Tải bản đầy đủ

bài thảo luận hợp đồng lần 1

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ


BÀI TẬP THẢO LUẬN DÂN SỰ

Buổi thảo luận thứ bảy:Thừa kế theo pháp
luật

GVHD: ThS Nguyễn Tấn Hoàng
Hải
Nhóm thực hiện: Nhóm 4
Lớp: 91-DS43.3

Năm học 2019-2020
1


Danh sách thành viên nhóm 4:
Vũ Thanh Thảo - 1853801012179

Lục Thủy Tiên - 1853801012190
Lê Quốc Tính - 1853801012192
Nguyễn Thanh Thảo - 1853801012173
Nguyễn Thị Thanh Thảo - 1853801012176
Nguyễn Hoàng Anh Thư - 1853801012187
Phạm Thanh Quang – 1853801012161

2


MỤC LỤC
*Vấn đề 1: Thực hiện công việc không có ủy quyền.................................................4
*vấn đề 2: Thực hiện nghĩa vụ (thanh toán một khoản tiền)......................................7
*Vấn đề 3: Chuyển giao nghĩa vụ theo thoản thuận..................................................9

3


*Vấn đề 1: Thực hiện công việc không có ủy quyền.
Câu 1: Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền?
Trả lời:
Theo Điều 574 BLDS (Bộ luật dân sự 2015).
Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có
nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc
đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này
không biết hoặc biết mà không phản đối.
Câu 2: Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát
sinh nghĩa vụ?
Trả lời:
Điều 275 BLDS 2015 có quy định nghĩa vụ phát sinh từ những căn cứ
sau:
1.Hợp đồng;
2.Hành vi pháp lý đơn phương;
3.Thực công việc không có ủy quyền;
4.Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ
pháp luật;
5.Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật;
6.Căn cứ khác do pháp luật quy định;
Ta thấy tại Khoản 3 điều này quy định Thực hiện công việc không có
ủy quyền là một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ. Sỡ dĩ được


quy định như vậy vì việc quy định chế định này tạo nên sự ràng buộc
pháp lý giữa người thực hiện công việc và người có công việc được
thực hiện và nâng cao tinh thần trách nhiệm, đảm bảo quyền lợi của
người thực hiện công việc cũng như đối với người có công việc được
thực hiện.
4


Câu 3: Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế
định “thực hiện công việc không có ủy quyền”.
Trả lời:
Về chủ thể:
- BLDS 2005 quy định: Chủ thể người có công việc được thực hiện chỉ
có cá nhân.
- BLDS 2015 quy định: Chủ thể người có công việc được thực hiện bao
gồm cả cá nhân và pháp nhân (mở rộng phạm vi chủ thể).
Về mục đích thực hiện:
- BLDS 2005 quy định: “Hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc
được thực hiện” (hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực
hiện, không có mục đích khác, dẫn đến cách hiểu người có nghĩa vụ
không có lợi ích gì, người có công việc không biết hoặc biết mà không
phản ứng gì).
- BLDS 2015 quy định: “Thực hiện công việc đó vì lợi ích của người
có công việc được thực hiện” (vì lợi ích của người có công việc được
thực hiện nhưng cũng có thể vì mục đích khác tuy nhiên không được
làm trái với lợi ích của người có công việc được thực hiện và các chủ
thể khác). BLDS 2015 đã bỏ cụm từ “hoàn toàn”. “Việc loại bỏ điều
kiện trên thực chất chỉ được ghi nhận trong quá trình chỉnh lý dự thảo
tại quốc hội và xuất phát từ thực tiễn xét xử áp dụng quy định này trong
lĩnh vực mang yếu tố tìm kiếm lợi nhuận1”
Câu 4: Các điều kiện để áp dụng chế định “Thực hiện công việc
không có ủy quyền” theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện.
Trả lời:
Theo BLDS 2015, các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công
việc không có ủy quyền” là:
Người thực hiện công việc không có ủy quyền là người không có nghĩa
vụ thực hiện công việc đó. Một người có thể thực hiện công việc vì lợi
ích của người khác. Nếu giữa hai bên có một hợp đồng ủy quyền thì
1Xem thêm Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân Sự 2015, Nxb. Hồng ĐứcHội Luật Gia Việt Nam, Hà Nội.
5


