Tải bản đầy đủ

KHẢ NĂNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ CHĂM SÓC TIỀN SẢN VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA THAI PHỤ TẠI HUYỆN MỸ XUYÊN TỈNH SÓC TRĂNG NĂM 2011

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ LINH ĐƠN

KHẢ NĂNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ CHĂM SÓC
TIỀN SẢN VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
CỦA THAI PHỤ TẠI
HUYỆN MỸ XUYÊN TỈNH SÓC TRĂNG NĂM 2011


MỤC LỤC
MỤC LỤC........................................................................................................................ 2
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT..................................................................................................6
CSSKSS : Chăm sóc sức khỏe sinh sản............................................................................6
CSSKTS : Chăm sóc sức khỏe tiền sản............................................................................6
UNICEF : Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc........................................................................6
WHO : Tổ chức y tế thế giới............................................................................................6
ĐẶT VẤN ĐỀ.................................................................................................................. 1

Câu hỏi nghiên cứu........................................................................................................3
Mục tiêu nghiên cứu......................................................................................................3
2.1 Thiết kế nghiên cứu................................................................................................21
2.2 Đối tượng nghiên cứu.............................................................................................21
2.3 Cỡ mẫu.................................................................................................................. 21
2.4 Phương pháp chọn mẫu..........................................................................................21
2.5 Tiêu chí chọn mẫu..................................................................................................22
2.6 Thu thập dữ kiện....................................................................................................22
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ................................................................................................29
Tuổi................................................................................................................................ 29
Tiền sử sinh non*...........................................................................................................30
Tiền sử sẩy thai*............................................................................................................. 30
Sinh con có chủ định......................................................................................................30
N(%)........................................................................................................................... 37
N (%).......................................................................................................................... 37
Tuổi................................................................................................................................ 37
(*)................................................................................................................................... 37
N(%)........................................................................................................................... 38
N (%).......................................................................................................................... 38


N(%)........................................................................................................................... 39
N (%).......................................................................................................................... 39
Tiền sử sinh non.............................................................................................................39
Tiền sử xảy thai..............................................................................................................39
Sinh con có chủ định......................................................................................................39
Không chủ định..............................................................................................................39
p

40

Có 40
n (%)........................................................................................................................... 40
PR (%)..................................................................................................................... 41
Kết luận....................................................................................................................... 41
p

42

Có 42


PR (%)..................................................................................................................... 43
Kết luận....................................................................................................................... 43
p

44

Có 44
p

44

Có 44
PR (%)..................................................................................................................... 45
Kết luận....................................................................................................................... 45
p

46

Có 46
PR............................................................................................................................ 46
(%) 46
Kết luận....................................................................................................................... 46
PR............................................................................................................................ 47


(%) 47
Kết luận....................................................................................................................... 47
p

48

Có 48
PR............................................................................................................................ 48
(%) 48
Kết luận....................................................................................................................... 48
p

50

Có 50
PR............................................................................................................................ 50
(%) 50
Kết luận....................................................................................................................... 50
PR............................................................................................................................ 51
(%) 51
Kết luận....................................................................................................................... 51
CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN.............................................................................................52
KẾT LUẬN.................................................................................................................... 71



BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

CSSKSS

: Chăm sóc sức khỏe sinh sản

CSSKTS

: Chăm sóc sức khỏe tiền sản

UNICEF

: Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc

WHO

: Tổ chức y tế thế giới


1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Những tai biến trong quá trình mang thai và sinh đẻ là lý do hàng đầu gây nên tử
vong hay tàn tật cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ ở các nước đang phát triển. Trên toàn
thế giới, mỗi ngày ước tính có khoảng 1000 phụ nữ tữ vong do những nguyên nhân liên
quan đến thai sản; Riêng trong năm 2008, có khoảng 358.000 phụ nữ tử vong từ các
nguyên nhân liên quan đến thai sản gây ra. Điều đặc biệt là hầu hết các trường hợp tử
vong đều thuộc những nước đang phát triển.[41]
Tại Việt Nam, theo một báo cáo của Bộ Y Tế vào năm 2007 thì phần lớn các
nguyên nhân tử vong ở mẹ và trẻ sơ sinh là do sự hạn chế trong việc tiếp cận dịch vụ
chăm sóc sức khỏe, điều kiện và các phương tiện cấp cứu sản khoa .[16]
Từ đó cho thấy, để giảm tỷ lệ tử vong mẹ, cần tăng cường hơn nữa khả năng tiếp
cận với các dịch vụ CSSKSS. Đặc biệt là chăm sóc sức khỏe trong giai đoạn tiền sản.
Nâng cao CSSKTS cho thai phụ là một trong những mục tiêu hàng đầu của WHO nhằm
giảm tỷ lệ tử vong mẹ.[41] Một báo cáo của WHO cho thấy, chỉ riêng chăm sóc sức
khỏe tiền sản có thể làm giảm tỷ lệ tử vong mẹ lên đến 20% ( trong đó giảm 12% do
phát hiện và điều trị kịp thời sản giật nặng và 8% là ngăn ngừa thai ngoài tử cung) và
33% thai chết khi sinh (trong đó giảm 25% do chẩn đoán sớm các bệnh truyền nhiễm và
quản lý hiệu quả các biến chứng khi mang thai, giảm 8% do tầm soát bệnh giang mai và
điều trị các ca dương tính).[35]
Ngoài ra, chương trình những mục tiêu phát triển trong thiên niên kỷ do Liên
Hiệp Quốc đề ra cho các quốc gia cũng xác định hệ thống chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ
em, trong đó bao gồm cả chăm sóc sức khỏe tiền sản, được xem là một trong những mục
tiêu đầu tiên cần cải thiện. Tại một số nước có nền kinh tế phát triển thuộc khu vực Châu
Á như Nhật, Hồng Kông, Hàn Quốc, chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em đạt
được những kết quả mong muốn, đặc biệt là sự công bằng trong tiếp cận với chương


