Tải bản đầy đủ

Hình tượng con người cô đơn trong tập truyện đảo của Nguyễn Ngọc Tư

Mục lục

1. Đôi nét về tác giả Nguyễn Ngọc Tư  …………………………………trang  
2
2. Quan niệm về nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư  ……………………trang  
3
2.1. Con người sống là để yêu thương
2.2. Con người “Sống là luôn hi vọng” 
2.3. “Tình cảm phải xuất phát từ tấm lòng mới quý”
3. Hình tượng nhân vật cô đơn
3.1. Con người cô đơn vì những ám ảnh của quá khứ………………….trang 
6
3.2. Con người cô đơn vì những lỗi lầm………………………………..trang  
7
3.3. Con người cô đơn và nỗi sợ bị lãng quên……………………….trang 10
3.4 . Con người cô đơn và sự trốn chạy……………………………….trang 
12
3.5. Con người cô đơn vì sự ghẻ lạnh của những người thân………trang 14
4. Kết luận………………………………………………………………trang 15
Tài liệu tham khảo……………………………………………………..trang 16


Trang 1


1. Đôi nét về con người và sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư
Hiện nay, các nữ  nhà văn với  ưu thế  về  sự  đông đảo và sức trẻ  đã 
khoác cái áo mới cho nền văn học Việt Nam. Chúng ta có thể kể đến một số 
tên tuổi như: Lê Minh Khuê, Phạm Thị Hoài, Dạ Ngân, Võ Thị Hảo, Lý Lan, 
Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phạm Thị Minh Thư, Nguyễn Th ị  Ấm, Võ Thị 
Xuân Hà…và một thế  hệ  nhà văn nữ  sau này đã có sự  nối tiếp thành công  
với những cây bút sớm có bản sắc riêng: Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ  Bích Thúy, 
Đỗ  Hoàng Diệu … Những sáng tác của các cây bút nữ  là những phản ánh 
chân thực về  cuộc sống con người hiện đại. Họ  thường viết sâu sắc về 
mảng đề  tài tình yêu, trăn trở  với những kí ức. Cuộc sống đa chiều hiện ra  
dưới con mắt của các nhà văn nữ càng đằm thắm hơn, nhân bản hơn. Trong 
chục năm trở lại đây, Nguyễn Ngọc Tư đã trở nên khá quen thuộc với công 
chúng độc giả  yêu văn học. Chị  là cây bút trẻ  đoạt nhiều giải thưởng cao  
trong các giải thưởng thường kỳ  cũng như  trong các cuộc thi viết truyện  
ngắn do các đơn vị  có uy tín trong và ngoài nước tổ  chức. Trong dòng chảy  
chung của văn xuôi nữ đương đại Nguyễn Ngọc Tư đã tìm cho mình một lối 
đi riêng, một phong cách riêng để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng bạn đọc.  
Cũng như nhiều nhà văn nữ khác, thế mạnh của Nguyễn Ngọc Tư là nói về 
nỗi đau, về  thân phận những người đàn bà trong cuộc sống hiện đại. Viết  
bằng sự thấu hiểu, cảm thông của một nhà văn nữ, Nguyễn Ngọc Tư tinh tế 
Trang 2


khi viết về  những khao khát khôn nguôi về  bến bờ  hạnh phúc, sự  bình yên 
trong tâm hồn mỗi con người. 
Nguyễn Ngọc Tư  sinh năm 1976, tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi,  
tỉnh Cà Mau trong một gia đình nông dân nghèo khó. Do hoàn cảnh gia đình 
rất khó khăn nên chị phải nghỉ học sớm khi mới học hết cấp hai. Được cha  
động viên “Nghĩ gì, viết nấy, viết những gì con đã trải qua”, chị  bắt đầu 
viết. Tác phẩm đầu tay của chị  đã được Tạp chí văn nghệ  Cà Mau chọn  
đăng đã tạo thêm động lực để  chị  nuôi dưỡng  ước mơ  sáng tác. Sau đó chị 
được nhận vào làm văn thư  và học làm phóng viên tại báo này. Tập kí sự 
Nỗi niềm sau cơn bão dữ đã đưa chị vào nghề văn chính thức với giải ba báo 
chí toàn quốc năm 1997 và sau đó là rất nhiều giải thưởng khác. Chị  được 
coi là một trong những nhà văn trẻ  gây được chú ý  ở  Việt Nam.  Hiện nay  
chị vừa làm phóng viên cho tạp chí Văn nghệ  bán đảo Cà Mau và vừa là hội  
viên hội hội văn học nghệ  thuật Cà Mau. Trong đời thường, Nguyễn Ngọc  


Tư  có vẻ  ngoan hiền, thích cuộc sống giản đơn nhưng nội tâm phức tạp. 
Trong văn chương, chị ví truyện của mình như  trái sầu riêng – nhiều người  
thích nhưng cũng không ít người dị   ứng. Số  lượng tác phẩm chính đã xuất  
bản lên đến hàng chục ở  rất nhiều thể loại: truyện ngắn, tạp văn, tản văn, 
tạp bút, …trong đó phải kể đến một số tác phẩm tiêu biểu: Ngọn đèn không 
tắt, Cánh đồng bất tận, Gió lẻ, Ngày mai của những ngày mai,… 
2. Quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Ngọc Tư 
2.1. Con người sống là để yêu thương
Trong quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư, yêu thương đã thành lẽ  sống, 
niềm vui, niềm hạnh phúc. Chính bởi thế, hầu hết các nhân vật của chị đều  
giàu tình yêu thương và luôn khát khao được yêu thương. Là người giàu cảm 
xúc và coi trọng cảm xúc trong sáng tác, Nguyễn Ngọc Tư luôn níu giữ  lòng 
tin yêu của con người. Trong quan niệm của chị  viết về  cái ác cũng là một  