nghĩa vụ của họ xuất phát từ hợp đồng. Nhưng trong trường hợp giữa
họ không có hợp đông ủy quyền nào, người thực hiện công việc không
có nghĩa vụ phải làm nhưng đã thực hiện công việc một cách
tự nguyện, hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc. Việc làm này tự
nguyện trên tinh thần tương thân, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong lúc
gặp khó khăn tạm thời nên giữa họ không có mối quan hệ pháp lý nào
về công việc được thực hiện trước đó.
Việc thực hiện công việc vì lợi ích của người có công việc. Người có
hành vi tự nguyện thực hiện công việc của người khác được coi là thực
hiện công việc không có ủy quyền trước khi tiến hành công việc, người
thực hiện công việc không có ủy quyền tự ý thức rằng nếu không có ai
thực hiện công việc này thì người có công việc bị thiệt hại một số lợi
ích vật chất nhất định. Lợi ích này có thể là những lợi ích mà người có
công việc được thực hiện không thu được hoặc lợi ích của họ giảm
đáng kể. Người thực hiện công việc không có ủy quyền xem đó là bổn
phận của mình và phải thực hiện công việc nhằm mang lại lợi ích cho
người có công việc.
Việc thực hiện công việc không có ủy quyền phải có sự tự nguyện của
người thực hiện công việc. Dù không có nghĩa vụ thực hiện công việc,
nhưng người thực hiện công việc vẫn có ý chí hết mình thực hiện công
việc của người khác như công việc của chính mình, không hề suy tính
lợi ích cá nhân. Người thực hiện nhận thức được hành vi thực hiện công
việc của mình và trong điều kiện, khả năng thực hiện công việc
một cách độc lập nhằm đem lại lợi ích cho người có công việc được
thực hiện.
Việc thực hiện công việc không có ủy quyền không vi phạm điều cấm
của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội. Một người tự nguyện thực
hiện công việc của người khác coi đó là bổn phận của mình và phải
xuất phát từ người có công việc. Mục đích và nội dung của việc thực
hiện công việc là không trái pháp luật và đạo đức xã hội.2
1

https://diendanphapluat.vn/dieu-kien-phat-sinh-nghia-vu-thuc-hien-cong-vieckhong-co-uy-quyen/?
fbclid=IwAR2J1ch28Ll0sF1vz7yx94Y7KMEyXuEkBOUYz2kNvVDCOwmwhi3y
x2pYLuY, tham khảo ngày 10/09/2019.
2

6


Câu 5: Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình,
nhà thầu C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ
trên cơ sở các quy định của chế định “Thực hiện công việc không có
ủy quyền” trong BLDS 2015 không?Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi
trả lời.
Trả lời :
Có.
Bởi vì, nhà thầu C không biết công việc của mình đã thực hiện cho B
là công việc mà A đã giao cho B quản lý. Nhà thầu C chỉ biết được
công việc mình được giao từ B. Chủ đầu tư A cũng không biết công
việc mình nhờ B quản lý đã được B giao cho nhà thầu C.
Căn cứ pháp lý:
Khoản 3 Điều 275, Điều 574 Bộ luật Dân sự 2015

*Vấn đề 2: Thực hiện nghĩa vụ (thanh toán một khoản
tiền).
Câu 1: Thông tư trên cho phép tính lại khoản giá trị tiền phải thanh
toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì?
Trả lời:
Theo Điểm a, b Điều 1 Mục I Thông tư 01/TTLT trên thì việc tính lại
khoản giá trị tiền phải thanh toán được tính như sau:
Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ dân sự xảy ra trước ngày
01/07/1996 và trong thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh
nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo tăng từ 20% trở lên,
thì quy đổi các khoản tiền đó ra gạo theo giá gạo loại trung bình ở địa
phương, tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, rồi tính số
lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để
buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán và chịu án phí theo số
tiền đó. Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ xảy ra sau ngày
1-7-1996 hoặc tuy xảy ra trước ngày 1-7-1996, nhưng trong khoảng
thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời
7


điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo không tăng hay tuy có tăng nhưng ở
mức dưới 20%, thì Toà án chỉ xác định các khoản tiền đó để buộc bên
có nghĩa vụ phải thanh toán bằng tiền. Trong trường hợp người có
nghĩa vụ có lỗi thì ngoài khoản tiền nói trên còn phải trả lãi đối với số
tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định
tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo quy
định tại Khoản 2 Điều 313 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận
khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Việc tính lại khoản giá trị tiền phải trả qua trung gian là gạo.
Câu 2: Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả
cho bà Cô khoản tiền cụ thể là bao nhiêu ? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi
trả lời.
Trả lời:
Thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền là 3.285.000đ.
Cơ sở pháp lý: Điểm a Khoản 1 Thông tư 01/TTLT ngày 29/6/1997 và
Điều 290 BLDS/2005
Cách tính như sau: Giá gạo trung bình năm 1973 là 137đ/kg thì số
lượng gạo quy đổi là 365kg ( 50000đ:137đ/kg=365kg). Giá gạo tại thời
điểm xét xử là 9000đ, vậy số tiền mà tòa án yêu cầu ông Quới hoàn trả
cho bà Cô là 3285000đ (365kg*9000đ/kg=3285000đ)
Câu 3: Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp
đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số
15/2018/DS-GĐT không? Vì sao?
Trả lời:
Thông tư trên không điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng
chuyển nhượng bất động sản như trong quyết định số 15/2018/DSGĐT, vì nó chỉ áp dụng các khoản bồi thường, tiền hoàn trả, tiền lương,
tiền công, tiền chia tài sản.
Thông tư 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, viện
kiểm sát nhân dân tối cao, bộ tư pháp, bộ tài chính hướng dẫn xét xử,
thi hành án về tài sản tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay
không có lãi, tiền truy thu thuế, tiền do thu lợi bất chính.
8


Câu 4: Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GDT,
nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000đ như Tòa án cấp
sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản
tiền bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là bao nhiêu? Vì
sao?
Trả lời:
Trong bản án, Tòa án nói rõ: “ Bà Hương phải thanh toán cho cụ Bảng
số tiền còn nợ tương ứng với số tiền 1/5 giá trị căn nhà, đất theo định
giá tại thời điểm xét xử sơ thẩm mới đúng”.
Vậy nên giá trị nhà đất được xác định là: 1.679.760.000đ thì bà Hương
phải thanh toán cho cụ Bảng là: 1.679.760.000đ*1/5= 339.552.000đ.
Câu 5: Hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có
tiền lệ chưa? Nêu một tiền lệ (nếu có)?
Trả lời:
Hướng như trên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã có tiền lệ rồi.
Ví dụ: Quyết định 741/2011/DS-GĐT ngày 26-9-2011 của Tòa dân sự
Tòa án nhân dân tối cao. Ông Hoanh và ông An có ký hợp đồng chuyển
nhượng 1.230m2 đất với giá 500.000.000đ. Ông An đã trả cho ông
Hoanh 265.000.000đ, còn nợ ông Hoanh 235.000.000đ; nhưng ông An
đã nhận đất và ông An đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
trên. Theo báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại
công văn 34/BC.VKST-P5 thì ông An đã bán thửa đất mà ông nhận
chuyển nhượng của ông Hoanh. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc
thẩm buộc các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa ông Hoanh và ông An là có căn cứ. Tuy nhiên, trong
quá trình thực hiện hợp đồng ông An đã vi phạm hợp đồng, không thực
hiện nghĩa vụ trả tiền chuyển nhượng đất đúng thời hạn. Do đó, ông An
phải thanh toán cho ông Hoanh số tiền nhận chuyển nhượng đất còn
thiếu theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm; như vậy mới bảo
đảm quyền lợi hợp pháp của các đương sự. Tòa án cấp sơ thẩm buộc
ông An trả lại ông Hoanh số tiền gốc chưa thanh toán và lãi suất; Tòa

9


án cấp phúc thẩm chỉ buộc ông An trả nguyên tiền gốc đều không chính
xác.