2

trình. Tuy nhiên, tại những nước đang phát triển thì sự thiếu công bằng trong tiếp cận
chương trình vẫn còn là vấn đề lớn.[32]
Tại Việt Nam, sau thời gian triển khai chương trình làm mẹ an toàn, kết quả thu
được là đã giảm tỷ lệ tử vong mẹ từ 260/100.000 ca sinh sống năm 1990 xuống còn
160/100.000 ca sinh sống vào năm 1996 và 130/100.000 ca sinh sống vào năm 2000;
[39] Và đến năm 2009 giảm xuống còn 75/100.000 ca sinh sống.[31] Tuy nhiên xu
hướng này có phần chững lại trong những năm gần đây, đặc biệt là từ năm 2006 đến
năm 2009 thì tỷ lệ này không giảm. Điều này đưa ra một thách thức lớn cho Việt Nam
trong việc duy trì bền vững hiệu quả của chương trình nhằm đạt được mục tiêu phát triển
thiên niên kỷ do Liên Hiệp Quốc đưa ra đến năm 2015 đối với Việt Nam là giảm tỷ lệ tử
vong mẹ xuống còn 58,3/100.000 trẻ sinh sống với trọng tâm là phụ nữ nghèo và dân
tộc thiểu số.[15]
Huyện Mỹ Xuyên - Sóc Trăng là một trong những huyện nghèo của cả nước. Đây
là địa phương có tỷ lệ đồng bào dân tộc Khơ-me cao, chiếm gần 50% dân số, sinh sống
tập trung tại các xã vùng sâu, vùng xa. Đời sống kinh tế dựa vào thuần nông, độc canh
cây lúa. Do đất đai cằn cỗi, nhiễm phèn, trình độ dân trí thấp nên đời sống nhân dân hết
sức khó khăn.[9] Tính đến tháng 7/2007, toàn huyện có 14.771 hộ nghèo (34,4%), trong
đó có 7382 hộ dân tộc Khmer nghèo (49,98%).[4] Trong khi đó, dựa theo báo cáo về
công tác CSSKSS của huyện Mỹ Xuyên vào năm 2010, chỉ có 1 số nội dung rất hạn chế
về CSSKTS được đề cập đến; bao gồm tổng số lần khám thai của tất cả phụ nữ (10152
lần) và phụ nữ được tiêm phòng uốn ván đủ liều (96,6%) và tỷ lệ phụ nữ được tư vấn khi
đi khám thai (93%).[14] Mặt khác, hầu hết tai biến về sản khoa và số chết mẹ cũng
không có số liệu cụ thể trong báo cáo này. Điều này cho thấy hệ thống quản lý về
CSSKTS tại huyện Mỹ Xuyên còn nhiều bất cập. Chính vì vậy việc tiếp cận với dịch vụ
CSSKTS của các phụ nữ mang thai tại Mỹ Xuyên có được quan tâm đúng mức chưa vẫn
còn là vấn đề.


3

Vì lí do đó, nghiên cứu này được tiến hành nhằm: 1) khảo sát thực trạng sử dụng
một số dịch vụ CSSKTS của thai phụ tại huyện Mỹ Xuyên; 2) xác định yếu tố liên quan
đến khả năng tiếp cận dịch vụ CSSKTS của thai phụ.
Câu hỏi nghiên cứu
Tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng năm 2011:
− Tỉ lệ thai phụ tiếp cận với các dịch vụ CSSKTS là bao nhiêu?
− Kiến thức về CSSKTS có ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các dịch vụ CSSKTS
của thai phụ không?
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Xác định tỷ lệ thai phụ tiếp cận các dịch vụ CSSKTS và các yếu tố liên quan đến sự
tiếp cận các dịch vụ của thai phụ.
Mục tiêu cụ thể
1. Xác định tỷ lệ thai phụ tiếp cận 6 loại dịch vụ CSSKTS sau đây phân bố theo tuổi,
dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tôn giáo, tiền sử mang thai trước đó, tiền sử
đẻ non và tiền sử sẩy thai, sinh con có chủ định của thai phụ







Khám thai
Xét nghiệm
Siêu âm
Tiêm ngừa uốn ván
Thuốc thiết yếu khi mang thai
Tư vấn, giáo dục sức khỏe khi mang thai

2. Xác định tỷ lệ thai phụ có kiến thức với 6 loại hình dịch vụ CSSKTS trên.
3. Xác định mối liên quan giữa kiến thức về CSSKTS của thai phụ với khả năng
tiếp cận của họ với các dịch vụ CSSKTS nêu trên.


4

DÀN Ý NGHIÊN CỨU

Tiền sử sản khoa
Mang thai trước đó
Sinh non
Sẩy thai
Sinh con có chủ định

Yếu tố dân số học
Tuổi
Dân tộc
Tôn giáo
Nghề nghiệp
Trình độ học vấn

Tiếp cận dịch vụ CSSKTS:
Khám thai
Xét nghiệm
Siêu âm
Tiêm ngừa uốn ván
Thuốc thiết yếu khi mang thai
Tư vấn, giáo dục sức khỏe khi mang thai

Kiến thức về
Khám thai
Xét nghiệm
Siêu âm
Tiêm ngừa uốn ván
Thuốc thiết yếu


5

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN Y VĂN
1.1 Các định nghĩa cơ bản
1.1.1 Sức khỏe sinh sản
Sức khỏe sinh sản là tình trạng thoải mái hoàn toàn cả về mặt thể chất, tinh thần, xã hội,
không phải chỉ không bệnh, không tật, không tàn phế, trong mọi lĩnh vực liên quan đến
hệ thống sinh sản cùng với chức năng và diễn biến của nó. Sức khoẻ sinh sản có thể
được hiểu là có thể có đời sống tình dục an toàn, thoả mãn và có trách nhiệm và ở đó
người ta có quyền sinh sản và tự do quyết định liệu có nên có còn không, khi nào có con
và khoảng cách giữa các lần sinh.[5, 38]
1.1.2 Sinh non
Sinh non là khi trẻ trẻ lọt lòng mẹ ở thời điểm tuổi thai chưa đến 37 tuần. [12,
37]Theo một báo cáo của WHO, trên toàn thế giới, mỗi năm có khoảng 12,9 triệu trẻ
sinh non, chiếm khoảng 9.6% số trẻ được sinh ra. [37]Trẻ sinh non thường mắc nhiều
chứng bệnh như:
Suy hô hấp : trẻ sinh non thường có biểu hiện tím tái, khó thở. Nếu không được
các bác sỹ chăm sóc đặc biệt, trẻ có thể suy hô hấp nặng dẫn đến tử vong.
Chứng xơ võng mạc: nồng độ oxy trong máu cao làm cho võng mạc của trẻ bị
giãn nở, thị giác kém, có thể dẫn đến mù lòa.
Xuất huyết: trẻ sinh non có thể thiếu hụt tế bào máu và bị xuất huyết các cơ quan
nội tạng như: dạ dày, phổi, tiết niệu,... Trường hợp nặng, trẻ có thể bị hôn mê, co
giật,...Ngoài ra, trẻ có thể bị liệt não, thiểu năng, nhiễm trùng và có thể tử vong.[12, 37]
1.1.3 Sẩy thai
Sẩy thai là hiện tượng thai ra ngoài bụng mẹ trước tuần thứ 20. Hầu hết các trường hợp
xẩy thai thường xảy ra trước tuần thứ 14 của thai kỳ.[21]
1.1.4 Một số vấn đề cơ bản về CSSKTS
Khám thai


