Tải bản đầy đủ

bài thảo luận dân sự 1

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
LỚP LUẬT THƯƠNG MẠI 44.A

CHỦ THỂ CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ
Giảng viên hướng dẫn

: ThS. Nguyễn Tấn Hoàng Hải

Bộ môn

: Những quy định chung về luật dân sự

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 02 năm 2020


MỤC LỤC


3

Vấn đề 1: NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CÁ NHÂN

Tóm tắt bản án: Quyết định số 11/2017/QDDS-ST ngày 18/7/2017 của Toàn án nhân dân
thị xã Điện Bàn tỉnh Quảng Nam.
Bà Vũ Thị H và ông Lê Văn P có quan hệ vợ chồng đã đăng kí kết hôn.Ông P bị
bệnh tâm thần đã thuyên giảm. Bà H yêu cầu Tòa án tuyên bố ông P bị khó khăn trong
nhận thức, làm chủ hành vi mục đích dể ly hôn. Sau khi có kết luận giám định Tòa tuyên
bố ông P bị khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và yêu cầu của bà H được chấp
thuận.Bà H không đủ điều kiện làm người giám hộ cho ông P vì mục đích của bà H là
muốn ly hôn. Cũng qua xác minh địa phương, bà Huỳnh Thị T là người nuôi dưỡng ông P
từ nhỏ nên bà T đủ điều kiện làm người hộ cho ông P. Do dó, tòa án chỉ định bà Huỳnh
Thi T là người giám hộ cho ông P, khi Tòa án tuyên bố ông P có khó khăn trong nhận
thức, làm chủ hành vi.
 1.1) Hoàn cảnh của ông P như trong Quyết định được bình luận có thuộc trường

hợp mất năng lực hành vi dân sự không? Vì sao?
Hoàn cảnh của ông P như trong Quyết định được bình luận không thuộc trường hợp
mất năng lực hành vi dân sự. Vì Theo Khoản 1, Điều 22-Bộ luật Dân sự 2015:
“1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm
chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ
quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực
hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.”
Theo kết quả giám định pháp y tâm thần số: 286/KLGĐTC, ngày 22/5/2017 đối với
ông P của trung tam Pháp y tâm thần khu vực Miền Trung kết luận tại thời điểm hiện tại :
_Về mặt y học: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, hiện tại đã thuyên giảm
_Về mặt pháp luật: Khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi
Ông P không thuộc đối tượng tại khoản 1, Điều 22-BLDS, tình trạng ông P thuộc
trường hợp quy định tại Điều 23- Bộ luật Dân sự 2015.

 1.2) Nêu những điểm giống và khác nhau giữa hạn chế năng lực hành vi dân sự và

mất năng lực hành vi dân sự?
Về điểm giống nhau:
_Thứ nhất, họ là những người từng có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.


4

_Thứ hai, việc họ bị hạn chế hay bị mất năng lực hành vi dân sự dựa trên quyết định
của Tòa án trên cở sở yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan.
_Thứ ba, họ không thể tự mình tham gia tất cả các giao dịch dân sự mà pháp luật cho
phép.


_Thứ tư, khi không còn căn cứ cho rằng họ bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự thì họ có quyền được khôi phục lại năng lực hành vi dân sự
của mình.
Về điểm khác nhau:
_Về nguyên nhân: người mất năng lực hành vi dân sự là do họ mắc bệnh tâm thần hoặc
bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Đối với người bị
hạn chế năng lực hành vi dân sự thì do họ nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích dẫn
đến phá tán tài sản của gia đình.
_Về hệ quả pháp lí: Người mất năng lực hành vi dân sự sẽ không còn năng lực hành vi
dân sự, không thể tham gia bất kì một giao dịch dân sự nào, các giao dịch dân sự của họ
sẽ do người đại diện của họ xác lập và thực hiện. Đối với người bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự thì họ không bị mất hết năng lực hành vi dân sự mà họ vẫn có thể tự mình tham
gia được một số giao dịch dân sự nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của họ.

 1.3) Trong Quyết định được bình luận, ông P có thuộc trường hợp người hạn chế

năng lực hành vi dân sự không? Vì sao?
Hoàn cảnh của ông P như trong Quyết định được bình luận không thuộc trường hợp
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Vì Theo: Điều 24- Bộ luật Dân sự 2015: “1. Người
nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì
theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan,
Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự.”
Đối tượng bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì do họ nghiện ma túy, nghiện các
chất kích thích dẫn đến phá tán tài sản của gia đình và Tòa án ra quyết định tuyên bố hạn
chế năng lực hành vi dân sự. Còn trong trường hợp ông P là người mắc bệnh tâm thần
dẫn đến tình trạng không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi bản thân. Vì vậy, ông P
không thuộc trường hợp người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

 1.4) Điểm khác nhau cơ bản giữa người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và là

người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là :