*Vấn đề 3: Chuyển giao nghĩa vụ theo thoản thuận.
Câu 1: Điểm giống và khác nhau cơ bản giữa chuyển giao quyền yêu
cầu và chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận
Trả lời:
Chuyển giao quyền yêu cầu, chuyển giao nghĩa vụ dân sự đều dẫn tới
hậu quả pháp lý là làm thay đổi chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ theo đó
chấm dứt tư cách chủ thể của chủ thể đã chuyển giao, xác lập tư cách
chủ thể cho người nhận chuyển giao. Khi đó, người có quyền
trước/người có nghĩa vụ trước sẽ chấm dứt mối quan hệ với người có
nghĩa vụ/người có quyền và không phải chịu trách nhiệm về khả năng
thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ (đối với việc chuyển giao
quyền yêu cầu) hay của người thế nghĩa vụ (đối với hành vi chuyển
giao nghĩa vụ dân sự). Về hình thức chuyển giao, thì việc chuyển giao
quyền yêu cầu hay chuyển giao nghĩa vụ đều được thể hiện bằng văn
bản hay lời nói Tuy nhiên, về cơ bản giữa hai hành vi này có một số
điểm khác biệt sau3:
Về chuyển giao quyền yêu cầu:
 Đối tượng có quyền chuyển giao: Bên có quyền là người chuyển
giao.
 Nguyên tắc chuyển giao: Chuyển giao quyền yêu cầu không cần có

sự đồng ý của người có nghĩa vụ vì trong mọi trường hợp người có
nghĩa vụ đều phải thực hiện đúng nội dung của nghĩa vụ đã được xác
định. Tuy nhiên người chuyển quyền phải thông báo cho người có
nghĩa vụ biết về việc chuyển giao quyền yêu cầu.
 Hiệu lực của biện pháp bảo đảm: Nếu chuyển giao quyền yêu cầu mà
quyền yêu cầu có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ kèm theo thì
biện pháp bảo đảm được chuyển giao sang người thế quyền.
3 https://lawnet.thukyluat.vn/posts/t8287-phan-biet-chuyen-giao-quyen-yeu-cau-va-

chuyen-giao-nghia-vu-dan-su?fbclid=IwAR1BggfVv0J0WB5_d1OxqeP3cG3L-9sYPebUjAZLM91V8Hc9pu6e1vAuFU, tham khảo ngày 10/09/2019.
10


Về chuyển giao nghĩa vụ theo thoản thuận:
 Đối tượng có quyền chuyển giao: Đối với chuyển giao nghĩa vụ dân

sự thì bên có nghĩa vụ là người có quyền chuyển giao.
 Nguyên tắc chuyển giao: Chuyển giao nghĩa vụ buộc phải có sự đồng
ý của bên có quyền. Quy định này rất phù hợp vì trong quan hệ nghĩa
vụ, quyền của một bên có được đảm bảo hay không hoàn toàn phụ
thuộc vào việc thực hiện nghĩa vụ của bên kia. Người thực hiện nghĩa
vụ khi chuyển giao nghĩa vụ phải đảm bảo cho người kế thừa nghĩa vụ
đó có khả năng thực hiện nghĩa vụ. Khi người có quyền đồng ý, việc
chuyển giao mới có thể được thực hiện. Người chuyển giao nghĩa vụ
không cần thông báo cho người có quyền.
 Hiệu lực của biện pháp bảo đảm: Đối với chuyển giao nghĩa vụ theo
thỏa thuận, nếu nghĩa vụ thực hiện có biện pháp bảo đảm được chuyển
giao thì biện pháp bảo đảm đó đương nhiên chấm dứt (trừ trường hợp
các bên không có thỏa thuận khác).
Câu 2: Thông tin nào của bản án cho thấy bà Phượng có nghĩa vụ
thanh toán cho bà Tú.
Trả lời:
Đoạn trong bản án cho thấy bà Phượng có nghĩa vụ thanh toán cho bà
Tú là: “Theo các biên nhận tiền do phía bà Tú cung cấp thì chính bà
Phượng là người trực tiếp nhận tiền của bà Tú vào năm 2003 với tổng
số tiền 555.000.000đ và theo biên nhận ngày 27/4/2004 thì thể hiện bà
Phượng nhận của bà Lê Thị Nhan số tiền 615.000.000đ. Phía bà
Phượng không cung cấp được chứng cứ xác định bà Ngọc thoả thuận
vay tiền với bà Tú. Ngoài ra, cũng theo lời khai của bà Phượng thì vào
tháng 4 năm 2004, do phía bà Loan, ông Thạnh và bà Ngọc không có
tiền trả cho bà Tú để trả vốn vay Ngân hàng nên bà đã cùng với bà Tú
vay nóng bên ngoài để có tiền trả cho Ngân hàng. Xác định bà Phượng
là người xác lập quan hệ vay tiền với bà Tú4”.
Câu 3: Đoạn nào của bản án cho thấy nghĩa vụ trả nợ của bà
Phượng đã được chuyển sang cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh?
4 Bản án số 148/2007/DSST ngày 26/9/2007 của Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.
11