6

Theo khuyến cáo của WHO, tất cả phụ nữ mang thai nên đi khám thai ít nhất 4 lần trong
suốt thai kì dưới sự giám sát của các nhân viên y tế có tay nghề. Những lần khám thai
này nên được thực hiện từng khoảng thời gian trong suốt thai kì, đặc biệt càng sớm càng
tốt trong ba tháng đầu. Nhằm mục đích phòng ngừa hoặc phát hiện sớm, điều trị kịp thời
các vần đề về sức khỏe trong thai kì cho thai phụ.[40] Tuy nhiên, với tình hình là một
nước đang phát triển, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe mới được quan tâm gần đây nên
chính phủ Việt Nam đã có khuyến cáo khám thai ít nhất là 3 lần trong suốt thai kì và
khám trong vòng 3 tháng đầu.[2]Trong đó, hai kỹ thuật khám thai phổ biến hiện nay là
xét nghiệm và siêu âm[11, 40]
Trong quá trình mang thai, theo khuyến cáo của Bộ Y tế năm 2009, các thai phụ
nên làm các xét nghiệm cần thiết sau: thử protein nước tiểu, thử máu ( huyết sắc
tố/hematocrit), xét nghiệm phân xem có giun nếu có thiếu máu, xét nghiệm khí hư, thử
HIV, giang mai và viêm gan.[2]
Với xét nghiệm propein nước tiểu, bà mẹ mang thai có thể được phát hiện xem có
nhiễm trùng đường tiết niệu. Ngoài ra, còn có thể phát hiện các bất thường trong chức
năng thận chẳng hạn như đường hoặc protein vượt quá mức bình thường. Điều này rất
quan trọng vì có thể dẫn đến nhiễm trùng máu cho người mẹ. Protein trong nước tiểu ở
cuối thai kỳ còn có thể là dấu hiệu của tiền sản giật.
Xét nghiệm máu có thể phát hiện tình trạng thiếu máu ở phụ nữ có thai.
Các xét nghiệm còn lại nhằm giúp phát hiện sớm và điều trị kịp thời để tránh biến
chứng cho thai nhi.[17, 23, 28]
Trong những năm gần đây, siêu âm đã đóng góp một phần quan trọng trong việc
chuẩn đoán sức khỏe cho thai nhi, với những ưu điểm như: không có tia X, không xâm
lấn, không đau đớn. Mục đích chính của siêu âm là đánh giá tình trạng chung, phát hiện
bệnh hoặc di tật bẩm sinh của thai nhi để có hướng xử lí kịp thời. Với những kỹ thuật
siêu âm hiện nay, chúng ta có thể phát hiện các nguy cơ cho thai nhi sau đây.


7

− Trong 3 tháng đầu, có thể chuẩn đoán tình trạng thai đôi, tuổi thai đồng thời phát
hiện các bất thường về nhiễm sắc thể như: hội chứng Down, dị dạng tim, chi, thoát vị
cơ hoành v.v.
− Trong 3 tháng giữa thai kỳ, có thể phát hiện các bất thường về hình thái, cấu tạo các
bộ phận cơ thể: sứt môi, hở hàm ếch, dị dạng ở các cơ quan, nội tạng.
− Trong 3 tháng cuối thai kỳ, phát hiện những bất thường ở động mạch, tim và một
vùng cấu trúc của não. Đồng thời, cũng nhận biết tình trạng phát triển chậm của thai
nhi.
Các công trình nghiên cứu của chuyên gia Mỹ, Anh về siêu âm khẳng định việc
kiểm tra bằng siêu âm không hề gây ra khuyết tật hay làm chậm sự phát triển của thai
nhi và không để lại di chứng ảnh hướng tới sự phát triển của cơ thể, tinh thần hay bộ não
của trẻ em sau này.[10, 11, 28]
Tiêm ngừa uốn ván và thai phụ
Nhằm ngăn ngừa uốn ván cho mẹ và thai nhi, tất cả phụ nữ sinh con và trẻ sơ sinh
đều nên được tiêm ngừa uốn ván. Đến 90% những trường hợp uốn ván sơ sinh đều xuất
hiện những triệu chứng vào khoảng từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 14 và triệu chứng rõ nhất
vào khoảng ngày thứ 6 đến thứ 8.[26] Những trường hợp uốn ván thường tử vong cao
nếu không được điều trị hoặc nếu có điều trị thì tỷ lệ tử vong cũng từ khoảng 10 đến
60% tùy theo điều kiện trang thiết bị cấp cứu tại bệnh viện.[19] Chính vì tính nghiêm
trọng của bệnh uốn ván, vào giữa những năm 1970, vaccin ngừa uốn ván cho thai phụ đã
được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng của WHO.[40]
Vaccin uốn ván có hiệu lực trên 90% người được tiêm sau khi tiêm liều thứ 2
được 24 tuần. Sau đó hiệu lực miễn dịch sẽ giảm dần, hơn 3/4 phụ nữ được tiêm ngừa
duy trì miễn dịch trong 3 năm. Liều thứ 3 được tiêm cách liều thứ 2 khoảng 6 đến 12
tháng sẽ làm gia tăng cả lượng kháng thể và thời gian miễn dịch lên 5 năm. Thêm 1 liều
sau đó khoảng hơn 1 năm để kéo dài thời gian miễn dịch và sau liều thứ 5 thì thời gian
miễn dịch có thể kéo dài lên đến 20 năm. [25]Vaccin uốn ván còn có thể truyền từ cơ thể