Trang 3


cách để  tôn vinh cái thiện và ca ngợi tình yêu thương con người,  để  con 
người biết sống tốt đẹp, nhân ái hơn. 
2.2. Con người “Sống là luôn hi vọng” 
Chị  cho rằng hi vọng giúp cho con người thoát khỏi những khó khăn, 
bế  tắc. Ta nhận thấy rất rõ quan niệm này của Nguyễn Ngọc Tư  thông qua  
các tác phẩm của chị. Các nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư vẫn luôn tin rằng 
cuộc sống sẽ  tốt đẹp hơn, bất hạnh khó khăn sẽ  qua đi và hạnh phúc đang  
đón chờ   ở  phía trước. Chính hy vọng tạo ra sức mạnh giúp con người vượt 
lên khó khăn thực tại để tiếp tục sống và gây dựng tương lai. Nguyễn Ngọc  
Tư từng nói: “Con người mà tắt hy vọng thì chết còn sướng hơn”. 

2.3. “Tình cảm phải xuất phát từ tấm lòng mới quý”
Nguyễn Ngọc Tư cũng như bao người dân Nam bộ khác luôn cho rằng  
tình cảm thì phải chân thành, không khiên cưỡng, không giả  dối. Chị  nhấn 
mạnh sự giả dối rất đáng sợ, nó khiến cho những người trung thực luôn cảm  
thấy khổ  sở, bất an, thậm chí mất dần niềm tin vào cuộc sống. Có thể  nói, 
các nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư đều bộc lộ tính cách của con người Nam  
Bộ: thẳng thắn, bộc trực, quý trọng sự  thật lòng, ghét sự  giả  dối, nhất là  
trong tình cảm.
3. Hình tượng nhân vật cô đơn
Tập truyện ngắn Đảo mới xuất bản năm 2014 của Ngọc Tư    không 
dày, chưa đến 150 trang gồm 17 truyện, nhưng vì kiêng con số  17, mất hên, 
nên chị chỉ ghi ở bìa cuốn sách có 16 truyện thôi, trong đó phần lớn là những  
truyện khá ngắn, khoảng trên dưới 2.000 chữ, thậm chí có truyện chỉ  trên  
dưới 1.000 chữ. Điểm khác biệt so với những truyện ngắn và truyện vừa  
trước đây, đặc biệt là truyện vừa Cánh đồng bất tận, ở  tập tập truyện này 

Trang 4


số chữ ít đến mức không thể ít hơn được nữa, nhưng dường như tiếng vọng  
của hồn cốt câu truyện lại dài rộng ra trông thấy.
  Bản chất của con người là vận động, không ngừng vượt lên trên giới 
hạn của chính nó. Nhưng IU. M. Lotman quan niệm rằng  khi anh đi trên con  
đường này, đồng thời anh đã đánh mất những con đường khác. Bị đóng khung 
trong những giới hạn, con người luôn khao khát vượt qua. Nhưng con người 
là một thực thể phức tạp, đầy bí ẩn. Mỗi người lại ở  trong những giới hạn  
khác nhau, nên khao khát của họ rất khác nhau. Con đường vươn tới sự hoàn 
hảo của mỗi người, bởi vậy, không giống ai. Vì thế  mà con người cô đơn. 
Con người cô đơn thường là những người kháo khát hạnh phúc nhưng lại 
không tìm được hạnh phúc. Chính vì thế  họ  luôn cảm thấy bơ  vơ, trơ  trọi 
giữa gia đình mình, giữa cuộc sống bộn bề.
Cô đơn là một trạng thái bi kịch, là nỗi đau tinh thần lớn nhất của con  
người. Nguyễn Ngọc Tư  viết trong  Cánh đồng bất tận: “Ngày ngày kẹt  
giữa đám đông, chen chúc trên những con đường đông nghịt người, nhiều khi  
tôi giật mình, trời ơi, họ kia, đồng loại mình kia, sao mình lại cô đơn đến rã  
rời…”   Nhưng không có nỗi cô đơn nào giống nỗi cô đơn nào. Mỗi một 
mảnh đời trong mười bảy câu chuyện của tập truyện ngắn  Đảo  là những 
mảnh ghép muôn màu của cuộc sống. Thế giới nhân vật trong tập truyện ấy 
được tác giả khai thác ở những nỗi đau sâu kín trong tâm hồn mà nỗi bật nhất  
vẫn là nỗi đau cô đơn. Hảo (Biến mất  ở Thư Viên) , Dịu (Xác bụi) luôn ám 
ảnh bởi những kỉ  niệm trong quá khứ  mà đánh mất hạnh phúc hiện tại.  Bà 
Năm Nguyệt (Coi tay vào sáng mưa), người cha (Mùa mặt rụng)   là những 
người gây ra lỗi lầm và cái gái mà họ  phải trả chính là sự  cô đơn. Nhàn,  em 
(Tro tàn rực rỡ) sợ hãi vì người thân bỏ rơi nên đã tìm mọi cách để mình luôn  
hiện diện trong mắt người mà mình yêu thương. Ông Sáng ( Đảo), cô Lý ( Sổ 
lồng) thì chạy trốn sự sô đơn bằng nhiều cách để mong là chính mình.

