Tải bản đầy đủ

NGHỆ THUẬT SO SÁNH với CHỨC NĂNG PHẢN ÁNH HIỆN THỰC đời SỐNG và xây DỰNG NHÂN vật

NGHỆ THUẬT SO SÁNH VỚI CHỨC
NĂNG PHẢN ÁNH HIỆN THỰC ĐỜI
SỐNG VÀ XÂY DỰNG NHÂN VẬT


- So sánh và phản ánh hiện thực đời sống
Ngay từ những ngày đầu cầm bút Nguyễn Công Hoan đã
ý thức rất rõ: “Văn chương không nên chỉ là một thứ để giải
trí. Nó phải thêm một nhiệm vụ là có ích”, “truyện phải có nội
dung bổ ích và trước hết truyện phải thực”(Đời viết văn của
tôi). Khi nhìn lại toàn bộ con đường lao động nghệ thuật của
nhà văn trào phúng số một này, chúng ta dễ dàng nhận thấy ở
đó là cả một sự biểu hiện sinh động của quá trình tìm tòi, sáng
tạo,trải nghiệm của một nhà văn trào phúng bậc thầy, gắn bó
sâu sắc với dân tộc, với nhân dân, luôn quan tâm đến đạo đức
nhân cách của con người.Ở đó,ông đã mở ra một thế giới
nghệ thuật mới lạ, hấp dẫnlàm nhiều người yêu thích và
ngưỡng mộ truyện ngắn của ông.Như chúng ta đã biết, so
sánh vốn là một biện pháp nghệ thuật quen thuộc trong đời
sống sinh hoạt cũng như trong văn chương nghệ thuật. Nhưng
đến Nguyễn Công Hoan, ông đã biết vận dụng một cách khéo

léo và đầy cá tính sáng tạo, làm cho những hình ảnh so sánh
trong tác phẩm của ông vừa gần gũi, quen thuộc, vừa độc đáo
mới lạ, ẩn chứa nhiều thông điệp giàu ý nghĩa. Thông qua
hình thức so sánh không chỉ góp phần tạo nên những giá trị to
lớn cho tác phẩm mà còn định hình phong cách riêng biệt


không lẫn với một ai khác.Để minh chứng cho điều này, đầu
tiên chúng tôi đi sâu khai thác nghệ thuật so sánh với việc
phản ánh hiện thực đời sống trong nhiều truyện ngắn trào
phúng của ông trước cách mạng.
- Hiện thực đói nghèo xơ xác
Văn học nghệ thuật là tấm gương phản chiếu hiện thực
đời sống. Một tác phẩm văn học có sức sống lâu bền lâuhay
không là do cái nó phản ánh. Một nhà văn độc đáo và thành
công phải là một nhà văn biết tái hiện, khắc họa lại hiện thực
mà mình đang sống vào trong tác phẩm của mình. Bởi lẽ, nhà
văn không chỉ là một anh thư kí chỉ biết cặm cụi ghi chép, mô
tả lại đời sống mà nhà văn đó phải là người biết nghiên cứu,
nghiền ngẫm về đời sống, xã hội và con người. Xã hội Việt
Nam vào những năm đầu thế kỉ XX có lẽ là một giai đoạn đen
tối nhất lịch sử dân tộc.Thực dân Pháp, Phát xít Nhật lần lượt
xâm lược đất nước ta, áp bức đồng bào ta.Nhân dân một cổ
hai tròng, chúng đẩy cả một dân tộc bước vào tình trạng kiệt
quệ sinh khí, lầm than, tang tóc.Những cơn đói triền miên,
giày vò, đọa đầy con người đến cùng cực, những số phận đau
thương lụi tàn, leo lét. Con người sống vì đồng tiền sẵn sàng
chà đạp lên luân lí, đạo đức, thuần phong mĩ tục, những nét


đẹp ngàn đời của cha ông cũng bị tờ giấy bạc làm lu mờ. Trở
lại với nhà văn Nguyễn Công Hoan, ta thấy rõ thời đại đã tác
động mạnh và ảnh hưởng rất lớn đến các sáng tác của nhà
văn. Nguyễn Công Hoan đã sống vào giai đoạn xáo trộn, đầy
biến động, cho nên chính cái hiện thực đó đã in hằn trên các
trang văn của ông đó là một hiện thực cụ thể, đói nghèo xơ
xác, hiện thực đầy rẫy những bất công,phi lí. Con người sống
trong xã hội ấy cũng ngột ngạt đến khó thở. Để minh chứng
cho hiện thực đó, thiên nhiên và hoàn cảnh môi trường sống
cũng là một đối tượng đáng được chú ý trong truyện.Có lẽ


trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, thiên nhiên ít được
nhà văn miêu tả nhất nhưng không vì thế mà thiên nhiên thiếu
sức hấp dẫn hay nghèo nàn về giá trị biểu đạt.Ngược lại,
nhiều hình ảnh so sánh về thiên nhiên lại rất độc đáo, gây ấn
tượng và là nỗi ám ảnh lớn trong lòng người đọc. Chúng ta có
thể thấy qua “Bảng khảo sát những so sánh miêu tả thiên
nhiên” ở Phụ lục 1, bảng 1.
Một điều đáng chú ý khi miêu tả thiên nhiên, Nguyễn
Công Hoan ít gắn thiên nhiên với những không gian ban đêm
là ánh trăng lung linh, lấp lánh huyền diệu “giăng là cái liềm
vàng giữa đồng. Giăng là đĩa bạc trên tấm thảm nhung da
trời”[19,tr.214].Hay không gian hiền hòa dễ chịu của cái nắng