8

thai phụ sang bào thai, có tác dụng bảo vệ thai nhi khỏi bệnh uốn ván trong suốt thời kì
sơ sinh.[25] Theo một nghiên cứu của Hannah Blencowe về tiêm ngừa uốn ván đã cho
thấy với thai phụ được tiêm ngừa từ 2 liều uốn ván trở lên trong suốt thai kì có thể làm
giảm tỉ lệ chết do uốn ván sơ sinh ở trẻ lên đến 94%.[19]
Tại Việt Nam, theo hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh
sản năm 2009, đã đưa ra khuyến cáo đối với thai phụ như sau:
− Với thai phụ chưa tiêm phòng uốn ván lần nào: tiêm mũi đầu khi phát hiện thai
nghén bất kỳ ở tháng nào; tiếp theo tiêm mũi thứ hai sau mũi tiêm đầu ít nhất một
tháng và phải cách thời gian dự kiến đẻ ít nhất 1 tháng.
− Với những người đã tiêm đủ 2 mũi, nếu:
o Lần tiêm trước < 5 năm: tiêm 1 mũi.
o Lần tiêm trước > 5 năm: tiêm 2 mũi.
− Với người đã tiêm ba mũi hoặc bốn mũi, cần tiêm nhắc lại một mũi.
− Với người đã tiêm đủ năm mũi phòng uốn ván theo đúng lịch, nếu mũi tiêm cuối
cùng cách 10 năm trở lên thì nên tiêm thêm một mũi nhắc lại[2]
Bổ sung viên sắt và thai phụ[28, 40]
Những phụ nữ không dùng đủ chất sắt trong khẩu phần ăn có thể dẫn đến bệnh
thiếu máu. Một nghiên cứu được thực hiện vào năm 1998 – 1999 cho thấy những phụ nữ
bị thiếu máu do thiếu sắt trong quá trình mang thai thì đứa trẻ sinh ra cũng có dấu hiệu
thiếu máu trong 9 tháng đầu. Vì vậy, việc cung cấp chất sắt trong thời kì mang thai là rất
cần thiết cho bà mẹ tái tạo tế bào máu cho mình và cho bào thai.
Tất cả phụ nữ trong khu vực có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao cần nhận thường xuyên
viên sắt và folate bổ sung cùng với các lời khuyên thích hợp về chế độ dinh dưỡng nhằm
ngăn ngừa bệnh thiếu máu. Tại những nơi mà tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ mang thai cao
(>= 40%) thì việc bổ sung viên sắt cần tiếp tục cho đến ba tháng cuối.


9

Mục đích của việc uống viên sắt là để ngăn ngừa và điều trị thiếu máu do thiếu
sắt ở phụ nữ trong suốt thai kì và trong giai đoạn hậu sản nhằm tăng cường sức khỏe bà
mẹ và trẻ sơ sinh.
Căn cứ vào mối liên hệ giữa thiếu máu bà mẹ và các hệ quả xấu ở trẻ sơ sinh,
người ta giả định rằng các chương trình bổ sung sắt hiệu quả tại những nơi lưu hành
bệnh thiếu máu có thể làm giảm tỷ lệ sinh non và tử vong ở trẻ sơ sinh, cũng như tử
vong mẹ và các biến chứng sản khoa liên quan đến thiếu máu nặng. Theo một số khảo
sát gần đây, mặc dù có bằng chứng rõ ràng về hiệu quả tích cực của việc bổ sung viên
sắt thường xuyên trong suốt quá trình mang thai có thể ngăn ngừa thiếu hồng cầu trong
lúc sinh hoặc sáu tuần sau sinh nhưng vẫn chưa có bằng chứng cho thấy có hiệu quả dù
là tiêu cực hay tích cực của việc bổ sung viên sắt đối với các hệ quả lâm sàng trên bà mẹ
và trẻ sơ sinh.
Định nghĩa tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về tiếp cận. Một số nhà nghiên cứu cho
rằng tiếp cận chính là khả năng sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Theo
Penchansky and Thomas, tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe được định nghĩa như là
tổng hòa của khả năng chi trả (affordability), tính thuận tiện (accommodation), khả năng
tiếp cận (accessibility), khả năng chấp nhận (acceptability), và tính sẵn có (availability)
của dịch vụ chăm sóc sức khỏe.[22] Mỗi nhóm trên lại bao gồm nhiều yếu tố có thể trở
thành rào cản đối với việc tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản. Còn theo
Gulzar, tiếp cận được định nghĩa như là những yếu tố thuộc về văn hóa xã hội, cá nhân,
kinh tế và hệ thống phù hợp giúp con người có được các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cần
thiết.[18] Puentes-Markides thì lại cho rằng các yếu tố như nhân viên chăm sóc sức
khỏe, loại hệ thống chăm sóc sức khỏe và các đặc điểm dân số học của người bệnh, cơ
sở hạ tầng hệ thống, văn hóa và giới đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận dịch
vụ y tế của người bệnh. Ngoài ra trong nhiều nghiên cứu khác của các tác giả như Wyss,
Gijsbers Van Wijk, Van Vliet, & Kolk; Geller lại đo lường tiếp cận bằng niềm tin văn


10

hóa, sự giao tiếp giữa bác sĩ và bệnh nhân, phương thức vận chuyển từ nhà đến cơ sở y
tế v.v..
Như vậy, vấn đề cần giải quyết trong nghiên cứu này là làm thế nào đo lường được
tiếp cận? Để trả lời câu hỏi, nghiên cứu này đo lường tiếp cận thông qua việc sử
dụng các dịch vụ CSSKTS, cụ thể là đo lường tỷ lệ sử dụng các dịch vụ CSSKTS.
1.2 Sơ lược chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản tại Việt Nam