5

Về nguyên nhân: người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là Người thành
niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành
vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự. Đối với người bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự thì do họ nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích dẫn đến phá tán tài sản
của gia đình.
 1.5) Tòa án xác định ông P thuộc trường hợp người khó khăn nhận thức, làm chủ

hành vi có thuyết phục không? Vì sao?
Tòa án xác định ông P thuộc trường hợp người khó khăn trong nhận thức, làm chủ
hành vi là thuyết phục. Vì theo Khoản 1, Điều 23- Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Người
thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm
chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người
này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết
luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó
khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa
vụ của người giám hộ.”
Trường hợp của ông P về mặt y học ông P mắc chứng “ rối loạn cảm xúc lưỡng
cực”. Tình trạng tinh thần không đủ nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất
năng lực hành vi dân sự. Nên quyết định của tòa là hoàn toàn thuyết phục.
 1.6) Việc tòa án không để bà H là người giám hộ cho ông P có thuyết phục không?

Vì sao?
Việc tòa không để bà h là người giám hộ cho ông P là hoàn toàn thuyết phục. Vì theo
Khoản 1, Điều 53- Bộ luật Dân sự 2015 quy định:“Trường hợp vợ là người mất năng lực
hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân
sự thì vợ là người giám hộ.”
Vì vậy việc bà H là người giám hộ cho ông P là điều tất nhiên. Nhưng trong trường
hợp này bà H là người yêu cầu tòa án tuyên bố ông P là người khó khăn trong nhận thức,
chủ hành vi của mình nhằm mục đích để ly hôn. Nên tòa quyết định thay đổi để bà T làm
người giám hộ cho ông P.

 1.7) Việc Tòa án để bà T làm người giám hộ cho ông P có thuyết phục không? Vì

sao?
Việc Tòa án để bà T làm người giám hộ cho ông P có thuyết phục. Vì theo Khoản 1,
Điều 23- Bộ luật Dân sự quy định: “Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có


6

khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền,
nghĩa vụ của người giám hộ.”
Người giám hộ được Tòa án chỉ định và xác định quyền và nghĩa vụ. Trong trường
hợp trên bà T do người cần được dám hộ tức ông P chỉ định lựa chọn là người dám hộ
cho mình thì khi họ ở trạng thái cần được giám hộ và bà T cũng đồng ý làm người dám
hộ cho ông P.
 1.8) Với vai trò là người giám hộ, bà T được đại diện ông P trong giao dịch nào?

Vì sao?
Với vai trò là người giám hộ, bà T được đại diện ông P trong giao dịch dân sự. Vì
theo Điều 58-BLDS quy định tại khoản 1.c “đại diện cho người được giám hộ trong việc
xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp
luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ” và tại khoản 2
“người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có quyền theo
quyết định của Tòa án trong số các quyền quy định tại khoản 1 Điều này.”
Vì nhằm đảm bảo lợi ích của người được giám hộ, người giám hộ được đại diện ông P
trong những giao dịch dân sự.
 1.9) Suy nghĩ của anh/chị về chế định người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ

hành vi mới được bổ sung trong Bộ luật Dân sự 2015?
Theo tôi thấy, việc bổ sung nhóm “người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành
vi” sẽ đảm bảo tối đa quyền lợi cuả những người vốn khi sinh ra hoặc vì một lý do nào đó
họ không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, Bộ luật Dân sự 2015 đã
ghi nhận thêm người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thuộc diện được giám
hộ - đây được coi là điểm mới có giá trị, thể hiện được tính bao quát các trường hợp
người được giám hộ, góp phần bảo vệ tốt hơn các chủ thể là người yếu thế trong các giao
dịch dân sự. Chính vì thế đây được xem là một quy định mang tính tiến bộ. Tuy nhiên, vì
là một quy định mới nên hiện nay vẫn chưa
hướng dẫn cụ thể nào về giải quyết yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận
thức, làm chủ hành vi.


7

Vấn đề 2: TƯ CÁCH PHÁP NHÂN VÀ HỆ QUẢ PHÁP LÝ
Tóm tắt bản án: 1117/2012/LĐ-PT ngày 11/9/2012 của Toà án nhân dân TP.Hồ Chí Minh
Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc Hùng, bị đơn là cơ quan đại diện Bộ Tài nguyên và
Môi trường tại Thành phố hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Ngọc Hùng làm việc tại văn phòng
Bộ Tài nguyên và Môi trường và có ký hợp đồng lao động, công việc của ông là tuần tra,
canh gác, bảo vệ an toàn tài sản cơ quan,… Ngày 10/12/2008 ông và cơ quan ký phụ lục
hợp đồng thay đổi tên người sử dụng lao động là cơ quan đại diện Bộ Tài nguyên và Môi
trường. Ngày 11/3/2010 tại khu tập thể của cơ quan của Bộ xảy ra việc mất hai chiếc xe
gắn máy của ông Vũ và ông Dũng. Vì vậy cơ quan đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường
buộc ông phải bồi thường mỗi người 10 triệu đồng trừ vào số tiền làm thêm giờ của ông
và thông báo chấm dứt hợp đồng lao động vì ông không hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Ông không đồng ý và quyết định khởi kiện lên tòa.
 2.1) Những điều kiện để tổ chức được thừa nhận là một pháp nhân.