mùa thu dìu dịu “trời xanh ngắt. Nắng êm êm”.“Gió mơ hồ
như một làn hương”[19,tr.139]…ỞNguyễn Công Hoan thiên
nhiêndường như nhuốm một màu cay nghiệt của hiện thực
cuộc sống.“Con sông Nhị Hà như một bà lão cay nghiệt, lại
chảy qua huyện tôi những hai mươi cây số”[29,tr.239]. Thiên
nhiên ấy tàn lụi, ủ rũ, lả gục chất chứa sự tàn phá nhen nhóm
từ bên trong.“Nóng đâu lại nóng thế!Suốt ngày, ánh nắng rọi
xuống, làm cho đất trắng xóa, nẻ kẽ, lá cây gục lả như sắp
chết khát. Thi thoảng trận gió nổi lên hắt hơi lửa vào
mặt”[29,tr.53]. Thiên nhiên đã góp phần phơi bày hiện thực
cuộc sống cằn cỗi, xác xơ, nghèo nàn, đói khát của người dân
khi họ phải chịu đựng mọi taiương của trời đất. Đó là cảnh
mưa bão đổ ập xuốngbất ngờ dữ dội: “Mặt sông đỏ ngầu, rộng
mênh mông, nước cuồn cuộn chảy, xoáy rất mạnh, những con
sóng lớn xô nhau vào bờ, vỡ ra, kêu uồm uồm, tóe như mưa
rào. Gió gào ù ù, giật lên từng hồi, đánh những hạt nước vào
mặt rát như voi quất”[29,tr.242]. Đó là cảnh hoang tàn, giập
nát, mênh mông trắng xóa nước khi cơn bão đi qua: “Sáng
hôm sau, mưa tạnh, gió lặng, sóng yên. Nhưng cả một cánh
đồng trắng xóa những nước, mênh mông như biển. Làng mạc
chỉ còn như những hòn đảo”[29,tr.242].Tất cả đều kiệt quệ


không còn sự sống, không gì có thể ngăn cản sức mạnh và sự
tàn phá khủng khiếp của thời tiết, thiên nhiên như trêu ngươi,
như đùa giỡn với cuộc sống của con người.
Ban đêm thì được miêu tả im lặng, ma quái, ghê rợn
“Khoảng đêm trường như miếng vải đen, đậy kín lấy từng ấy
phiến thịt”[28,tr.478]. “Trời tối đen như mực và lặng lẽ. Một
màu đen vô cùng vô tận như quây khít xung quanh chúng tôi,
làm cho chúng tôi vừa mù, vừa điếc”[28,tr.729]. Thiên nhiên
tàn lụi, chết chóc như này, ta từng bắt gặp trong các sáng tác
của Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, giữa khung cảnh của một
khoảng trời đêm yên ắng lại xuất hiện những cục lửa xanh,
đỏ, lúc cháy, lúc tắt tạo cảm giác rùng rợn, gợi ra một thiên
nhiên sống động “giữa cái cánh đồng thấy tản mạn những
cục lửa xanh, lửa đỏ trên mặt đất lúc cháy, lúc tắt, như ma
chơi”[31,tr.7]. Cũng trong dòng chảy ấy, thiên nhiên trong
“Vỡ đê” cho ta thấy sự khắc nghiệt, ngột ngạt, ghê rợn và đầy
thương cảm “Đó là những cảnh hoàng hôn lặng lẽ và buồn tẻ
ở thôn quê, những cảnh hoàng hôn của những đêm không
trăng sao nó làm tê liệt hẳn cuộc đời như đi vào những giờ
chết, và nó làm chó cắn ran lên từng hồi như sủa ma
vậy”[30,tr.34]. Không gian mặt đất được bao trùm bởi một
màu “tối đen”, bế tắc của sự chết dần, tàn lụi: “Đường vắng


ngắt. Có một vẻ gì lạnh lẽo đến làm người ta giờn giợn như
khi áp lưỡi dao sắc lên trên gáy”[19,tr.381].
Ban đêm thì như vậy, còn ban ngày không phải là thứ
ánh nắng của buổi bình minh với nắng nhẹ nhẹ và êm êm mà
là thứ ánh nắng “như thiêu như đốt”, khiến sự sống con
người, cây cối cũng trở nên khắc nghiệt, leo lét và gục lả hơn
“giữa những tiếng chó rống dậy, Ngọn lửa đỏ như nổi lềnh
bềnh trong biển sương mù”[29,tr.206],“Mặt trời đã lại chiếu
ngay xuống đỏ như lửa”[28,tr.768].Có ánh nắng nhưng lại là
thứ ánh nắng của thần chết, đủ để làm sự sống càng lụi tàn
hơn, vạn vật không thể sinh trưởng bởi sự khắc nghiệt khủng
khiếp của thiên nhiên:“Mùa hè nóng như thiêu, cũng như
mùa đông rét như cắt, khi mõ điếm tan canh đổ hồi, trong các
lều đã thấy ngọn lửa vàng lập lòe và trên mái đã tia ra những
dòng khói lam ẻo lả”[29,tr.290].
Bằng một loạtcâu văn so sánh phóng đại, CSSS và
CĐSS được tác giả sử dụng đều là những động từ, tính từ chỉ
mức độ cao tạo ấn tượng mạnh mẽ về sự khắc nghiệt chết dần
chết mòn của sự sống. Để lột tả cái dữ dội của thiên nhiên,
Nguyễn Công Hoan mang đến cho người đọc một cái nhìn
mới mẻ về đối tượng so sánh, qua sự diễn đạt bằng những
hình ảnh so sánh độc đáo đôi khi là một danh từ, một cụm