Trả lời:
“Tuy nhiên, phía bà Tú đã chấp nhận cho bà Phượng chuyển giao nghĩa
vụ trả nợ cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh thể hiện qua việc bà Tú
đã lập hợp đồng cho bà Ngọc vay số tiền 465.000.000đ và hợp đồng
cho bà Loan, ông Thạnh vay số tiền 150.000.000đ vào ngày
12/05/2005. Như vậy, kể từ thời điểm bà Tú xác lập hợp đồng vay với
bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh thì nghĩa vụ trả nợ vay của bà Phượng
với bà Tú đã chấm dứt, làm phát sinh nghĩa vụ của bà Ngọc, bà Loan
và ông Thạnh đối với bà Tú theo hợp đồng vay tiền đã ký. Việc bà Tú
yêu cầu bà Phượng có trách nhiệm thanh toán nợ cho bà là không có
căn cứ chấp nhận”2 .
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về đánh giá trên của Tòa án?
Trả lời:
Theo nhóm em, đánh giá trên của Tòa án là hoàn toàn hợp lý. Tòa án
xác định nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng đã được chuyển giao sang cho
bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh là có căn cứ. Xét thấy không có sự
thay đổi về quy định chuyển giao nghĩa vụ trong BLDS 2005 và BLDS
20155 thì bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa vụ dân sự cho
người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý và người thế nghĩa
vụ sẽ trở thành bên có nghĩa vụ. Trong trường hợp này, phía bà Tú đã
chấp nhận cho bà Phượng chuyển giao nghĩa vụ cho bà Ngọc, bà Loan
và ông Thạnh thể hiện qua việc bà Tú đã lập hợp đồng cho bà Ngọc vay
số tiền 465.000.000đ và hợp đồng cho bà Loan, ông Thạnh vay số tiền
150.000.000đ vào ngày 12/5/2005. Điều đó thể hiện người có quyền là
bà Tú đã đồng ý với việc chuyển giao này. Khi đã chuyển giao nghĩa vụ
theo thỏa thuận, người có nghĩa vụ ban đầu là bà Phượng sẽ được giải
phóng hoàn toàn, không phải chịu trách nhiệm liên đới. Do đó bà Ngọc,
bà Loan và ông Thanh sẽ trở thành người thay thế nghĩa vụ, có trách
nhiệm trả số nợ còn thiếu cho bà Tú.
Câu 5: Nhìn từ góc độ văn bản, người có nghĩa vụ ban đầu còn có
trách nhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa vụ
5 Điều 315 BLDS 2015 và Điều 370 BLDS 2015.
12


không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu cơ sở pháp lý khi
trả lời.
Trả lời:
Nhìn từ góc độ văn bản, người có nghĩa vụ ban đầu không còn có trách
nhiệm đối với người có quyền khi người thế nghĩa vụ không thực hiện
nghĩa vụ được chuyển giao.
Điều 370 BLDS 2015 quy định: “Bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao
nghĩa vụ cho người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý, trừ
trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của bên có nghĩa vụ hoặc
pháp luật có quy định không được chuyển giao nghĩa vụ. Khi được
chuyển giao nghĩa vụ thì người thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa
vụ”.
Thấy rằng, BLDS 2015 tại Điều 370 nêu có đề cập tới việc chuyển giao
nhưng không cho biết cụ thể người có nghĩa vụ ban đầu có được giải
phóng nghĩa vụ hay không. Nhìn dưới góc độ thực tiễn xét xử, nghĩa vụ
đó có thể được giải phóng.
Theo quan điểm cá nhân của Chu Trường Giang, Khoa Luật Thương
mại - Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thì hướng xét xử
của thực tiễn là hợp lý”6.
Thứ nhất, luật quy định, khi chuyển giao nghĩa vụ phải có sự đồng ý
của bên có quyền, đồng nghĩa với việc người có quyền phải xét đến
điều kiện, khả năng thực hiện nghĩa vụ của người thế nghĩa vụ để bảo
đảm quyền lợi của mình. Vì lẽ đó, xem xét giải phóng hoàn toàn cho
người chuyển giao nghĩa vụ là có căn cứ.
Thứ hai, nếu như không giải phóng hoàn toàn người có nghĩa vụ ban
đầu thì chế định này sẽ không tìm thấy sự khác nhau với chế định ủy
quyền (thực hiện nghĩa vụ dân sự thông qua người thứ ba). Do vậy, để
chuyển giao nghĩa vụ là một chế định độc lập, nên xác định rõ việc giải
phóng hay không với người có nghĩa vụ ban đầu.