Năm 1960, Chính phủ ban hành chiến dịch kế hoạch hóa gia đình trên diện rộng
nhằm làm giảm tỷ lệ sinh đẻ tại Việt Nam. Thông qua chương trình này, tỷ lệ sinh đẻ của
Việt Nam giảm từ 3,8 vào năm 1989 xuống còn 2,3 vào năm 1999. Tuy nhiên chương
trình này chỉ giải quyết vấn đề về tăng dân số và kế hoạch hóa gia đình mà không quan
tâm nhiều đến các vấn đề khác cũng thuộc phạm vi của chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Thật vậy, tỷ lệ tử vong mẹ vẫn còn cao, cụ thể năm 2002 là 165 ca trên 100.000 trẻ sinh
sống.[1] Tỷ lệ tử vong mẹ có thể được giảm thiểu thông qua việc tăng cường các hoạt
động CSSKTS như tiêm ngừa uốn ván, bổ sung viên sắt, khám và theo dõi thai kì, tư
vấn sức khỏe tiền sản v.v.
Nhận thấy được tầm quan trọng của CSSKTS, năm 2000, Bộ Y Tế triển khai
Chiến Lược Dân số và Chiến Lược Chăm Sóc Sức Khỏe Sinh Sản cho giai đoạn 20012010. Mục tiêu của Chiến Lược Chăm Sóc Sức Khỏe Sinh Sản là đảm bảo phụ nữ có
thể tiếp cận với dịch vụ và thông tin về chăm sóc sức khỏe sinh sản, cụ thể 100% phụ nữ
có thai được khám thai ít nhất một lần, 75% phụ nữ có thai khu vực vùng sâu vùng xa
và 50% phụ nữ có thai khu vực miền núi được khám thai 3 lần, và 95% phụ nữ có thai
vùng sâu vùng xa và 85% phụ nữ có thai vùng núi được tiêm ngừa hai mũi uốn ván
trong chăm sóc tiền sản.[1]
Năm 2009, Bộ Y Tế tiếp tục ban hành hướng dẫn triển khai hoạt động CSSKSS
thuộc chương trình mục tiêu quốc gia năm 2009, trong đó có các mục tiêu cụ thể sau:
− Làm mẹ an toàn: Tăng cường tiếp cận và cải thiện chất lượng dịch vụ chăm sóc sức
khỏe bà mẹ, tập trung vào chăm sóc trước, trong và sau sinh.


11

− Cứu sống sơ sinh và chăm sóc sức khỏe trẻ em: Tăng cường tiếp cận và cải thiện
chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe trẻ em, đặc biệt là chăm sóc sơ sinh thông qua
các hoạt động can thiệp và tăng cường kết hợp sản – nhi.
− Phòng chống nhiễm khuẩn đường sinh sản/bệnh lây qua đường tình dục
(BLTQĐTD): Phát hiện sớm và nâng cao chất lượng điều trị các nhiễm khuẩn đường
sinh sản/ nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục thông qua đào tạo lại cán bộ y
tế, kết hợp nâng cao nhận thức các bà mẹ về phòng chống nhiễm khuẩn và ung thư
hệ thống sinh sản.
− Giảm phá thai và cung cấp dịch vụ phá thai an toàn.
− Tăng sự chấp nhận và sử dụng các biện pháp tránh thai sau phá thai.
− Cung cấp dịch vụ phá thai an toàn theo hướng dẫn chuẩn quốc gia nhằm giảm tai
biến, biến chứng và tử vong do phá thai.
− Chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên: Nâng cao nhận thức, kiến thức và thay
đổi hành vi ở vị thành niên và thanh niên cũng như khả năng tiếp cận và nâng cao
chất lượng dịch vụ CSSKSS vị thành niên và thanh niên.
− CSSKSS nam giới: Nâng cao năng lực cán bộ cung cấp dịch vụ về CSSKSS nam
giới thông qua đào tạo cập nhật chuẩn quốc gia về CSSKSS nam giới.
− Phối hợp liên ngành và xã hội hóa công tác CSSKSS: Tăng cường sự tham gia của
các ban ngành, đoàn thể, cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương các cấp trong hoạt
động CSSKSS.[3]
Như vậy từ năm 2000 đến nay, CSSKTS luôn là một trong những mục tiêu mà
Chính phủ quan tâm nhằm làm giảm tỷ lệ tử vong và bệnh tật của bà mẹ và trẻ em. Các
nội dung CSSKTS luôn được thay đổi, bổ sung sao cho phù hợp với tình hình thực tế và
điều kiện của từng vùng, miền trong cả nước.
Nội dung hướng dẫn thực hiện CSSKTS có thể tóm gọn lại như sau:
Bảng 1.1: Các dịch vụ CSSKTS được Bộ Y Tế khuyến nghị năm 2009
Nội dung
Hướng dẫn chăm sóc trước sinh
Bản thân

Lần khám

Các lần khám tiếp

đầu

theo


12

Tuổi
Nghề nghiệp
Dân tộc
Trình độ học vấn
Tiền sử sản khoa
Điều kiện sống, kinh tế
Sức khỏe
Hỏi về tiền sử bệnh
Hỏi về tiền sử sản khoa (PARA)
Hỏi về tiền sử phụ khoa
Hỏi về các biện pháp tránh thai đã dùng
Hỏi về lần có thai này
Hỏi về gia đình
Hỏi về tiền sử hôn nhân
Dự tính ngày sinh theo ngày đầu của kì
kinh cuối
Khám toàn thân
Đo chiều cao
Đo cân nặng
Khám da, niêm mạc, đánh giá phù hoặc
thiếu máu
Đo huyết áp
Khám tim phổi
Khám sản khoa
Kiểm tra đáy tử cung
Kiểm tra viêm nhiễm đường sinh dục
Siêu âm (nếu có thể)
Kiểm tra các dấu hiệu bạo hành về thể xác
Đo chiều cao tử cung
Nghe tim thai
Kiểm tra cử động thai, số lượng thai, tình
trạng ối
Nắn ngôi thế
Đánh giá độ xuống của đầu
Các xét nghiệm cần thiết
Thử protein nước tiểu
Thử huyết sắc tố/hematocrit