danh từ, cụm C - V được sử dụng trong CĐSS.Hình ảnh “một
bà lão cay nghiệt” quen thuộc, tác giảđem so sánh với một
“con sông”, CSS ở đây là một khái niệm cụ thể được so sánh
với CĐSS là một khái niệm cụ thể và rất gần gũi, Nguyễn
Công Hoan đã khéo léo chỉ cho độc giả biết đến đặc điểm,
tính chất con sông Nhị Hà nằm ở phía Bắc nước ta.Một điều
đặc biệt là phần lớn những so sánh thiên nhiên được nhà văn
Nguyễn Công Hoan sử dụng đều là những so sánh nổi, tức là
kiểu CTSS sánh hoàn chỉnh có đầy đủ bốn yếu tố,CSSS biểu
hiện ra bằng các từ ngữ cụ thể, tạo hạn định trong sự liên
tưởng của người đọc.“Nước…tóe như mưa rào…mênh mông
như biển”, “Gió gào ù ù, giật lên từng hồi, đánh những hạt
nước vào mặt rát như voi quất”, “Trời tối đen như mực”, “mặt
trời…đỏ như lửa”, “mùa hè nóng như thiêu”, “mùa đông lạnh
như cắt”,…đây đều là so sánh có sức gợi hình mạnh, giúp
người đọc hình dung rõ tính chất của hiện tường thời tiết,
đồng thời tập trung vào những dụng ý mà tác giả thể hiện:
phơi bày hiện thực cuộc sống cằn cỗi, tù đọng, đen tối đang
tắt dần hơi thở.
Thiên nhiên giống như một chứng nhân phơi bày tất cả
sự nghèo đói, xơ xác đến tiều tụy của cuộc sống con
người.Mặt đất trắng xóa, cằn cỗi, nẻ kẽ, cây cối thì mệt lả như


sắp chết khát.Trong khung cảnh thiên nhiên khắc nghiệt ấy,
con người càng trở nên ảm đạm, thê lương, Anh xẩm cứ run
lên cầm cập, xếp thau,cầm gậy, ôm đàn, lần lối đi vào bóng
tối. Cái đau đớn, não nùng, hơi lạnh cứphả vào người thấm
buốt đến tận xương tủy. Nhưng anh xẩm có thấy đâu cảnh:
“Gió vẫn giật từng hồi. Lá vàng trút xuống mặt đường, lăn
theo nhau rào rào…Mưa như rây bột, như chăng lưới. Đường
bóng nhoáng như mặt hồ lặng sóng…Đường càng vắng
ngắt…Anh cứ hát”[29,tr.779].Cấu trúc so sánh được tác giả sử
dụng lúc này lại rất linh hoạt, CSSS có lúc được ẩn đi buộc
người đọc phải suy ngẫm, có lúc lại hiện hữu bằng ngôn từ cụ
thể, rõ ràng, CĐSS là một cụm C – V, động từ làm chủ
ngữ“rây bột”, “chăng lưới”, “lặn sóng”, Nguyễn Công Hoan
đã giúp người đọc cảm nhận thấm thía về cuộc sống dường
như bế tắc, không có lối giải thoát trước sự lạnh lùng bủa vây
của thiên nhiên.
Bối cảnh trong các truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
không chỉ có vùng nông thôn nghèo xơ xác, nước ngập trắng
đồng mà ta thấy, phần lớn truyện ngắn của ông thường là lấy
bối cảnh thành thị - nơi cuộc sống phồn hoa nhưng lại là bon
chen, nhọc nhằn của tầng lớpthị dân trong xã hội.Cái thời tiết
luôn thất thườngcủa thành thị được nhà văn diễn tả bằng


những tính từ chỉ mức độ cao như “lạnh buốt”, “sém, nóng,
bỏng”, kết hợp với các chất liệu dân gian như: “nắng sém mặt
mày”, “nóng như lửa”, “bỏng như đốt”,sử dụngnhững thành
ngữ nàyđã làm cho cái thời tiết lúc nắng, lúc mưa của nơiphồn
hoa đô thị hiện lên một cách sinh động cụ thể hơn bao giờ hết.
Vào những ngày hè, mặt trời chiếu dọixuống đường phố, làm
cho con đường bỏng rát “như thiêu như đốt”. Những con
người nhưanh xẩm làm nghề hát dong, hay anh Tiêu làm nghề
phuxe trong truyện, cuộc sống mưu sinh của họ vô cùng khó
khăn và khắc nghệt “thôi thì đang nắng sém mặt mày, bỗng
nổi một trận mưa rào, rồi mưa vừa tạnh, mặt trời lại chiếu
ngay xuống, nóng như lửa... Thế mà anh vẫn cắm cổ, gò lưng
mà chạy, hai chân đặt lên đường nhựa bỏng như
đốt”[28,tr.768].
Ta dễ dàng nhận thấy, trong khi các nhà văn lãng mạn
đương thời đang say sưa với những hư hư thực thực kiểu“Hồn
bướm mơ tiên”, thường nhìn thiên nhiên bằng con mắt thưởng
ngoạn, bao trùm lên cảnh vật là một chất thơ, hào nhoáng thì
Nguyễn Công Hoan lại có cái nhìn chân thật về hiện thực
khách quan đương thời, nhà văn đã giễu nhại chính cuộc sống
lí tưởng mà các nhà văn lãng mạn chủ nghĩa theo đuổi, để phủ
lên hiện thực đó bằng những đường nét xù xì, gân guốc, góc