Trang 5


Những nhân vật cô đơn trong tập truyện này có khác so với nhân vật cô 
đơn trong tập truyện Cánh đồng bất tận mà Nguyễn Ngọc Tư  viết trước 
đó. Ở trong tập truyện ấy, tác giả viết về nỗi cô đơn của người nghệ sĩ trong 
hành trình đi tìm cái đẹp hoặc nỗi cô đơn của những người nông dân giữa 
biển người mênh mông hoặc những nhân vật suốt đời đi tìm, một hành trình 
vô vọng và đơn độc. Ông Sáu (Biển người mênh mông) “đã đi tìm gần bốn  
mươi năm, dời nhà cả  thảy ba mươi ba bận, lội gần rã cặp giò rồi mà vẫn  
chưa thấy”. Nhân vật “má tôi” trong “Dòng nhớ” suốt mười mấy năm, tìm 
người vợ  cũ của chồng, “Tới bây giờ  má tôi vấn chưa tìm được dì. Tôi hỏi  
má tìm làm gì, má tôi nói để cho hai người gặp lại, coi thần trí ba mầy có đỡ  
hơn không. Bây giờ  thì ba tôi cũng nằm xuống (…) má tôi vẫn không ngừng  
tìm kiếm dì”. Ông Năm Nhỏ (Cải  ơi!) tìm suốt mười hai năm chưa thấy con. 
Chúng ta bị  ám  ảnh bởi một ông già trước mỗi buổi diễn, mượn micro nói 
mấy câu : “Cải  ơi, ba là Năm Nhỏ  nè con…”. Tiếng gọi “Cải  ơi!” của ông 
mắc lại trong người đọc, như  món nợ  lòng.  Càng tìm kiếm càng vô vọng. 
Càng vô vọng lại càng khao khát kiếm tìm. Họ  đơn độc và tự  nguyện đơn  
độc. Họ không chối bỏ, không tìm lối thoát cho thực trạng cô đơn. Còn những 
nhân vật cô đơn trong tập truyện Đảo trước hết là đủ hạng người từ trí thức 
cho đến người nông dân, từ người đàn ông cho đến đàn bà, từ người già cho  
đến trẻ vị thành niên tất cả họ đều sống trong nỗi day dứt của sự cô đơn. Cô 
đơn đối với họ là nỗi đau như dằm ở trong tim. Họ đã tìm mọi cách để thoát  
ra cái sự cô đơn ấy. Có nghĩa là họ đã phản kháng lại dù tích cực hay tiêu cực 
thì đó cũng là qui luật tất yếu của cuộc sống “Tức nước thì vỡ bờ”
3.1. Con người cô đơn vì những ám ảnh của quá khứ
Thấu hiểu được nỗi đau quặn xé của những con người khốn khổ  đặc 
biệt là nữ  giới, Nguyễn Ngọc Tư  đã tinh tế khi viết về  những day dứt, dằn  
xé của những mảnh đời luôn bị ám ảnh bởi quá khứ thành ra cuối cùng lại cô  

Trang 6


đơn. Những nhân vật chạy theo ảo ảnh của quá khứ phần nhiều là những kẻ 
si tình mà sự  si tình thường là mù quáng và ngốc nghếch. Họ  không thoát  
được, không buông bỏ  được, họ  bị  chôn sống trong quá khứ, trong thứ  tình  
cảm tuyệt vọng, bám víu vào cái mà không có thật.
Hảo trong Biến mất  ở  Thư  Viên gây cho người đọc cái cảm giác khó 
chấp nhận vì sự si tình đến ngu ngốc của cô. Cô mãi chạy theo một hình bóng 
xa vời, một hình bóng của kẻ không ra gì bỏ rơi cô khi cô đang bụng mang dạ 
chữa, bỏ  rơi cô để  trốn chạy trách nhiệm. Vậy mà cô vẫn cố  hi vọng, vẫn 
mong nhìn thấy bóng hình người xưa trong hão huyễn và rất vui sướng khi có 
một tia hi vọng “ Hình dung Sinh biến mất vào trang sách phả một sức sống  
lạ lùng vào Hảo, làm chị tươi tắn, rạo rực hơn. Như đang đói gặp được nắm  
xôi hay giề cơm cháy ”. ( tr. 10)  Đúng như lời nhận xét của nhân vật tôi, Hảo 
đã vui vẻ  lên, năng đi nhà sách hơn và chăm chỉ  nuốt từng chữ  vào miệng  
“Những tối  ở  nhà sách Thư  Viên, tôi đứng  ở  một kệ  sách nào đó và ngó về  
phía Hảo trong lúc chị  nép giữa những kệ  sách văn học, say sưa đọc. Sức  
sống rực lên  ở  Hảo khi chị  cắm cúi vào rừng chữ, như  chưa từng mệt mỏi  
sau một ngày làm việc với những cái máy may đầy kim nhọn. Đứng lâu mỏi  
chân chị  la cà  ở  gian sách khác nhưng mắt luôn ngó về  nơi gã đàn ông xưa  
từng đứng.” (tr.12)  Hảo đâu biết rằng chính cái sự ảo vọng của quá khứ  mà 
cô đã đánh mất đi tình yêu đích thực của đời mình trong hiện tại. Nhân vật 
tôi rất yêu Hảo, muốn chăm lo bảo bọc cho đời Hảo dù cách biệt về tuổi tác. 
Thế  nhưng tôi chưa bao giờ  hiện hữu trong mắt Hảo. Có lẽ  một sự  lặp lại 
của định mệnh mới giúp cho cô cho Hảo nhận ra đâu là giá trị  thật của tình  
yêu.
Dịu trong  Xác bụi cũng sống mãi với kí ức xưa mà quên đi cuộc sống 
hiện tại của cô. Người yêu cũ của cô (Nhu) đã chết ở nơi xứ người mà chưa  
tìm được xác. Nhu vẫn hiện về  trong những giấc mơ  của cô “   Nhu vẫn  