6 https://lawnet.thukyluat.vn/posts/t6881-chuyen-giao-nghia-vu-theo-thoa-thuan-nguoi-co-nghia-vu-ban-dauco-nen-duoc-giai-phong?g=posts&t=6881&=, tham khảo ngày 07/09/2019.
13


Pháp luật dân sự quy định những vấn đề cơ bản nhất, toàn diện nhất các
lĩnh vực thuộc đời sống dân sự, nên khó tránh khỏi một chút thiếu sót
khi đào sâu vào chi tiết. Và đối với câu hỏi còn bỏ ngỏ ở trên, quan
điểm của tôi cho rằng, người có nghĩa vụ ban đầu không chịu trách
nhiệm về việc thực hiện nghĩa vụ của người thế nghĩa vụ, trừ trường
hợp các bên có thỏa thuận khác. Người có nghĩa vụ trước và người có
quyền chấm dứt toàn bộ mối quan hệ nghĩa vụ.
Câu 6: Nhìn từ góc độ quan điểm các tác giả, người có nghĩa vụ ban
đầu có còn trách nhiệm đối với người có quyền không khi người thế
nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu rõ quan
điểm của các tác giả mà anh/chị biết.
Trả lời:
Nhìn từ góc độ quan điểm các tác giả, người có nghĩa vụ ban đầu
không còn trách nhiệm đối với người có quyền khi người thế ngĩa vụ
không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao.
Quan điểm của tác giả PGS. TS. Đỗ Văn Đại về vấn đề này là: “Khi có
chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận, người có nghĩa vụ ban đầu
không còn trách nhiệm với người có quyền nên người có quyền không
thể yêu cầu người có nghĩa vụ ban đầu thực hiện nghĩa vụ khi người thế
nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao. Nếu có nghĩa vụ
chuyển giao theo pháp luật mà khi chuyển giao người có nghĩa vụ ban
đầu chết hay chấm dứt (như do sát nhập hay hợp nhất) thì hiển nhiên
người có quyền cũng sẽ không thể yêu cầu người có nghĩa vụ ban đầu
thực hiện nghĩa vụ”.7
Tác giả cũng phân tích thêm “Trong trường hợp người có nghĩa vụ cam
kết với bên có quyền với nội dung khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ, nếu
người thế nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy
đủ nghĩa vụ, người với nghĩa vụ ban đầu sẽ thực hiện nghĩa vụ thay
người thế nghĩa vụ thì tư cách chủ thể của người có nghĩa vụ ban đầu
được xác định là người có bảo lãnh cho việc thực hiện nghĩa vụ8”.
=> Từ những quan điểm này cho ta thấy rõ người có nghĩa vụ ban
đầu không còn trách nhiệm đối với bên có quyền khi hai bên không
7 Đỗ Văn Đại (chủ biên), Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb.
Hồng Đức-Hội Luật Gia Việt Nam, tr. 64.
8 Đỗ Văn Đại (chủ biên), Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb.
Hồng Đức-Hội Luật Gia Việt Nam, tr. 66.
14