cạnh gây ám ảnh khó phai mờ. Ông đã dứt khoát lựa chọn một
con đường đi khác cho riêng mình.
Hoàn cảnh sống đói nghèo, xơ xác không chỉ bao phủ
lên cảnh vật thiên nhiên mà còn in dấu lên chân dung của các
nhân vật đặc biệt là những người dân nghèo bị cho là thấp cổ
bé họng. Trong các sáng tác của nhà văn từ trẻ nhỏ đến người
lớn đều mang cái dáng hình khốn khổ, nhếch nhác được nhào
nặn bởi nghèo đói, ốm đau, bệnh tật, nói như Nguyễn Công
Hoan

“Nó



sự

đói

khát,

kinh

tởm,

kết

thành

hình”[18,tr.343].Tất cả những điều này sẽ được đi sâu miêu tả
chi tiết qua từng câu văn so sánh về ngoại hình của nhân vật
dưới sự tác động của nghèo đói ở mục 2.2.2 chương II của
luận văn.Những con người dưới đáy xã hội ấy, họ sống trong
một không gian xã hội tù túng, chật chội, lúc nào cũng phải
đối mặt với cái đói và miếng ăn. Sức mạnh tàn nhẫn của
miếng ăn và nỗi ám ảnh về cái đói, cái nghèo đã giết dần con
người trong những bi kịch. Nguyễn Công Hoan đã nhận thấy
trong cuộc sống hằng ngày nỗi đau khổ của đồng loại, cảm
thông, sẻ chia đốivới những kiếp người lầm than và phơi bày
chúng trên những trang viết của mình như một lời tố cáo, phê
phán xã hội thực dân phong kiến đương thời.


- Hiện thực đầy rẫy những bất công
Bức tranh hiện thực đày rẫy bất công trong sáng tác của
Nguyễn Công Hoan luôn tồn tại hai dạng người đối lập, giữa
một bên là kẻ giàu và một bên là người nghèo. “Một đằng
chẳng làm gì mà ăn gập mặt không hết tiền, một đằng thì vất
vả đủ đường mà suốt đời đói rách”[26,tr.234]. Khi viết về loại
nhân vật “chẳng làm gì mà ăn gập mặt không hết tiền”,
Nguyễn Công Hoan tỏ ra rất cứng tay và quyết liệt. Ông không
chừa một ai.Khinh ghét những hạng người giàu có nhưng bất
nhân, bất nghĩa, bất hiếu. Đó là những ông quan phụ mẫu, bọn
người có thế lực, những cụ Chánh, ông Lý ở nông thôn đến
những ông chủ, bà chủ tư sản ở nơi thành thị. Ngòi bút hiện
thực Nguyễn Công Hoan chĩa thẳng vào những thói xấu,
những bản chất phi nhân tính của chúng, vạch trần những bộ
mặt ghê tởm, nhem nhuốc, mà phơi bày, mà tốcáo chúng.
Đó là một cụ Chánh “dữ như con hùm, khét tiếng trong
hàng tổng là quyền hành, hách dịch, thét ra lửa”[28,tr.334].
Tác giả dùng thành ngữ “dữ như hùm”, kiểu so sánh nổi kết
hợp chất liệu dân gian để miêu tả, CSSS là một tính từ chỉ
tính cách, CĐSS là một khái niệm cụ thể “con hùm” càng thể
hiện bản chất tác oai, tác quái của một tên cường hào địa chủ


nơi vùng quê hẻo lánh. Điều “đáng kính” ở nhân vật cụ Chánh
này là “xưa nay chúa ghét những thói gian giảo”.Cụ ghét thói
giả dối nhưng cụ lại chính là một tên xảo trá, “gian giảo”
chính hiệu. Cụ Bá có thể gọi là một tên ăn cắp có “nghệ
thuật” bởi kẻ mất cắp lại sợ sệt, mà kẻ lấy cắp lại đường
hoàng, oai nghiêm một cách trâng tráo.
Nhân vật những tên quan tham vô đạo cứ trở đi trở lại
trong các truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan.Ai cũng biết
quan là để giúp nhân dân, để trị cướp cho dân nhưng ngược
đời thay, nực cười hơn những kẻ hành pháp lại là những kẻ
phạm pháp. Quan huyện ta lại là một kẻ cướp, một kẻ cướp
không cần lao tâm lao lực, cướp một cách trơ trẽn nhưng
không bị tội, không bị tai tiếng, không sợ pháp luật vì pháp
luật đã nằm sẵn trong tay quan rồi. Nguyễn Công Hoan thật
tài tình khi xây dựng một nhân vật là quan huyện nhưng lại là
một thằng ăn cướp chính tông “Từ ngày ông huyện về hạt ta
ông ấy ghê gớm quá. Ông ấy tinh như ma xó”[29,tr.111]. Vẫn
là cấu trúc so sánh nổi, CĐSS là một danh từ chỉ khái niệm
trừu tượng “ma xó”, dù không biết “ma xó” là như thế nào
nhưng nhờ CSSS là một tính từ chỉ khả năng nhận biết “tinh”,
một kiểu so sánh độc đáo, nhà văn so sánh độ tinh tường, tinh
anh của một “ông quan huyện” giống như một con “ma xó”,