Trang 7


thường   về   trong   chiêm   bao,   bằng   nhân   dạng   thằng   con   trai   mười   chín  
tuổi.”(tr 16) Dịu đã luôn sống với kí ức đẹp thời con gái khi mới yêu lần đầu 
nên cô mới rơi vào thế  giới vô thức của những giấc mơ. Bằng linh cảm,  
bằng trái tim yêu, bằng sự  nhớ  nhung chân thành, hình bóng của Nhu trở  về 
với Dịu trong hình hài của một con người chớ  không phải là sương khói 
mong manh. Dịu luôn ray rứt khi đi lấy chồng vì nghĩ rằng mình đã phản bội  
Nhu “ Những giấc mơ  mang bóng dáng Nhu buồn rượi”. (tr 17)  Và nỗi ám 
ảnh  ấy nó làm cho đời sống vợ  chồng của cô không êm  ấm “Chồng em đã  
quen việc nửa đêm vợ  tự  dưng ngồi dậy ngó quanh, thuộc cái nỗi ám  ảnh  
của thằng bạn cùng xóm tên Nhu, nhận ra nỗi đắn đo hổn hển hay không hổn  
hển của vợ”. (tr.17)  Trong căn nhà của Dịu người ta sẽ thấy một tình cảnh  
thật là trớ  trêu: mang tiếng là vợ  chồng nhưng đồng sàng dị  mộng. Những 
giấc mơ của Dịu có kết thúc hay không khi cô tìm được tro cốt của Nhu mang 
về. Đó cũng là câu hỏi cứ day dứt mãi cho bạn đọc.
Con người không nên phủ nhận quá khứ nhưng cũng đừng vì sống mãi 
những kỉ niệm trong quá khứ mà đánh mất đi những gì tốt đẹp đanh hiện hữu 
ngay bên cạnh mình. Thiết nghĩ đó cũng chính là thông điệp mà Nguyễn Ngọc  
Tư muốn nhắn gửi đến tất cả mọi người.
3.2. Con người cô đơn vì những lỗi lầm.
Khi người ta gây ra lỗi lầm, nếu là người có lương tri người ta sẽ sám 
hối và tự  thu mình lại và sống trong nỗi dằn dặt ê chề. Nếu được người ta  
tha thứ  thì người phạm lỗi cũng cảm thấy không chuộc hết lỗi mà mình đã  
gây tổn thương cho người ấy. 
Khi đọc đến truyện Sổ  lồng, ta không khỏi xót xa cho Lý. Người đàn 
bà sống mà luôn bị  chồng hành hạ  vì những lỗi lầm trong quá khứ: có bầu  
với người đàn ông khác trước khi lấy hắn. Lý lấy chồng trong sự bồng bột vì 
sự hối thúc của bà mẹ: phải tìm ai đó cưới ngay để cái thai vô chủ đội bụng 

Trang 8


thì tao đi bỏ xứ. Lý đã không ngần ngại suy nghĩ và đưa ra quyết định ngay “ 
Ra sông cọ  lọ  gặp thằng con trai đằng xóm chài tôm mà cứ  đứng ngệt ngó  
mình, Lý ngoắc lại hỏi, có muốn lấy tui không?” (tr.60)   Sau khi cưới chưa 
tròn tháng, anh chồng phát hiện cứ dán bụng mình vào bụng vợ là nghe có gì 
đó động cựa phập phồng. Chồng Lý từ đó trở nên thay đổi tử  một chàng trai 
ngù ngờ  dễ  thương đã trở  thành một người đàn ông cộc cằn say xỉn, hay  
mắng nhiếc và đánh vợ. Bị hành hạ, bị dày vò và mức độ  chịu đựng hết cho 
phép, Lý trở nên mất trí tạm thời và điên loạn. Lý đã từng rủ một người đàn 
ông bán kem thích Lý để  bỏ  trốn nhưng sau đó Lý lại đổi ý, Lý chuyển qua  
cầm dao mà đuổi theo một chiếc ghe “  Tóc tai xấp xải sổ  tung. Chân trần.  
Quần xoắn  ống cao  ống thấp. Lý lăm lăm xách dao chạy trên bờ, chiếc ghe  
chẳng biết sợ  gì cũng lao đi xịt khói. Chị  đã nhìn thấy gì trên ghe, má không  
biết, chỉ  biết đứa con gái tội nghiệp bỗng hộc lên, chụp lấy cây mác vót  
phóng theo quyết liệt, điên dại.”  (tr. 62­62)  Những hành động điên dại  ấy 
không bao giời Lý nhớ ra được bởi nó là những hành động của vô thức. Chính 
bản năng trong con người Lý đã phản kháng lại cuộc sống đau khổ  bằng 
những hành động ngay dại đó. Lý chỉ  được nghe người này người kia kể lại 
cho mình biết, Lý hoàn toàn không biết được những hành động  đã làm của  
mình“ Ký ức bị đứt, từ xế trưa hôm qua đến giờ là một khoảng rỗng không.  
Hồi chưa chồng có lần say, Lý cũng lẫn lộn nhớ  quên vài thứ, nhưng không  
quên trắn như  chưa từng sống kiểu này”. (tr.56). Chính cái giây phút mà 
những hành động trong vô thức trỗi dậy mãnh liệt là lúc Lý mới thật sự  là 
chính mình. “ Mặc kệ  con dao lút cán trong bùn, chị  nhẹ  nhõm thả  tàu bược  
về nhà. Tĩnh lặng tràn trề, chị trôi ngửa như xác chết, mắt chong rờ rỡ bóng  
mây. Hơn nửa đời lí nhí cúi mặt, Lý bỗng nhìn vào trời không run sợ  mảy  
may.”  (tr. 62)