X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X

X

X

X

X
X

X
X

X
X
X

X
X
X
X
X
X
X

X
X

X
X


13

Xét nghiệm phân xem có giun nếu có thiếu
máu
Xét nghiệm khí hư
Thử HIV, giang mai và viêm gan
Tiêm phòng uốn ván
Cung cấp thuốc thiết yếu
Thuốc sốt rét
Viên sắt/folic
Giáo dục sức khỏe
Dinh dưỡng khi mang thai
Chế độ làm việc khi có thai
Vệ sinh khi có thai
Ghi chép sổ và phiếu khám thai, phiếu hẹn
Tư vấn cho phụ nữ có thai
Sự cần thiết của khám thai định kì
Dinh dưỡng của thai phụ trong khi có thai
Lao động làm việc khi có thai
Vệ sinh thân thể trong khi có thai
Các sinh hoạt khác trong đời sống khi có
thai kể cả quan hệ tình dục
Nhận biết các dấu hiệu nguy hiểm thường
gặp khi có thai
Chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc sinh sắp tới
Nuôi con bằng sữa mẹ
Biện pháp tránh thai sau khi sinh
HIV/AIDS và các NKLQĐTD khác
Tư vấn về vai trò và trách nhiệm của
chồng và các thành viên khác trong gia
đình
Chẩn đoán trước sinh
Siêu âm
Hóa sinh
Chọc hút nước ối
Sinh thiết nhau thai
Nhiễm sắc đồ
Quản lý thai kì

X

X

X
X
X

X
X
X

X
X

X
X

X
X
X
X

X
X
X
X

X
X
X
X

X
X
X
X

X

X

X

X

X
X
X
X

X
X
X
X

X

X

X
X
X
X
X

X
X
X
X
X


14

Sổ khám thai
Phiếu theo dõi sức khỏe bà mẹ tại nhà
hoặc phiếu khám thai
Bảng quản lý thai sản
Hộp hay túi luân chuyển phiếu hẹn

X

X

X

X

X
X

X
X

Các nội dung kể trên đều được thể hiện dưới dạng các dịch vụ bao gồm: khám
thai trong đó có khám toàn thân và khám sản khoa, các xét nghiệm cần thiết, tiêm
ngừa uốn ván, cung cấp thuốc thiết yếu, giáo dục sức khỏe, tư vấn trong thai kì, chẩn
đoán trước sinh. Nhiều nghiên cứu từ trước đến nay chỉ chú trọng đến khảo sát việc
sử dụng dịch vụ khám thai mà chưa quan tâm đến các dịch vụ nêu trên được lồng
ghép khi phụ nữ đến khám thai. Xuất phát từ thực tế này, cùng với mong muốn khảo
sát toàn diện về việc sử dụng các dịch vụ CSSKTS nên nghiên cứu của tác giả sẽ
khảo sát khả năng tiếp cận với 6 loại dịch vụ kể trên và các yếu tố liên quan đến 6
loại dịch vụ này.
1.3 Một số nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến sử dụng dịch vụ
CSSKTS
1.3.1 Đặc tính dân số nghiên cứu
Tác giả Trịnh Thị Thúy Liễu nghiên cứu về khả năng tiếp cận với dịch vụ
CSSKTS ở những phụ nữ có con trước tuổi đi học tính đến thời đểm điều tra tại 3 tỉnh
Long An, Bến Tre, Quãng Ngãi cho thấy rằng tỷ lệ phụ nữ được phỏng vấn ở độ tuổi 2029 là nhiều nhất, chiếm 54%, tuổi trung vị là 29 tuổi. Trình độ học vấn phổ biến nhất ở
cấp tiểu học chiếm tỷ lệ nhiều nhất 39%. Chủ yếu các phụ nữ làm nghề nông, chiếm tỷ
lệ 64%. Tỷ lệ phụ nữ là người Kinh chiếm 92%. Tỷ lệ phụ nữ không tôn giáo và có tôn
giáo gần tương đương nhau 45% và 54% [29]
Cũng có kết quả không khác so với nghiên cứu trên, điều tra đánh giá các mục
tiêu trẻ em và phụ nữ do Tổng Cục Thống Kê tiến hành năm 2006 cho thấy tỷ lệ phụ nữ
ở tuổi sinh đẻ chiếm tỷ lệ cao nhất là từ 25-29 tuổi (32%) và 20-24 tuổi (31%). Trình độ


15

học vấn phổ biến ở mức độ tốt nghiệp tiểu học (33%) và tốt nghiệp trung học cơ sở
(27%). Tỷ lệ phụ nữ là người Kinh và Hoa chiếm đa số (83%)[13]
Các nghiên cứu nước ngoài cũng cho kết quả tương tư. Một nghiên cứu khác của
tác giả Alice R.Rumbold và cộng sự về việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sản
khoa tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe thuộc một khu vực ở Úc. Nghiên cứu này thực
hiện vào năm 2011 dựa trên hồ sơ lưu của những phụ nữ đã sinh con từ 2-14 tháng tuổi.
Kết quả cho thấy, độ tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 25,3 tuổi.[27]
Một nghiên cứu của Qi Zhao, Asli Kulane, Yi Gao và Biao Xu được thực hiện tại
Thành phố Thượng Hải năm 2008. Nghiên cứu khảo sát 475 phụ nữ di dân sinh con tại
một bệnh viện hạng hai tại quận Nanhui ngoại ô của thành phố Thượng Hải. Tuổi trung
bình của các đối tượng là 27 tuổi có khoảng cách tuổi từ 18-43 tuổi. Có 7,6% mù chữ và
20,3% học cấp I. Giai đoạn trước khi mang thai con hiện tại, có 32,4% là thất nghiệp,
54,5% là công nhân.[24] Nghiên cứu này được thực hiện trong thời gian gần đây nên có
thể tuổi phụ nữ trung bình sinh đẻ đã tăng lên, điều này cũng cho thấy xu hướng sinh
con trễ của phụ nữ.
Một nghiên cứu khác của Turgul Erbaydar được tiến hành vào năm 2003 tại năm
thành phố của Thổ Nhĩ Kỳ với tổng số mẫu là 1249 phụ nữ đã có con dưới 2 tuổi.
Nghiên cứu so sánh việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tiền sản ở phụ nữ thuộc
khu vực nghèo và khu vực giàu của 5 thành phố. Kết quả cho thấy trình độ học vấn của
cả hai nhóm đều thấp trong đó tỷ lệ học dưới 5 năm là 66,7% ở nhóm nghèo và 81,8% ở
nhóm giàu. Đa số phụ nữ chỉ có một con (95,5% ở nhóm nghèo và 97,4% ở nhóm giàu).
[30]
Qua kết quả của các nghiên cứu trên cho thấy, hầu hết phụ nữ tuổi sinh đẻ chiếm
tỷ lệ nhiều nhất là 25 – 29 tuổi, tuổi trung bình vào khoảng 25 – 27 tuổi. Đa số phụ nữ
trong các nghiên cứu này đều có trình độ học vấn thấp. Có thể là do nghiên cứu được
thực hiện tại các vùng nông thôn và ở những nước đang phát triển.
1.3.2 Chăm sóc sức khỏe tiền sản