cái gì cũng biết, biết rõ tinh tường mọi chuyện, mọi ngóc
ngách.Hình ảnh so sánh giàu sức gợi, người đọc có thể hình
dung ra một tên quan huyện trơ trẽn, xảo quyệt, tinh quái đến
nỗi thằng ăn cướp không giám theo đuổi nghề cướp để bị
cướp lại “thành ra khó nhọc vất vả bao nhiêu, mình không ăn
thua gì, rút cục chỉ béo họ ngồi mát ăn bát vàng”[29,tr.119].
Quan tham là một kiểu nhân vật được ngòi bút phê phán
Nguyễn Công Hoan công kích mạnh nhất.Quan bóc lột người
sống đã đành, đến người chết rồi cũng chẳng được yên.Một
truyện ngắn làm người đọc phải nao lòng,xót xa khi cái thây
người chết cứ trương phình ra, đang “là ân nhân của đàn cá,
ruồi nhặng, quạ. Chân tay vẫn co quắp như dọa, mặt mũi vẫn
nhăn nhó như nát, nhưng anh vẫn bị rỉa, bị hút, bị đớp như
thường”[29,tr.224].CSS là một vài bộ phận của anh Xích
“chân, tay”, CSSS là những động từ chỉ trạng thái “co quắp,
nhăn nhó”.Nhưng đây không phải là vấn đề cần phân tích ở
câu văn so sánh này, điều phân tích ở đây chính là nằm ở
CSSS, CSSS là những động từ mạnh “Dọa, rỉa, hút, đớp”, đó
cách ăn của những con vật cá, ruồi, quạ chúng đang gặm
nhấm từng li, từng tí một trên thây xác của anh Xích. Chính
cách ăn của những con vật đó, Nguyễn Công Hoan lại cho


người đọc lần lượt lật tẩy, phơi bày tất cả bản chất xấu xa của
những kẻ đứng đầu bộ máy pháp luật. Từ trên xuống dưới, là
cả một hệ thống với quyền hành, thế lực đè nén, bóc lột con
người lao động nghèo khổ, quan cũng “rỉa, hút, đớp”, cũng
tranh nhau miếng mồi ngon.“Và một giờ sau, lũ ruồi, lũ
nhặng, lũ cá, lũ quạ, tiếc ngẩn ngơ. Chúng có biết đâu rằng
quan Huyện tư pháp đã tranh mất món mồi ngon của
chúng”[29,tr.229]. Bằng lối so sánh chìm, vắng yếu tố 3 (tss),
những nét tương đồng ẩn ngầm vào bên trong của hai vế so
sánh, Nguyễn Công Hoan đã đồng nhất “quan huyện tư
pháp” với “lũ ruồi, lũ nhặng, lũ cá, lũ quạ”đang cùng nhau
rỉa, đớp “cái thây anh Xích”.Đọc những câu văn so sánh miêu
tả hành động của những tên quanmàthấy thương cho người
dân mình ngày trước phải chịu cảnh bất công, vô lí. Đến con
chết không được chôn, mẹ chết cũng không được ra đồng
(Người Thứ ba)
Không chỉ những tên quan tham đê tiện, Nguyễn Công
Hoancòn chĩa thẳng ngòi bút để công kích, phê phán vào
những ông chủ, bà chủ cậy quyền, lắm tiền nhưng cũng lắm
tính xấu, luôn tỏ ra là người sang trọng, giàu có nhưng bất
hiếu, bất nghĩa, sống giả tạo đến kinh sợ. “Bà ấy ở đây ngày


nào, tôi ê chệ ngày ấy. Đấy cậu xem, hôm qua đấy, một suýt
nữa bà ấy mà vào cửa trước, thì có họa mặt mình là mặt
mo”[28,tr.306]. Cái sĩ diện của một cô con dâu xem mẹ chồng
nghèo đói là sự nhục nhã, xấu hổ so với vị thế xã hội mà bà ta
đang cóđược, tác giả sử dụng một từ so sánh có tính chất
khẳng định “là” trong câu văn so sánh. Với dạng thức so sánh
A là B, (A): mặt (mặt người), TSS: là, CĐSS: mặt mo.Một
mặt tác giả dẫn dắt người đọc tìm đến bản chất và việc làm
độc ác của cô con dâu là giết mẹ bằng thuốc độc một cách bí
mật, để rồi lúc hạ huyệt mới đáng thương làm sao! “Kêu khản
cả tiếng, khóc hết cả hơi,…quá lắm đến nỗi ngất
đi”[28,tr.314], và nếu không có người khuyên tốt thì “thà đi
theo mẹ còn hơn chịu bơ vơ như chim mất tổ!”[28,tr.314].
Một mặt nêu bật nội dung hiện thực của tác phẩm, ta thấy
thương cho người mẹ nghèo lam lũ có những đứa con đại bất
hiếu, khi giàu có coi mẹ ruột của mình không bằng những kẻ
ăn xin, đầy phẫn uất.
Hay một ông huyện Hinh trong truyện Đồng hào có ma,
tham lam, bỉ ổi tới mức vơ vét cả đến đồng xu cuối cùng của
con mẹ Nuôi nghèo đánh rơi mà mặt cứ tỉnh như không, “và
vẫn tự nhiên như không, ông cúi xuống thò tay nhặt đồng hào