Theo quy định tại Điều 74- Bộ luật Dân sự năm 2015, thì một tổ chức có tư cách pháp
nhân phải đáp ứng các điều kiện sau:
Thứ nhất, “Được thành lập theo quy định của Bộ luật Dân sự và luật khác có liên
quan”: Pháp nhân không phải là một cá nhân mà phải là một tổ chức. Tổ chức này được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập và phải thành lập
theo trình tự, thủ tục luật định. Do đó, tổ chức được công nhận là có tư cách pháp nhân kể
từ ngày được cấp giấy chứng nhận thành lập. Chính tính hợp pháp của pháp nhân giúp
cho pháp nhân tham gia vào các quan hệ pháp luật và tồn tại dưới sự kiểm soát của nhà
nước- phù hợp với ý chí của nhà nước.
Thứ hai, “Có cơ cấu tổ chức theo quy định của Bộ luật Dân sự” tức là pháp nhân phải
là một tổ chức có cơ cấu quản lý chặt chẽ.
“ Pháp nhân phải có cơ quan điều hành. Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan
điều hành của pháp luật được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định
thành lập pháp nhân.”
“ Pháp nhân khác có cơ quan khác theo quyết định của pháp nhân hoặc theo quy định của
pháp luật.”
Do đó, để tổ chức thành pháp nhân, thì tổ chức đó phải có điều lệ hoặc quyết định
thành lập hợp pháp nhân. Trong đó, có quy định cụ thể về tổ chức, nhiệm vụ và quyền
hạn của cơ quan điều hành pháp nhân.


8

Thứ ba, “Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nghiệm
bằng tài sản của mình”: Pháp nhân là một chủ thể dân sự độc lập, để có thể thực hiện các
quyền và gánh vác nghĩa vụ khi tham gia vào các quan hệ dân sự, thì pháp nhân phải có
tài sản nhất định và độc lập. Tức là khối tài sản đó phải đảm bảo có đủ ba quyền năng là
quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt để không bị chịu sự chi phối ràng buộc của bất
kỳ thứ gì. Trách nghiệm của pháp nhân khi vi phạm nghĩa vụ không phải là do cơ quan,
tổ chức khác gánh vác và các thành viên của pháp nhân chỉ phải chịu trách nghiệm trong
phạm vi tài sản của mình góp.
Thứ tư, “Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập”: Pháp nhân
là một tổ chức độc lập, được quyền giao dịch, xác lập quyền và nghĩa vụ nên bắt buộc nó
có thể tự nhân danh chính mình. Điều kiện này cũng xuất phát từ điều kiện tự chịu trách
nghiệm bằng tài sản của mình. Việc sở hữu một khối tài sản riêng, pháp nhân có đủ khả
năng để hưởng, tự mình thực hiện các quyền và chịu nghĩa vụ khi tham gia các quan hệ
dân sự. Bên cạnh đó, các chủ thể thành lập pháp nhân khi thành lập đã chuyển quyền sở
hữu những tài sản mà mình muốn vào khối tài sản chung, do đó cần có một sự thống nhất
về măt ý chí trong việc sử dụng khối tài sản đó.

 2.2) Trong Bản án số 1117, theo Bộ tài nguyên và môi trường, Cơ quan đại diện

của Bộ tài nguyên và môi trường có tư cách pháp nhân không? Đoạn nào của Bản
án có câu trả lời.
Trong Bản án số 1117, theo Bộ tài nguyên và môi trường, Cơ quan đại diện của Bộ tài
nguyên và môi trường có tư cách pháp nhân, đoạn “Xét theo quyết định số 1364/QĐBTNMT ngày 8/7/2008... Cơ quan đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường thành phố
Hồ Chí Minh là đơn vị trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan đại diện
hạch toán báo sổ khi thực hiện dự toán, quyết toán phải theo phân cấp của Bộ, phụ
thuộc sự phân bổ ngân sách của Nhà nước và phân cấp của Bộ Tài nguyên và Môi
trường chứ không phải là một cơ quan hoạch toán độc lập. Mặc dù trong quyết định
1367 nói trên có nội dung “ Cơ quan đại diện có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài
khoản riêng” nhưng là Cơ quan đại diện Bộ phải hạch toán báo sổ nên cơ quan này có
tư cách pháp nhân nhưng là tư cách pháp nhân không đầy đủ.” có câu trả lời.