có thỏa thuận gì thêm về việc thực hiện của người có trách nhiệm
ban đầu.
Câu 7: Đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án có theo hướng người
có nghĩa vụ ban đầu không còn trách nhiệm đối với người có quyền?
Trả lời:
Trong phần xét thấy có đoạn: “Phía bà Tú đã chấp nhận cho bà Phượng
chuyển giao nghĩa vụ trả nợ cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh, thể
hiện qua việc bà Tú đã lập hợp đồng cho bà Ngọc vay số tiền
465.000.000đ và hợp đồng cho bà Loan, ông Thạnh vay 150.000.000đ
vào ngày 12/5/2005. Như vậy, kể từ thời điểm bà Tú xác lập hợp đồng
vay với bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh thì nghĩa vụ trả nợ vay của bà
Phượng với bà Tú đã chấm dứt, làm phát sinh nghĩa vụ của bà Ngọc, bà
Loan và ông Thạnh đối với bà Tú theo hợp đồng vay tiền đã ký. Việc bà
Tú yêu cầu bà Phượng có trách nhiệm thanh toán nợ cho bà là không có
căn cứ chấp nhận.”
Câu 8: Kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài đối với quan hệ giữa
người có nghĩa vụ ban đầu và người có quyền.
Trả lời:
Thực tế cho thấy quy định trong các hệ thống luật tương đối khác nhau.
Ở Châu Âu, một số nước quy định người có nghĩa vụ ban đầu được giải
phóng hoàn toàn nhưng một số nước lại quy định ngược lại theo hướng
người đó có nghĩa vụ bổ sung.
Theo Bộ luật nguyên tắc UNIDROIT 9 về hợp đồng thương mại quốc tế
2004 đã quy định về quan hệ giữa người có nghĩa vụ ban đầu với người
có quyền:
Điều 9.2.5 (Giải phóng nghĩa vụ cho người có nghĩa vụ ban đầu)
1) Người có quyền có thể giải phóng nghĩa vụ cho người có nghĩa
vụ ban đầu.
2) Người có quyền cũng có thể quyết định là người có nghĩa vụ ban
đầu vẫn là người có nghĩa vụ trong trường hợp người có nghĩa vụ
mới không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.
3) Trong mọi trường hợp khác, người có nghĩa vụ ban đầu và người
có nghĩa vụ mới phải liên đới chịu trách nhiệm.
9https://savilaw.wordpress.com/2011/03/26/b%E1%BB%99-nguyen-t%E1%BA%AFc-unidroit-v%E1%BB
%81-h%E1%BB%A3p-d%E1%BB%93ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-qu%E1%BB%91c-t
%E1%BA%BF-2004/, tham khảo ngày 11/09/2019.
15


Như vậy, chúng ta có thể thấy pháp luật nước ngoài đã quy định một
cách chi tiết về trách nhiệm của người có nghĩa vụ ban đầu, cụ thể:
Khoản 1: Thì người có quyền có thể sẽ giải phóng hoàn toàn nghĩa vụ
cho người có nghĩa vụ ban đầu.
Khoản 2: Điều đó có nghĩa là người có quyền có thể lựa chọn một khả
năng khác, đó là chấp nhận việc chuyển giao nghĩa vụ của người có
nghĩa vụ ban đầu cho người có nghĩa vụ mới, nhưng người có quyền
bảo lưu quyền yêu cầu đối với người có nghĩa vụ ban đầu.
Khoản 3: Quy định tại điều này thể hiện rõ ở giải pháp cuối cùng cũng
là giải pháp được áp dụng trong trường hợp người có quyền không có
quyết định nào.
Theo Bộ nguyên tắc Châu Âu về hợp đồng thì quy định tại Điều 12:101
là “Người có nghĩa vụ ban đầu không còn bị ràng buộc bởi các nghĩa
vụ của họ.”
Theo Bộ nguyên tắc Châu Âu về hợp đồng thì khi nghĩa vụ đã được
chuyển giao thì nghĩa vụ của người có nghĩa vụ ban đầu coi như được
giải phóng. Họ không phải chịu trách nhiệm đối với bên có quyền cho
dùng người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao.
Từ kinh nghiệm thực tiễn của pháp luật nước ngoài và thực tế xét xử tại
Việt Nam thì ta rút ra được rằng xu thế chủ yếu là thừa nhận rằng khi
đã chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận thì người có nghĩa vụ ban đầu
không còn trách nhiệm gì với bên có quyền.
Câu 9: Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết trên của Tòa án?
Trả lời:
Theo em, hướng giải quyết trên của Tòa án là hợp lý, phù hợp với Bộ
luật dân sự 2005. Theo Khoản 2 Điều 315 BLDS 2005 quy định: “ Khi
được chuyển giao nghĩa vụ thì người thế nghĩa vụ trở thành bên có
nghĩa vụ”. Nếu cho người có nghĩa vụ ban đầu vẫn có trách nhiệm với
người có quyền thì chúng ta sẽ không thấy được sự khác nhau giữa