đôi sáng loáng, thổi những hạt cát nhỏ ở đế giày bàm vào, rồi
bỏ tọ vào túi”[29,tr.99]. Lối so sánh rất tự nhiên ở đây, không
chỉ để miêu tả mà câu văn so sánh còn bộc lộ cảm xúc, người
đọc vụt hiểu tất cả và có ngay một ấn tượng khó quên về cái
cử chỉ, hành động của quan khi kết truyện. Dù con mẹ Nuôi
bất hạnh kia có tìm mọt kiếp cũng không thấy đồng tiền đánh
rơi của mình nằm ở đâu.
Ở Nguyễn Công Hoan nổi bật và đáng ghi nhận nhất
cósở trường khắc họa tính cách nhân vật phản diện.Những câu
chuyệnmà ông thể hiện qua truyện ngắn hầu hết đều là những
chuyện nhố nhăng, đáng buồn, vì thế ý nghĩa chính trong
những sáng tác của ông đều thiên về mặt phê phán. Nhưng đó
là những người giàu, bọn quan lại khét tiếngăn cắp, ăn cướp
của dân, thế còn dân nghèo qua lăng kính của Nguyễn Công
Hoan họ phải chịu những bất công nào? Bằng cái nhìn hiện
thực “vào mặt trái của cuộc đời” tác giả đã phát hiện và miêu
tả những cảnh khổ cực của người dân lao động ngày trước, họ
đều là những thành phần dưới đáy của xã hội. Đó là người
nông dân, công nhân, anh kép hát, kẻ đi ở, phu xe, đứa ăn cắp,
ăn mày,…trong Kép Tư Bền, Sáng chị phu mỏ, Thịt người
chết, Tấm giấu một trăm, Sáu mạng người, Đào kép mới,
Thanh, Dạ!, Thằng Quýt I,II,Cái vốn để sinh nhai, Mua bánh,


Mua lợn, Hé!Hé!Hé,Tinh thần thể dục,... Mỗi người, mỗi số
phận khác nhau nhưng họ đều giống nhau ở sự nghèo đói, bị
áp bức một cách bất hạnh.Nhà văn đã lôi ra không biết bao
nhiêu cảnh khổ của họ để từ đó khám phá, phơi bày bản chất
thực sự của xã hội thực dân, phong kiến.
Họ quần quật quanh năm làm ăn, vất vả đủ đường mà
vẫn nghèo đói.Một anh nhọ mõm trongtruyện Đào kép mới, vì
không may ở trong buồng trò chạy ra, anh vấp ngay vào vai
quan, ngã lộn tùng phèo,cơ thể đau đớn nhưng,“ngã xong,
anh đứng phắt dậy, ngay như tượng gỗ, xòe năm ngón tay lên
trán

để

chào

kiểu

nhà

binh,

người

ta

lại

cười”[28,tr,713].CSSS là những động từ chỉ hoạt động dứt
khoát “đứng phắt dậy ngay”, kết hợp với CĐSS là một danh
từ cụ thể “tượng gỗ”,khiến người đọc không khỏi nỗi xót xa
về cái nghề của người nghệ sĩ,dù đau đớn đến mấy nhưng vẫn
phải làm trò để người ta cười, “tiếng cười ran như pháo, để
thưởng cho anh kép hát pha trò đậm”. Dù “phải phơi dưới
ánh nắng nóng như thiêu,…mồ hôi lấm tấm, ròng ròng nhỏ
giọt”[28,tr.717] thì họ cũng phải cố giữ lấy bộ mặt tươi
tỉnh.Một anh kép hát Tư Bền hay đóng vai giễu trong rạp hát
Kịch trường chỉ vì món nợ với ông chủ mà khi cha anh “cấm
khẩu” ở nhà thì trên sàn diễn anh vẫn phải làm trò để người ta


cười ha hả, cười vỡ bụng, hét lên mà cười, đi đôi với cái bông
lơi ấy là tâm trạng “rầu như dưa, xót như muối”[28,tr.369]
của anh. Rõ thật là, khi người ta nghèo khổ thì đồng tiền lại
có sức mạnh vạn năng đến vậy!Nó có thể bắt ta cười ngay cả
khi ta muốn khóc, bởi cái cười ấy đã được hợp đồng, đã được
trả tiền để mua rồi,tài năng của họ cũng chỉ là công cụ cho
bọn tư sản kiếm lời mà thôi.Xót thương cho thân phận của
những kiếp người phu xe Nguyễn Công Hoan có một loạt
truyện như: Ngựa người, người ngựa, Được chuyến khách.
Truyện ngắn Tấm giấy một trăm kể về nỗi oan ức của anh phu
xe chở bà chủ đi một vòng quanh Hà Nội, không cẩn thận bà
làm rơi tờ giấy một trăm ở xe của anh mà anh không hề hay
biết, chỉ đến khi “chiếc đệm vừa nhấc lên, tờ giấy trăm gấp
tám đánh rơi vào trong hòm xe như để chạy trốn”[29,tr.379],
thì chỉ có bà chủ “mười móng nhuộm đỏ như son”, chỉ có
những kẻ cầm quyền (bốn thám tử) kia mới hiểu nổi nỗi oan
ức của anh.Đối với họ, miếng ăn kiếm được không chỉ đổi
bằng mồ hôi, nước mắt mà đổi cả bằng máu, tai ương lại luôn
rình rập đổ xuống đầu họ bất cứ lúc nào.
Nguyễn Công Hoan bằng những tác phẩm của mình, tác
giả đã khắc họa được hình ảnh của những con người vật vã