9

Vấn đề 3: TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA PHÁP NHÂN
Tóm tắt bản án: 10/2016/KDTM-PT ngày 17/3/2016 “V/v Tranh chấp hợp đồng mua
bán hàng hóa”:


Công ty Ngọc Bích (nguyên đơn) yêu cầu Công ty Xuyên Á (bị đơn) hanh toán số
tiền 77.000.752đ và tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản của nhà nước sau khi đã giao
hàng (gạch men). Ông Phong và bà Hiền (người đại diện cho Công ty Xuyên Á)
không đồng ý và đòi kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nhưng đồng ý trả cho
Công ty Ngọc Bích 36.170.500đ. Vì Công ty Xuyên Á đã giải thể và bà Hiền chỉ
góp vốn 26,05% và trước khi Công ty giải thể đã thực hiện xong tất cả các nghĩa
vụ.



Xét thấy Công ty Xuyên Á là một pháp nhân và bà Hiền là thành viên của pháp
nhân, theo Khoản 3 Điều 87 Bộ luật Dân sự quy định thì bà Hiền không phải chịu
trách nhiệm. Quyết định hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân
huyện Tri Tôn giải quyết lại vụ án.

 3.1) Trách nhiệm của pháp nhân đối với nghĩa vụ của các thành viên và trách

nhiệm của các thành viên đối với nghĩa vụ của pháp nhân.
_Trách nhiệm của pháp nhân: Khoản 1, 2 Điều 87-Bộ luật Dân sự 2015.
“Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự do người
đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân. Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự về
nghĩa vụ do sáng lập viên hoặc đại diện của xác lập viên xác lập, thực hiện để thành lập,
đăng ký pháp nhân, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy đinh khác”.
“Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình; không chịu trách nhiệm thay
chho người của pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do người của pháp nhân xác lập, thực
hiện không danh nhân pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác”.
_Trách nhiệm của các thành viên đối với pháp nhân: Khoản 3 Điều 87-Bộ luật Dân sự
2015.
“Người của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa
vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện, trừ trường hợp luật có quy định khác”.

 3.2) Trong bản án bình luận bà Hiền có phải là thành viên của Công ty Xuyên Á

không? Vì sao?


10

Bà Hiền là thành viên của Công ty Xuyên Á. Vì trước khi Công ty Xuyên Á giải thể
bà có góp số vốn là 26,05%.
 3.3) Nghĩa vụ đối với Công ty Ngọc Bích là nghĩa vụ của Công ty Xuyên Á hay

nghĩa vụ của bà Hiền? Vì sao?
Nghĩa vụ đối với Công ty Ngọc Bích là nghĩa vụ của Công ty Xuyên Á. Vì Công ty
Xuyên Á ký hợp đồng với Công ty Ngọc Bích với tư cách là một pháp nhân mà bà Hiền
chỉ là thành viên của pháp nhân, theo Khoản 3 Điều 87 Bộ luật Dân sự 2015 thì bà Hiền
không phải chịu trách nhiệm trước Công ty Ngọc Bích. Còn Công ty Xuyên Á phải chịu
trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập,
thực hiện nhân danh pháp nhân theo Khoản 1 Điều 87 Bộ luật Dân sự 2015.

 3.4) Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa cấp sơ thẩm và Tòa cấp

phúc thẩm liên quan đến nghĩa vụ của Công ty Ngọc Bích?
Hướng giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm: Tòa án chưa xem xét kĩ và để bỏ sót vài
chi tiết của bản án dẫn đến việc xét xử chưa thỏa đáng. Điều đó dẫn đến nhiều hậu quả
như tốn kém thời gian, tiền bạc… Khi giải quyết một vụ án cần xem xét kĩ các chi tiết, dù
là chi tiết nhỏ nhất để đưa ra phán quyết chính xác, công tâm.
Hướng giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm: Tòa án nhận ra những điểm sai sót của
Tòa sơ thẩm, xem lại và nghiên cứu bản án kĩ lưỡng, đó là những việc cần làm. Toàn án
đã làm việc và ra quyết định đúng đắn.

 3.5) Làm thế nào để bảo vệ quyền lợi của Công ty Ngọc Bích khi Công ty Xuyên Á

bị giải thể?
Đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ làm rõ lý do giải thể, thẩm định tài sản của Công ty
Xuyên Á khi giải thể để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tài sản của Công ty Xuyên Á sau khi tiến hành thanh toán lần lượt theo Khoản 1
Điều 95 Bộ luật Dân sự 2015 thì:
_Số tài sản còn lại của Công ty Xuyên Á sẽ chi trả cho Công ty Ngọc Bích.
_Nếu Công ty Xuyên Á không còn tài sản thì Công ty Ngọc Bích phải chịu thiệt số
tiền đó.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×