Trang 9


Người mẹ làm nghề thầy bói trong Coi tay  vào sáng mưa chắc sẽ vui 
mừng lắm khi được nắm bàn tay con và ôm con vào lòng. Nhưng nghịch lí 
thay khi người con của bà trở  về chỉ là một phần của thân thể  ­ một bàn tay  
bị chặt lìa. Bao nhiêu năm kể từ khi để thất lạc đứa con lên tám ­ ngồi ăn vạ 
giữa chợ  vì cái tội đòi mua hộp bút màu, bà Năm Nguyệt luôn day dứt, đau 
khổ. Chồng bà sau khi mất con cũng bỏ bà đi biệt. Bà sống trơ trọi một mình  
và đi phiêu bạt khắp nơi tìm con với niềm hi vọng mỏng manh ­ cái dấu hiệu 
đặc biệt trên bàn tay trái “Trong những tháng ngày bàn tay phiêu bạt, bà nắm  
những bàn tay khác và không chịu được cái ý nghĩ mình níu người dưng đây  
mà buông bỏ  máu thịt của mình, bà bỏ  nghề. Chỉ  hi vọng là không buông.” 
(tr. 69)   Tác giả  không nói rõ vì sao đứa trẻ  biến mất cũng có thể  là nó bị 
người khác bắt đi cũng có thể  nó hận mẹ  nó vì đã buông tay bỏ  rơi nó giữa 
dòng người đông đúc. Và khi bàn tay của đứa con thơ  bé năm nào quay về 
trong bộ dạng chay sần và đầy sẹo  và đứt  lìa thì  bà đã biết con bà không tha  
thứ  cho bà. Bà không thể  giải thích để  người con hiểu bởi nó có về  gặp bà 
đâu. Nó đã không muốn nhìn lại bà. Hi vọng tìm được con nhưng khi tìm lại  
được thì bà phải đau đớn gấp vạn lần. Con bà những năm lưu lạc đã trở 
thành một tay anh chị trong chốn giang hồ. Hiện tại nó đang bị chặt mất một 
bàn tay và có thể  trong tương lai nó có thể  bị  tù hoặc chết. Nó hận bà. Đó 
chính là nỗi đau đến xé ruột. “  Bàn tay vẫn còn nằm lại trên mặt bàn trầy  
xước. Bàn tay để  ngửa. Cụt đến nửa  ống. Vô nghĩa biết bao một bàn tay  
không còn cầm nắm được. Người đàn bà kêu con ơi, níu mãi bàn tay xanh xao  
đó.” ( tr. 70) Có nỗi cô đơn nào lớn hơn nỗi cô đơn gặm nhấm nỗi đau do  
chính lỗi mình gây ra.
Nếu như ở truyện Coi tay vào sáng mưa người mẹ mãi cô đơn vì mất 
đi đứa con trai do chính mình làm thất lạc thì người cha trong  Mùa mặt rụng  
lại đánh mất chính mình trong mắt đứa con gái mười chín tuổi. Nhân vật anh 

Trang 10


­ người cha đã hoàn toàn đánh mất tình yêu thương, sự  kính trong mà người 
con gái dành cho anh. Lỗi là  ở  chính anh. Anh không giữ  được lòng chung 
thủy với vợ  lại đèo bồng có thêm phòng nhì. Trước đây, một lần con gái –
Mèo Ngố thất vọng không tin vào đàn ông sau cái lần tình cờ thấy người yêu 
chở cô gái khác thì ông bố khẳng định “.. đừng quơ đũa cả nắm, ba đâu phải  
loại đó..”( tr 25) Mèo Ngố  có lại được niềm tin vào cuộc sống vì cha nó là 
điểm tựa để nó tin rằng đàn ông trên đời vẫn còn có người đàng hoàng không 
đi lăng lăng bậy bạ. Ấy thế mà mọi thứ đã sụp đỗ tan tành khi cô con gái phát 
hiện ra ba mình có vợ  bé và đã có một đứa con. Người cha vô cùng sững sờ 
không biết nói gì với con khi con gái khi nó hỏi ba  để cái mặt rớt ở đâu rồi.  
Anh cũng tự  vấn lương tâm anh xem anh còn mặt hay không và cuối cùng 
“Anh dáo dác nhìn quanh căn phòng mà trước dây anh thường đã đến  ở vào  
giờ  nghỉ  trưa, cả  khi thằng bé   kia chưa ra đời. Gương mặt anh đã bị  rơi  
trong căn phòng này vào cái đêm Giáng sinh đó. Thỉnh thoảng anh lại nhìn  
thấy nó nằm chóng chơ  trên đất, nhưng chạm tay vào chỉ  là vụn bụi.”   (tr. 
28,29)  Người cha không còn hiện diện trong mắt của cô con gái. Sống giữa 
ngôi nhà thân thương mà anh như không còn tồn tại nữa. Con anh không còn  
thủ thỉ tâm sự mỗi khi có chuyện như thời còn bé, cũng không chào anh khi ra  
khỏi nhà, có chuyện cần nhờ  đến cha cũng tự  làm lấy. Nó cũng không còn 
nghe lời anh thậm chí vì buồn nó còn tự  hành hạ  bản thân khi đi làm nhân 
viên phục vụ  trong một quán bia. Anh cô đơn ngay trong chính ngôi nhà của  
mình thậm chí cả ở nhà vợ bé. 
3.3. Con người cô đơn và nỗi sợ bị lãng quên
Ở  truyện  Tro tàn rực rỡ, Nhàn sống cùng chồng  ở  xóm Thơm Rơm. 
Ông Tam chồng cô suốt ngày say rượu và khi say ông tủi thân thì chỉ có một  
thú vui duy nhất là đốt nhà để được ngắm những đốm tro tàn đỏ rực. Tam đã 
năm lần tự  tay đốt nhà mình để  ngắm, cái mà phần lớn người đời vừa lo 