với cái đói, bần cùng bởi cái đói và lưu manh tha hóa cũng chỉ
vì đói với những tấn bi, hài kịch, dở khóc, dở cười của cuộc
đời họ.Nhưng trên tất cả họ đều bị đối xử, bị áp bức một cách
bất công phi lý khiến cho bi kịch cuộc đời họ càng thêm bi
kịch.
- So sánh vànghệ thuật khắc họa chân dung nhân vật
Để tạo nên những trang văn có sức hấp dẫn đặc biệt với
đông đảo độc giả, Nguyễn Công Hoan đã xây dựng nên một
thế giới nhân vật sống động “đông đúc, lúc nhúc”, đầy đủ
hạng người. Mỗi hạng người là một vẻ khác nhau, đều được
Nguyễn Công Hoan khắc tạc một cách cụ thể, sinh động trên
trang viết của mình thông qua hình thức nghệ thuật so
sánh.Như đã nói ở trên, ngòi bút của Nguyễn Công Hoan rất
có duyên với những nhân vật quan lại giàu có, những tên tư
sản tham lam, tàn bạo.Phải chăng thông qua một loạt những
hình thức so sánh tu từ đó, Nguyễn Công Hoan muốn nhấn
mạnh tính chất giả dối và tàn bạo của xã hội Việt Nam đương
thời trước cách mạng.
- So sánh và chân dungnhững kẻ giàu có, quyền thế


Con người là đối tượng của văn học. Mỗi nhà văn lớn lại
có quan niệm riêng của mình về con người và sáng tạo ra kiểu
nhân vật không trộn lẫn với ai. Dòng văn học hiện thực phê
phán 1930 – 1945 nổi lên với cây bút tên tuổi như: Nguyễn
Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nam Cao,…họ
đều có quan niệm nghệ thuật về con người khác nhau.
ỞNgô Tât Tố, con người không bao giờ chịu sự tha hóa,
dù đói kém triền miên, dù phải chạy ngược, chạy xuôi lo toan
mọi bề lo cho chồng, cho con, đóng sưu thuế,… nhưng chị
Dậu trong tác phẩm cùng tên lúc nào cũng giữ nguyên cái
xuân sắc của mình giống như một bông hoa đẹp, để cho các
quan nhìn thấy ai cũng thèm muốn. Hay cái Tý đứa con gái
của chị, đói deo đói dắt là thế nhưng khi bị bọn nhà giàu bắt
phải ăn cơm thừa của chó “nó nhai như nhai trấu”, nó trước
sau vẫn giữ nguyên cái cảm giác của con người. Liệu có phải
nhân vật của ông có phần được lí tưởng hóa, tách khỏi tác
động môi trường, đứng ngoài môi trường hay không?
Còn con người của Nam cao, dù tha hóa nhưng không
mất hẳn nhân tính. Cái thằng Chí Phèo trong tác phẩm cùng
tên của ông “một con quỷ dữ”của làng Vũ Đại, bị cả làng
kiềng mặt nhưng khi tình yêu nảy nở và tình yêu đemđến cho
con người ta sự nhạy cảm của một con người, tình yêu đã


đánh thức Chí, Chí đã không chịu buông xuôi để tha hóa hoàn
toàn.
Nhưng khi đọc các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan ta
lại nhận thấy con người hoàn toàn bị tha hóa. Bởi cái nhìn
nghệ thuật của nhà văn là cái nhìn vào “mặt trái cuộc đời, mặt
trái của con người”, do đó “Con người của ông hầu như bị vật
hóa, đồ vật hóa, ở trong tình trạng phi nhân tính. Còn gì đáng
buồn, đáng cười và đáng sợ hơn là khi con người đã không
còn là con người nữa!”[32,tr.42].Chúng ta có thể tham khảo
những minh chứng ở Phụ lục 2, bảng 2.“Bảng khảo sát những
so sánh đối tượng vật hóa là những người giàu”.
Vật hóa, đồ vật hóa là một biểu hiện của sự tha hóa của
con người.Thông qua nghệ thuật so sánh, một mặt Nguyễn
Công Hoan khắc họa những chân dung nhân vật khá cụ thể và
độc đáo,mặt khác tạo hiệu quả lạ hóa trong truyện ngắn của
mình.Những con người này bị phơi bầy ra với tất cả sự xấu xí,
trống rỗng vô hồn, vô cảm, đê tiện, thấp hèn. Giàu có, quyền
uy, bệ vệ là thế mà Nguyễn Công Hoan gọi chúng là những
“Cây thịt”:
“Trên đệm lò xo rung rinh, thấy đặt một thứ cây quý giá,
tuy hơi cổ thụ, nhưng chưa có vẻ gì cằn cỗi. Ngọn cây còn
xanh tốt, lại có điểm một bông hoa đỏ thắm. Vỏ cây có chỗ