16

Khám thai
Theo một nghiên cứu của tác giả Khan.M và cộng sự về kiến thức, niềm tin và
những rào cản trong CSSKTS của những phụ nữ đến khám thai tại những cơ sở y tế ở
Kinshasa vào năm 2004 cho thấy có đến 75% phụ nữ cho rằng nên khám thai lần đầu
trước tháng thứ 4 của thai kỳ, tuy nhiên chỉ có 22% thực hiện đúng điều này. Trong
nghiên cứu này cũng cho thấy yếu tố tác động lên thời điểm phụ nữ đi khám thai là do
yếu tố kinh tế và sự thiếu kiến thức (35%). Thời điểm khám thai trung bình là 4,7 tháng
đối với phụ nữ mới mang thai lần đầu và 5,9 tháng đối với phụ nữ đã mang thai từ 2 lần
trở lên.[20]
Ngoài ra, kết quả từ nghiên cứu của tác giả Rumbold và cộng sự cũng cho thấy tỷ
lệ phụ nữ đi khám thai lần đầu tiên trong vòng 3 tháng đầu của thai kì chiếm 42% và
thời điểm mang thai trung bình trong lần thăm khám đầu tiên là 16 tuần tuổi. Số lần
khám thai trung bình là 7 lần. Nếu so với nghiên cứu trước đó của Khan.M thì kết quả
này hợp lí vì nghiên cứu này được thực hiện gần đây khi mà các khuyến cáo và các dịch
vụ về CSSKTS đã phổ biến hơn.[27]
Một kết quả nghiên cứu của tác giả Qi Zhao và cộng sự cho thấy có khoảng 36 %
phụ nữ khám thai từ 5 lần trở lên và 3,8% đối tượng không đi khám thai. Trung bình
tuần thai trong lần khám thai đầu tiên là 16 tuần. Có 7,2% phụ nữ sinh non và 4,8% sinh
con nhẹ cân.[24] Mặt khác trong nghiên cứu của Turgul Erbaydar cho thấy tỷ lệ khám
thai >= 4 lần ở cả hai nhóm đều cao (63,8% ở nhóm nghèo và 86,5% ở nhóm giàu). [30]
Cũng đề cập đến dịch vụ khám thai, kết quả từ nghiên cứu của tác giả Trịnh Thị
Thúy Liễu cho thấy có 41% phụ nữ khám thai trong vòng 3 tháng đầu và tháng khám
thai đầu tiên trung bình là 3,7 tháng. Cũng có 41% phụ nữ khám thai 3 lần trở lên. Kết
quả cuối cùng cho thấy tỷ lệ tiếp cận với dịch vụ khám thai không cao; với định nghĩa
tiếp cận dịch vụ khám thai là khám trong vòng 4 tháng đầu và khám 3 lần trở lên thì tỷ lệ
này chiếm 35%. Đặc biệt, trong khi 2 tỉnh thuộc phía Nam trong cuộc điều tra này là


17

Long An và Bến Tre có tỷ lệ sử dụng dịch vụ khám thai gần bằng nhau ( lần lượt là 45%
và 46%) thì tại Quãng Ngãi lại có tỷ lệ khá thấp ( 20%).[29]
Theo Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ cho thấy tỷ lệ phụ nữ năm
2006, khám thai ít nhất 1 lần trong thời gian mang thai bởi những cán bộ y tế có chuyên
môn chiếm tỷ lệ khá cao (91%). Qua điều tra này cũng cho thấy có sự phân bố khác
nhau về tỷ lệ khám thai giữa các nhóm tuổi và dân tộc cũng như trình độ học vấn.[13]
Nghiên cứu về thực hành chăm sóc sức khỏe tiền sản của thai phụ, tác giả Lâm
Hà Thu và cộng sự đã tiến hành phỏng vấn những thai phụ đến khám tại khoa khám thai
bệnh viện Từ Dũ. Kết quả cho thấy, 100% thai phụ có thực hành đúng, với thực hành
đúng về khám thai được tác giả định nghĩa là thực hiện đúng 3 trong 4 nội dung sau: số
lần khám thai, nơi khám thai, khám thai khi có dấu hiệu bất thường và giữ gìn, cập nhật
sổ khám thai. Tỷ lệ này cao có thể một phần do mẫu nghiên cứu là những phụ nữ đến
khám tại bệnh viện Từ Dũ, vô tình họ đã đạt được 2 trong 3 yếu tố của định nghĩa về
thực hành đúng.[7]
Từ kết quả những nghiên cứu trên có thể thấy tỷ lệ phụ nữ tiếp cận với dịch vụ
khám thai ở các nước khác trên thế giới có xu hướng cao hơn ở Việt Nam. Và càng về
những năm gần đây thì phụ nữ tiếp cận được với dịch vụ CSSKTS ngày càng nhiều.
Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tiền sản khác
Một nghiên cứu khác do WHO thực hiện dựa trên những số liệu thứ cấp từ Điều
tra về Sức Khỏe và Nhân chủng học (DHS) tại 14 quốc gia vào năm 2003 cho thấy
những kiểm tra lâm sàng trong việc chăm sóc sức khỏe tiền sản như đo chiều cao, cân
nặng, đo huyết áp được thực hiện rất nhiều trong khi đó những xét nghiệm cận lâm sàng
như xét nghiệm máu, xét nghiệm nước tiểu ít được thực hiện hơn. [36]
Bên cạnh đó, kết quả Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ năm 2006
cũng cho thấy tỷ lệ phụ nữ được đo huyết áp là 67,8% nhưng chỉ có 42,6% được xét
nghiệm nước tiểu và 31,4% được xét nghiệm máu. Trong khi đó tỷ lệ siêu âm lại khá cao
chiếm đến 74,1%.[13]