Trang 11


ngại, vừa hoảng sợ. Nhàn thì cứ để mặc cho chồng đốt mà chẳng chữa cháy  
vì cô đang hạnh phúc được ngắm Tam khi hắn say đắm, tê mê ngắm những 
đám cháy rực lửa.  Đã từ lâu rồi khi gia đình liên tiếp xảy ra những mất mác 
đau thương­hai đứa con lần lượt rời xa thế  giới này­ thì chồng Nhàn không 
còn nhìn thấy cô nữa. Sau mỗi lần Tam đốt nhà, Nhàn lại cặm cụi đi kiếm  
từng bó lá, cây cọc về dựng lại để... cho chồng đốt. Nhàn mong muốn được 
chồng yêu thương và quan tâm đến mình. Có lẽ  vì thế  mà “ Nhàn đã không 
chạy ra khỏi đống lửa như  mọi khi, anh à! Không biết chị  thấy mệt rồi hay  
nghĩ chỉ  ở giữa đám cháy Tam mới nhìn thấy chị" ( tr. 144). Không có gì não 
nề bằng việc mình sống sờ sờ ngay bên cạnh chồng mà chồng xem như mình 
đã chết. Nhàn đã chờ đợi Tam nhìn thấy mình nhưng chờ  mãi mà chồng vẫn 
không nhìn thấy. Nhàn đã không còn con đường nào khác đành lựa chọn cách 
ở trong lửa thì Tam mới thấy mình. Chua xót biết chừng nào! Để người khác 
không lãng quên mình người ta đôi khi đánh đuổi cả  mạng sống của mình. 
Con người nhiều lúc khờ khạo dại dột. Họ sống nhưng lại cô đơn và nỗi cô 
đơn ấy lại gậm nhấm chính tâm hồn họ làm cho họ mất phương hướng. Cô  
đơn lả ngọn lửa thiêu cháy mọi thứ không tốt đẹp.
Em cùng chung số  phận như  Nhàn, cũng luôn mong muốn có tình yêu  
của chồng, muốn mình có một vị trí nào đó trong tim chồng. Vì thế mà em đã 
kể hết chuyện này đến chuyện khác về Nhàn để chồng cô thường xuyên về 
nhà và để cho cô không còn cô đơn trong giây phút ở bên chồng.  Em và chồng 
lấy nhau nhưng trong  tim chồng lúc nào cũng có hình bóng của Nhàn. Trong 
cái đêm Nhàn cưới Tam, chồng em đã say nên tưởng nhầm em là Nhàn mà ăn 
ở  với nhau. Đó cũng chính là cái đêm định ­  em  có thai. Biết được chồng 
không thương mình nhưng em vẫn hi vọng một ngày nào đó chồng sẽ  nhìn 
em với cái nhìn ngây ngất và bừng cháy như  trong cái đêm định mệnh đó. “  
Nhưng cái nhìn đó không bao giờ em còn thấy lại cả khi em nói anh ơi con Tí  

Trang 12


lại có em rồi, đạp mạnh lắm, chắc con trai. Mắt chồng vẫn tôi, lạnh, sâu ” (tr. 
142) . Và sau cái chết của Nhàn thì em cũng không còn thứ gì để kể cho chồng 
quay  về với mình và các con. Có thể lại có thêm Nhàn thứ hai chăng? 
      

Tôi trong Biến mất  ở  Thư  Viên cũng là trường hợp tương tự. Tôi yêu 

Hảo ngay từ  cái nhìn đầu tiên dù chênh lệch tuổi tác. Hảo khi  ấy bị  Sinh 
ruồng bỏ, sống cô đơn một mình. Tôi luôn bên cạnh che chở và bảo vệ Hảo. 
Hai người luôn đi chung với nhau mỗi buổi tối . Tôi đã nghĩ về một đám cưới 
với Hảo nhưng Hảo lại luôn đi tìm hình bóng của Sinh. “ Cuộc tìm kiếm ngày  
càng mênh mông vô tận, và đôi lúc đang hôn nhau hảo nhắc tới một cuốn  
sách nào đó mà con mọt sách như  tôi nghe lạ”  (tr.10)  Tôi yêu Hảo rất chân 
thành và mong muốn đem lại cho Hảo niềm vui. Tôi đau khổ vì trong tình yêu 
này hắn là người cô đơn, hắn không bao giờ  hiện hữu trong tim Hảo  “ Tôi 
kêu trong câm lặng. Hảo  ơi nhìn tôi đi, tìm kiếm tôi đi. Không âm thanh,  
nhưng cổ họng thì như  bể nát ” (tr. 12). Tuyệt vọng, sợ hãi tôi cũng đã hành 
động  “Vụt mất như  một phụ  diễn trong màn  ảo thuật, tôi đi vào khe của  
những cuốn sách, náu mình trong thứ bóng tối trong veo” ( tr.13)
Nhàn, em, tôi đã sống trong sự cô đơn và luôn sợ rằng mình sẽ bị người  
thân yêu lãng quên nên họ đã hành động. Hành động đó là tiếng nói đấu tranh 
trong tuyệt vọng để được nhìn thấy, để được yêu thương.
3.4 . Con người cô đơn và sự trốn chạy
Nguyên Ngọc Tư với tâm hồn nhạy cảm đã sớm nhận ra con người ta 
khi gặp những biến cố nào đó trong cuộc sống thường hay có khuynh hướng 
thu mình lại trong vỏ   ốc của chính mình. Vì thế  Nguyễn Ngọc Tư  đã có  
những dòng văn cực ngắn nhưng vô cùng ý nghĩa về sự trốn chạy của những  
con người cô đơn. Có người gặp bất hạnh mà không có người chia sẻ thì tìm 
đến những nơ vắng vẻ để sống như ông Sáng (  Đảo), lại có người bị chồng 
phản bội mà ngậm câm không thốt nổi nên lời như  em ( Vị của lời câm). Có 