nhăn nheo, song người ta khôn khéo, lấy một lần bột gạo
thơm che lấp đi. Toàn thân phủ nhiễu trắng, thứ nhiễu tây
mềm nhũn và mát rợi.
Cây đó là cây thịt.
Cây thịt đó là bà Phán Tuyên… Cái díp xe cứ rập rình
làm cho những nạm thịt ở má, ở ngực bà Phán theo dịp núng
na, núng nính”[28,tr.573].
“Ông chủ nhiệm đặt phịch cây thịt xuống ghế, duỗi
thẳng hai cẳng[28,tr.222](…)“Ông chủ bút đứng dậy chào,
bắt tay, mời ngồi. Rồi cũng đặt phịch cây thịt xuống ghế, duỗi
thẳng cẳng ra”[28,tr 228].
“Rồi khoảng đêm trường như miếng vải đen đậy kín lấy
từng phiến thịt”[28,tr.478].“Đó là một chú lính da đen ở đạo
quân thuộc địa thứ chín: một con bò mộng nuôi chờ ngày mổ
thịt…Bàn tay nhầy những thịt nhanh nhẹn rót rượu cho
chồng, cho khách, cho mình”[28,tr.447], rồi là những “thớ
thịt”, “bắp thịt”, “phiến thịt”[28,tr.487] hay “cây thịt vạm vỡ”
(Sáng – chị phu mỏ), Thậm chí là “Cả người bà là một đống
thịt



thể

làm

bẹp

những

díp

bánh

xe

cứng

nhất”[29,tr.457].Ở đây, ta dễ dàng nhận thấy cấu trúc so sánh
hoàn toàn mới lạ và độc đáo của nguyễn Công Hoan.Phần lớn
khi khắc họa những chân dung nhân vật này Nguyễn Công
Hoan đều sử dụng cấu trúc so sánh chìm, khuyết thiếu các yếu


tố so sánh, đòi hỏi độc giả phải đọc cả câu, hoặc cả văn cảnh
kết hợp với sự liên tưởng mới thấy được.
Kiểu so sánh mới lạ, độc đáo ở chỗ. Bà phán Tuyên là vợ
của một ông phán từng bị lĩnh án mười tám tháng tù vì tội ăn
hối lộ thế nhưng khi vào tù ông phán vẫn làm tròn bổn phận
của một người chồng, người cha “lĩnh chức ông phán”. CSS ở
đây là hình ảnh một bà Phán bằng xương bằng thịt,CĐSS là
một khái niệm trừu tượng, đó là hình ảnh của một thứ cây quý
giá, cây đó là “cây thịt” và bà được ví như một thứ cây “hơi
cổ thụ”, cây đó “vỏ nhăn nheo” nhưng người ta khôn “lấy bột
gạo thơm che lấp đi” không còn nhìn thấycái vẻ gì là cằn cỗi
của nó. Bởi thế,“ngọn vẫn xanh tốt, điểm thêm bông hoa đỏ
thắm”. Thứ cây thịt núng na núng nính thế chưa đủ bà phán
vẫn muốn ông phán: “Giá ông được đi tù mười năm, có phải
cả nhà sung sướng hơn không nhỉ?”[28,tr.579]. Từ diện mạo
cho đến tính cách,Nguyễn Công Hoan cho ta thấy rõ bản chất
xấu xa của một bà vợ quan tham lam vô độ.
Hình ảnh một ông chủ nhiệm tờ báo Đời Mới tính tình
thất thường, hôm kia vui vẻ, hôm qua đi vắng, hôm nay về đã
khác hẳn. Cái lạ ở chỗ chưa lần nào tờ báo lại bán chạy như
lần này, in đến đâu bán hết đến đấy, ai cũng mừng rỡ, cớ sao
ông chủ báo vẫn không bằng lòng, cũng được Nguyễn Công


Hoan so sánh với một thứ cây, đó là “cây thịt”,vẫn là cấu trúc
so sánh chìm, CSS là một khái niệm cụ thể, được so sánh với
CĐSS là một khái niệm trừu tượng khiến cho người đọc
không khỏi bất ngờ, thú vị về những ông chủ, bà chủ có một
lối sống khiến diện mạo trở nên bất bình thường, béo đến nỗi
khiến cho việc đi lại, đứng ngồi như người bình thường thôi
cũng vô cùng khó khăn. CĐSS lúc này không chỉ là một thứ
“cây thịt” mà đượcmở rộng ra với hàng loạt hình ảnh so sánh
trừu tượng giàu sức gợi như: phiếm thịt, thớ thịt, bắp thịt hay
cả một “đống thịt” với lối so sánh độc đáo đã khiến người đọc
không thể không cười một cách khoái trá khi bắt gặp những
hình ảnh này, dường như nhà văn đang miêu tả những con vật
được chăm bẵm quá mức chứ không phải người.
Trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan có khá nhiều:
quan ông, quan bà, cụ chánh, thầy lý, thầy ký, ông chủ, bà
chủ... Tất cả các nhân vật phản diện này tuy khác nhau về tên
gọi, địa vị, song ở chúng có điểm chung về ngoại hình là: phè
phỡn, béo tốt, phì nộn, xấu xí…đều có tính cách giống nhau
là: ác độc, xấu xa, đê tiện. Đối với nhà văn“phía xấu dễ nhập
hơn phía tốt”. Chonên hình như con mắt của nhà vănkhông
biết thưởng thức cái đẹp. “Đứng trước một phụ nữ má hồng
hẳn hoi trang điểm mất rất lắm công phu, thì tôi lại nhìn bằng


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×