công ty Phát triển Hạ tầng Khu Công nghiệp
Tây Ninh.
 8 Doanh nghiệp hoạt động công ích gồm:
- Công ty Công viên cây xanh và Công trình Công
cộng Thò xã TN.
- Công ty Công viên Cây xanh và Công trình Công
cộng Hoà Thành Tây Ninh.
- Công ty Khai thác Công trình Thuỷ lợi Gò Dầu
Tây Ninh.
- Công ty Khai thác Công trình Thuỷ lợi Dương Minh
Châu.
- Công ty Quản lý Bến xe khách Tây Ninh.
Trang 24


Tiểu luận tốt nghiệp

Cao cấp lý luận chính trò

- Xí nghiệp Đo đạc Đòa chính.
- Công ty Quản lý Sửa chửa Cầu đường.
- Trạm đăng kiểm Tây Ninh.
Và Tây Ninh cũng thực hiện chuyển Doanh nghiệp
Nhà nước hoạt động kinh doanh sang hoạt động công
ích như:
- Công ty Phát hành phim và chiếu bóng Tây
Ninh.
- Công ty Sách Thiết bò và Xây dựng trường học
Tây Ninh.
- Công ty Khai thác Công trình Thuỷ lợi Tây Ninh.
- Công ty Cấp thoát nước Tây Ninh.
Về việc đổi tên doanh nghiệp Nhà nước phù
hợp với chức năng bổ sung, Tây Ninh cũng đã tiến
hành.
 Đổi tên Xí nghiệp Cơ khí Nông Lâm Tây Ninh
thành Công ty Cơ khí Tây Ninh.
 Đổi tên Xí nghiệp Khảo sát thiết kế Tây Ninh
thành Công ty Tư vấn xây dựng Thuỷ lợi Tây Ninh.
 Đổi tên Xí nghiệp Khảo sát thiết kế Thuỷ lợi
Tây Ninh thành Công ty Tư vấn Xây dựng Thuỷ lợi Tây
Ninh.
 Đổi tên Xí nghiệp Cấp thoát nước Tây Ninh
thành Công ty Cấp thoát nước Tây Ninh.
3/. Cổ phần hoá Doanh nghiệp theo Nghò đònh
số 44/1998/NĐ – CP ngày 29/06/1998 của Chính phủ
và theo Nghò đònh số 64/2002/ NĐ – CP ngày
19/06/2002 của Chính phủ về việc chuyển Doanh
nghiệp Nhà nước thành Công ty Cổ phần.
Chúng ta cũng biết “ Mục tiêu của cổ phần hoá
Doanh nghiệp Nhà nước là nhằm đào tạo ra loại hình
Doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu. Trong đó, có
đông đảo người lao động để sử dụng có hiệu quả
vốn, tài sản của Nhà nước và huy động thêm vốn
vào phát triển sản xuất, kinh doanh. Tạo động lực
mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động có hiệu
quả làm cho Doanh nghiệp Nhà nước phát huy vai trò
làm chủ thực sự của người lao động, của cổ đông
Trang 25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×