Trang 13


thể  nói mỗi người mỗi cách thể  hiện khác nhưng điểm chung là họ  cuộc 
sống của họ rơi vào bế tắc và họ đang ở trong vực thẳm của sự cô đơn.
          Ở  Đảo, một người đàn ông tên Sáng sống một mình một trên Hòn 
Trống nơi mà chỉ  có: “Cái gọi là nhà lọt thỏm giữa những bãi đá và vài ba  
luống rau, những lùm bụi hoang dại.  Từng ấy đất đá chỉ là chút bụi mờ trên  
mặt trùng khơi”  (tr.33). Không có đôi mắt nhưng ông cảm nhận tinh tường 
những giông, gió, nắng, trời. Anh làm việc dự báo mà "người ta tin ông cũng  
như  tin đằng sau cái vẻ  dịu dàng của trời biển là sự  hung hiểm khó lường." 
(tr.32) Nguyễn Ngọc Tư  không giải thích vì sao Sáng bỏ  ra đảo sống một 
mình đơn độc, trơ trọi nhưng phần nào ông tìm đã tìm thấy sự bình yên ở cái 
nơi hoang vu ấy.
        Cuộc đời bất ngờ, không ai lường trước được những khúc quanh và 
biến cố. Rồi quà xuất hiện trong vòng 27 tiếng đồng hồ như một món quà từ 
trên trời rơi xuống mà Sáng cũng chẳng hề  bận tâm bất cứ  điều gì, đến cả 
tên của người đàn bà ấy là Đào, Mận hay Phượng mà gã cũng còn không biết 
huống gì cuộc sống làm “vợ thiên hạ” của chị ta. Cũng vậy, người đàn bà ấy 
cũng không hay biết Sáng là ai, làm gì và vì sao lại trốn ra đảo sống một 
mình. “ Gặp nhau giữa biển, người ta hỏi nhau quá khứ chẳng qua bâng quơ  
đưa chuyện” (tr.37). Họ  đến với nhau rồi chia xa như  bầy chim di trú một 
cách đầy ngẫu nhiên, mang tính bản năng vậy thôi, hỏi lấy đâu ra cuộc sống 
của một con người bình thường ở chốn hoang vu này.  Nhưng rồi sự bình yên 
của ông biến mất khi quà cố tình hăm dọa ông về một giọt máu của ông với  
cô. “ Cơn giận dâng ứ  ngang cổ  họng, ông không gọi quà dậy để  ăn chút gì  
trước khi đi, cũng làm lơ  chẳng tiễn đưa món quà ra ngoài bãi sau tiếng hú  
dài làm hiệu của chiếc ghe ghé đón” (tr. 38). Ông ra nơi bao la giữa muôn 
trùng nước, đá và gió  ấy để  lãng tránh cuộc đời, để  tìm sự  thanh thản trong  
những ngày còn lại. Làm sau đây nếu như ông có một đứa con thật? Sự bình  

Trang 14


an trong tâm hồn của ông không còn nữa mà thay vào đó là những bão tố vốn  
đã ngủ yên trong ông nay đã được khơi dậy “Sáng cảm giác những cột sóng  
phủ  lấy người mình, vô phương chạy trốn. Coi như  là mơ, nhưng gói sao  
cũng không vừa.” ( tr. 38) Vậy là những ngày tháng yên bình không còn nữa 
dù ông có trốn chạy ra nơi đảo xa xôi thì ông cũng không tránh được sự phiền  
muộn của cuộc sống.
Là phụ nữ khi biết chồng mình có nhân tình thông thường người ta sẽ 
phản ứng rất mạnh bằng la hét, chửi bới ông chồng nhưng cũng có những cô  
vợ chạy trốn sự thật ấy bằng cách im lặng không nói lên lời nào. Đó chính là 
cách trốn chạy của nhân vật xưng em trong  Vị  của lời câm.  Nguyễn Ngọc 
Tư đã xây dựng hình tượng nhân vật này hoàn toàn khác với những nhân vật  
cô đơn trước. Em biết tất cả mọi thứ như trước khi cưới em đã nhận ra mình  
và chồng không thật sự  yêu nhau nhưng em lại không dám nói lên lời, khi  
cưới nhau về chồng hờ hững với mình em cũng không đủ  sức để nói, và cao  
điểm khi phát hiện chồng ngoại tình cô cũng ngậm câm “Câu hỏi đó lại vo ve  
trong đầu khi xe lăn bánh, nhập ngừng không biết có nên gời anh tin nhắn  
“Cổ áo anh thường vướng mấy sợi tóc, em đo hoài mà chúng vẫn dài hơn tóc  
của em. Kể cả khi em nuôi tóc dài thì tóc ấy vẫn dài hơn”. Ngậm câm hai câu  
cứng đanh  ấy không biết bao nhiêu lần, rồi nuốt trộng, lần nào cũng mắc  
nghẹn muốn nín thở. Tối qua cắn nhằm chữ tóc mẻ  luôn miếng răng khôn.” 
Có lẽ  Nguyễn Ngọc Tư  thấu hiểu nỗi đau lớn nhất của sự  cô đơn chính là 
không thể nói nên lời. 
Thế giới nội tâm về sự cô đơn của con người được Nguyễn Ngọc Tư 
miêu tả  rất thành công. Người ta cô đơn với nhiều lí do và cũng có   nhiều  
cách để chạy trốn sự cô đơn. Cô đơn là nỗi đau gậm nhấm tâm hồn của mỗi  
con người. Cô đơn cũng có thể làm con người ta xa lánh cuộc sống xô bồ để 