18

Điều tra quốc gia về sức khỏe và nhân chủng học của Việt Nam vào năm 1999 và
2002 đã cho thấy có sự gia tăng trong việc tiêm đủ liều vaccin uốn ván như sau: Nếu
năm 1997 chỉ có 55% phụ nữ được tiêm đủ 2 mũi trong thai kì, 17% được tiêm 1 mũi và
28% còn lại không được tiêm phòng thì đến năm 2002 đã có 71% phụ nữ được tiêm đủ 2
mũi trong thai kì, 14% được tiêm 1 mũi và chỉ còn 15% phụ nữ không được tiêm phòng
uốn ván trong thai kì.[33, 34]
Kết quả nghiên cứu của Trịnh Thị Thúy Liễu về các nội dung CSSKTS cũng cho
thấy các nội dung liên quan đến khám lâm sàng cũng chiếm tỷ lệ cao hơn những xét
nghiệm cận lâm sàng. Cụ thể, 52% phụ nữ được đo huyết áp khi khám thai, 42% phụ nữ
được theo dõi cân nặng; trong khi đó chỉ có 14% phụ nữ được xét nghiệm máu và 29%
phụ nữ được siêu âm.[29] Nếu so với kết quả Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và
phụ nữ năm 2006 thì tỷ lệ này khá thấp mặc dù 2 nghiên cứu chỉ cách nhau một năm.
Mặt khác, nghiên cứu còn cho thấy nếu tỉ lệ phụ nữ tiếp cận với các nội dung về chăm
sóc sức khỏe tiền sản tại 2 tỉnh phía Nam là khá cao chẳng hạn tỷ lệ được đo huyết áp là
58-65%, theo dõi cân nặng từ 52-57%, xét nghiệm nước tiểu từ 21-22% và siêu âm từ
39-42% thì tại tỉnh Quãng Ngãi con số này lại khá thấp, cụ thể đo huyết áp là 38%, theo
dõi cân nặng 23%, xét nghiệm nước tiểu 4% và siêu âm 14%. Ngoài ra, tỷ lệ tiêm ngừa
uốn ván chung là 52%, riêng tại Long An và Bến Tre tỉ lệ này lần lượt là 65% và 64%,
15% phụ nữ có uốn viên sắt trong thai kì, riêng tại Long An là 23%.[29]
Về các thông tin, tư vấn mà phụ nữ nhận được trong chăm sóc sức khỏe tiền sản,
nghiên cứu của Trịnh Thị Thúy Liễu cũng cho kết quả là có 42% phụ nữ nhận được
thông tin về chế độ nghỉ ngơi và làm việc, 38% nhận được thông tin về dinh dưỡng
trong thai kì, 36% nhận được thông tin về sinh con an toàn.[29]
Về tiếp cận với viên sắt, theo kết quả nghiên cứu của tác giả Alice R. Rumbold và
cộng sự được công bố trong năm cho thấy có tỷ lệ phụ nữ được cho uống viên sắt là
58%.[27] Trong khi đó, ở nghiên cứu của tác giả Trịnh Thị Thúy Liễu, tỷ lệ này được
phản ánh là khá thấp, chỉ có 15% phụ nữ có sử dụng viên sắt.[29]


19

Kết quả nghiên cứu của Turgul Erbaydar cho thấy tỷ lệ làm xét nghiệm và siêu
âm ở nhóm nghèo là 72,6% và 82,9% ở nhóm giàu. Tỷ lệ được tiêm ít nhất một mũi tiêm
uốn ván là 62,3% ở nhóm nghèo và 59,3% ở nhóm giàu. Tỷ lệ được cung cấp thông tin
về tiêm ngừa uốn ván là 39,1% ở nhóm nghèo và 48,7% ở nhóm giàu. Tỷ lệ được tư vấn
các nội dung liên quan đến chăm sóc sức khỏe tiền sản thư được như sau: (a) tư vấn về
dinh dưỡng trong thai kì:50,5% ở nhóm nghèo và nhóm giàu là 66,6% (b) chuẩn bị sinh
con: 41,9% ở nhóm nghèo và 62,3% ở nhóm giàu (c) biện pháp tránh thai sau khi sinh:
29,2% ở nhóm nghèo và 44,5% ở nhóm giàu. (d) nuôi con bằng sữa mẹ: 50,2% ở nhóm
nghèo và 60,2% ở nhóm giàu.(e) chăm sóc sau sinh: 21,9% ở nhóm nghèo và 41,2% ở
nhóm giàu (f) chăm sóc trẻ: 50,7% ở nhóm nghèo và 59,8% ở nhóm giàu.[30] So sánh
với các nghiên cứu trên cho thấy tỷ lệ phụ nữ tiếp cận với các dịch vụ CSSKTS ở Thổ
Nhĩ Kỳ các phần cao hơn so với kết quả của các nghiên cứu cùng thời điểm được trình
bày ở trên.
1.3.3

Các yếu tố liên quan đến dịch vụ chăm sóc sức khỏe tiền sản

Cũng trong nghiên cứu của WHO dựa trên những số liệu thứ cấp từ Điều tra về
Sức Khỏe và nhân chủng học (DHS) vào năm 2003 cho thấy các yếu tố như đặc điểm
thành thị-nông thôn, giáo dục, trình độ học vấn có liên quan đến số lần khám thai của
phụ nữ.[36]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Trịnh Thị Thúy Liễu cho thấy các yếu tố ảnh
hưởng đến việc đi khám thai bao gồm: dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, không bổ
sung viên sắt/folic trong thai kì.[29] Ngoài ra, các yếu tố về dân tộc, sinh con có chủ
định, nghề nghiệp cũng có liên quan đến việc ít sử dụng các dịch vụ CSSKTS và tư vấn.
Nghiên cứu của Qi Zhao, Asli Kulane, Yi Gao và Biao Xu cho thấy trên 50% phụ
nữ được phỏng vấn không biết được tháng thích hợp để đi khám thai lần đầu. Nghiên
cứu cũng cho thấy những phụ nữ trẻ, phụ nữ không thuộc nhóm công nhân có mối liên
quan có ý nghĩa thống kê cao với kiến thức về chăm sóc sức khỏe tiền sản. Phụ nữ khám
thai từ 5 lần trở lên có kiến thức cao hơn so với những phụ nữ khám thai ít hơn (p <


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×