16


chuyển giao nghĩa vụ tại Điều 31510, Điều 31611, Điều 31712 và Điều
29313 BLDS 2005 về thực hiện nghĩa vụ dân sự thông qua người thứ
ba. Từ đó, muốn chuyển giao nghĩa vụ là một chế định độc lập với chế
định thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba, chúng ta cần xác định
rõ chuyển giao nghĩa vụ giải phóng người có nghĩa vụ ban đầu, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác. Ở bản án số 148/2007/DSST, người có
nghĩa vụ ban đầu là bà Phượng và bà không còn nghĩa vụ khi chuyển
giao nghĩa vụ có giá trị pháp lý.
Câu 10: Trong trường hợp nghĩa vụ của bà Phượng đối với bà Tú có
biện pháp bảo lãnh của người thứ ba thì, khi nghĩa vụ được chuyển
giao, biện pháp bảo lãnh có chấm dứt không? Nêu rõ cơ sở pháp lý
khi trả lời.
Trả lời:
Trong trường hợp nghĩa vụ của bà Phượng đối với bà Tú có biện pháp
bảo lãnh của người thứ ba thì, khi nghĩa vụ được chuyển giao, biện
pháp bảo lãnh cũng chấm dứt. Vì biện pháp bảo lãnh là một biện pháp
bảo đảm nên chúng ta sẽ căn cứ theo Điều 317 BLDS 2005 thì biện
pháp bảo lãnh sẽ chấm dứt nếu không có thỏa thuận khác.

10 Điều 315 BLDS 2005 về Chuyển giao nghĩa vụ dân sự: “1. Bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa
vụ dân sự cho người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý, trừ trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân
thân của bên có nghĩa vụ hoặc pháp luật có quy định không được chuyển giao nghĩa vụ. 2. Khi được chuyển
giao nghĩa vụ thì người thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ.”
11 Điều 316 BLDS 2005 về Hình thức chuyển giao nghĩa vụ dân sự: “1. Việc chuyển giao nghĩa vụ dân sự
được thể hiện bằng văn bản hoặc bằng lời nói. 2. Trong trường hợp pháp luật có quy định việc chuyển giao
nghĩa vụ phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, đăng ký hoặc phải xin phép
thì phải tuân theo các quy định đó.”
12 Điều 317 BLDS 2005 về Chuyển giao nghĩa vụ dân sự có biện pháp bảo đảm “Trong trường hợp nghĩa
vụ dân sự có biện pháp bảo đảm được chuyển giao thì biện pháp bảo đảm đó chấm dứt, nếu không có thoả
thuận khác.”
13 Điều 293 BLDS 2005 về Thực hiện nghĩa vụ dân sự thông qua người thứ ba: “Khi được bên có quyền
đồng ý, bên có nghĩa vụ có thể ủy quyền cho người thứ ba thay mình thực hiện nghĩa vụ dân sự nhưng vẫn
phải chịu trách nhiệm với bên có quyền, nếu người thứ ba không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ dân sự.”
17


18


Tài Liệu Tham Khảo
1/Bộ luật Dân Sự 2015
2/Bộ luật Dân Sự 2005
3/Giáo Trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
4/https://lawnet.thukyluat.vn/posts/t6881-chuyen-giao-nghia-vu-theo-thoathuan-nguoi-co-nghia-vu-ban-dau-co-nen-duoc-giai-phong?
g=posts&t=6881&=,
5/https://diendanphapluat.vn/dieu-kien-phat-sinh-nghia-vu-thuc-hien-cong-vieckhong-co-uy-quyen/?
fbclid=IwAR2J1ch28Ll0sF1vz7yx94Y7KMEyXuEkBOUYz2kNvVDCOwmwhi3y
x2pYLuY

6/ https://savilaw.wordpress.com/2011/03/26/b%E1%BB%99-nguyen-t
%E1%BA%AFc-unidroit-v%E1%BB%81-h%E1%BB%A3p-d%E1%BB
%93ng-th%C6%B0%C6%A1ng-m%E1%BA%A1i-qu%E1%BB%91c-t
%E1%BA%BF-2004/

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×