Trang 15


tìm đến nơi hoang vắng, cô đơn có thể làm cho người ta câm nín không thốt  
nổi nên lời.
3.5. Con người cô đơn vì sự ghẻ lạnh của những người thân
Sự  lạnh nhạt của những người thân trong dòng họ  cũng sẽ  làm con 
người ta bị   ức chế  và sụp đỗ. Nhân vật anh trong truyện “   Bâng quơ  khói  
trắng” thật tội nghiệp khi bị  sự  ghẻ  lạnh của các em chỉ  vì câu nói lúc tức  
giận của ông già trước lúc mất “Thằng trời đánh, mày không phải con tao” 
(tr. 50). Trước đây, mỗi khi đến giỗ mẹ thì bốn anh em cùng vui vẻ bên nhau.  
Nhưng kể  từ  khi người cha nói câu  ấy thì tình cảm anh em nhạt dần. Đến 
ngày giỗ của ba mẹ, mỗi người con tự cúng lấy mà không qua nhà người anh  
hai nữa. Người anh cũng tìm mọi cách để  kết nối lại tình cảm với các em. 
Nhưng anh làm sao hàn gắn được khi chính bản thân anh cũng  nửa tin nửa  
ngờ về lời của người cha “Vợ xót quá, ấm  ức xui chồng đi thử cái di truyền  
gì đó, cho người ta sáng mắt ra. Anh đang châm rượu cúng, quay mặt vô vách  
nạt, thôi đừng có tào lao, tía giận nói vậy… Anh sợ chị vợ bắt gặp cái ý nghĩ,  
lỡ  như  lời ông già là sự  thật.” (tr. 53) Tình cảm anh em ruột thịt   sao mà 
mong manh  chỉ cần một biến cố nhỏ mà người ta có thể vứt bỏ như vứt bỏ 
một vỏ chuối sau khi ăn. Nhân vật người anh sống trong sự ghẻ lạnh của các 
em mình nhưng vẫn mong muốn các em sẽ hồi tâm chuyển ý để  cả  gia đình 
lại vui vẻ như xưa vì thế anh kêu vợ “Giỗ năm sau cũng nấu đủ sáu mâm cho  
tui” (tr. 53)
Phước trong truyện Áo đỏ  bắt đèn còn thê thảm hơn. Cậu đã mơ  một 
giấc mơ  thật kì lạ. Câu mơ  cậu được đứng trên sân khấu hát và nhảy cùng 
người bạn. cha mẹ cậu cùng ôm nhau sung sướng. Sau đó cậu còn thấy mình 
bị tai nạn dù cậu mặt cái áo đỏ chói mà ông lái xe vẫn không nhìn thấy. Trở 
về hiện tại thì cậu đơn cô đơn trong căn nhà đầy mạng nhện. Và người bạn  
duy nhất để giúp cho cậu vui chính là mấy con thằn lằn. “ Sáng qua mấy con  

Trang 16


thằn lằn còn rơi phịch xuống bụng mình, chắc do nhỏ bồ nó thì thầm “ nằm  
ngửa ra đi cưng”, nghĩ vậy nên mắc cười hoài. Lấy đó làm vui được một  
ngày.” (tr. 47)  Cha mẹ đã bỏ  rơi cậu mà chạy theo tình mới đã lâu. Cậu bé  
phải bươn chảy để tự kiếm sống lúc còn rất bé. Cậu luôn khao khát được sự 
quan tâm yêu thương của cha mẹ. Giấc mơ  của cậu  đã nói lên điều  ấy. 
Người lớn vì niềm vui riêng mà quên đi trách nhiệm chăm lo cho đứa con mà 
mình tạo ra là thật đáng trách. Và người đọc sẽ  đồng cảm và thấu hiểu nỗi  
cô đơn của những đứa trẻ bị  cha mẹ bỏ rơi. Sẽ có những trái tim nhân nhậu 
cưu mang các em nhưng tâm hồn các em sẽ bị nỗi đau ấy cứ đeo đẵng mãi.
4. Kết luận
Tập truyện ngắn Đảo khi vừa ra mắt bạn đọc vào năm 2014 đã được 
sự  đón nhận nồng nhiệt của nhiều độc giả. Nhà xuất bản trẻ  đã nhận xét “ 
Mười sáu truyện ngắn không thể  ngắn hơn. Có thể  nói đó là những bài thơ  
viết bằng văn xuôi về  số  phận của những con người tranh đấu trong tuyệt  
vọng để  được nhìn thấy. Những truyện ngắn cho thấy dường như  Nguyễn  
Ngọc Tư đang ra khỏi hiện thực của những cánh đồng để tìm đến vùng hỗn  
mang tâm trí con người.”  Đúng vậy, nhà văn trẻ  đã có cái nhìn sâu sắc hơn 
về hiện thực cuộc sống. Nỗi đau của con người không chỉ  là nỗi đau về  thể 
xác mà đó là nỗi đau về  tinh thần. Đó là sự  cô đơn trong tuyệt vọng. Hình 
tượng con người cô đơn trong tập truyện vẫn luôn ám  ảnh những ai đã đọc 
tập truyện.  Ở  tập truyện này ta thấy tác giả  dựng nên một bức tranh hiện  
thực u ám, hoang lạnh, tối tăm. Bức tranh ấy đã đánh thẳng vào tâm thức của  
từng độc giả  để  rồi làm bật lên thông điệp ý nghĩa: hãy trân trọng những gì  
mình đang có, hãy biết yêu thương những người bên cạnh, hãy biết thứ  tha 
cho lỗi lầm của người khác.

Trang 17


Tài liệu tham khảo

1.

Tập truyện ngắn Đảo, NXB Trẻ,2014

2.

Nguyễn Ngọc Tư từ Cánh đồng bất tận … “Đảo”, Văn học quê nhà, 
w.w.w.vanhocquenha.vn

3.

Nguyễn Ngọc Tư đặc sản miền Nam, w.w.w.viet.studies.net

4.

Hình tượng cong người cô đơn trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc 
Tư, w.w.w.thvi.vn

Trang 18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×