Tải bản đầy đủ

Bài thảo luận dân sự thứ hai

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
LỚP LUẬT THƯƠNG MẠI 44.A

BÀI THẢO LUẬN THỨ HAI
GIAO DỊCH DÂN SỰ
Giảng viên

: Th.s Nguyễn Tấn Hoàng Hải

Bộ môn

: Những quy định chung về luật dân sự

Họ và tên

: NGUYỄN THỊ THANH HÂN

MSSV

: 1953801011057


Lớp

: TM44A.2

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 03 năm 2020


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
- BLDS: Bộ luật dân sự
- CNQSD: Chứng nhận quyền sử dụng
- TAND: Tòa án nhân dân
- UBND: Ủy ban nhân dân


MỤC LỤC


Vấn đề 1: NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CHỦ THỂ TRONG
XÁC LẬP GIAO DỊCH
Tóm tắt Bản án số: 32/2018/DS-ST về “V/v Tranh chấp HĐCN Quyền sử dụng đất”
của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long:
Nguyên đơn là J Ph T (ông T) và A Th Ph (bà H) là hai người nước ngoài. Bị đơn là
bà Đồng, người Việt Nam. Năm 2004, vợ chồng nguyên đơn có mua đất của bị đơn
2 lần: ngày 31/5/2004, mua nền thổ cư 200m2, bị đơn đã lập giấy cho nền thổ cư cho
nguyên đơn; ngày 02/06/2004, bị đơn làm giấy nhường đất thổ cư cho nguyên đơn
(phần đất vườn diện tích 1.051,8m 2). Bà Đồng đã làm giấy cam kết về việc chuyển
nhượng nhà và đất cho nguyên đơn vào ngày 16/3/2011. Phía nguyên đơn khởi kiện
và yêu cầu bà Đồng phải trả toàn bộ phần đất và nhà như đã thỏa thuận, sau đó bên
nguyên đơn thay đổi yêu cầu để bà Đồng trả lại giá trị nhà và đất là 550.000.000
đồng, phía bà Đồng chỉ đồng ý trả 350.000.000 đồng. Trong phiên xét xử, Tòa án
chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1.1. So với BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 có gì khác về điều kiện có hiệu lực

của giao dịch dân sự? Suy nghĩ của anh/chị về sự thay đổi trên.
*BLDS 2005 quy định :
Điều 122. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:
1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp
luật, không trái đạo đức xã hội;


c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.
2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong
trường hợp pháp luật có quy định.
*BLDS 2015 quy định:
Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:
1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù
hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

4


b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm
của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch
dân sự trong trường hợp luật có quy định.
Như vậy, điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong Bộ luật dân sự 2015 có
những điểm mới và tiến bộ hơn so với Bộ luật dân sự 2005:
- Thứ nhất, về điều kiện chủ thể xác lập giao dịch:
Điểm a khoản 1 Điều 122 BLDS 2005 quy định “Người tham gia giao dịch có năng
lực hành vi dân sự” còn ở BLDS 2015, tại điểm a khoản 1 Điều 117 đã thay
bằng “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với
giao dịch dân sự được xác lập”. Như vây, Bộ luật dân sự 2015 không chỉ đề cập đến
năng lực hành vi dân sự mà còn đề cập đến năng lực pháp luật của chủ thể. Quy
định như vậy chặt chẽ hơn so với Bộ luật dân sự 2005 vì có những trường hợp năng
lực pháp luật của chủ thể có thể bị hạn chế do đó không thể mặc nhiên cho rằng mọi
chủ thể đều có năng lực pháp luật như nhau khi xác lập giao dịch dân sự.
- Thứ hai, Bộ luật dân sự 2015 quy định cụ thể về năng lực hành vi dân sự của chủ
thể khi tham gia giao dịch dân sự. Trong BLDS 2005, chủ thể chỉ cần có năng lực
hành vi dân sự thì đã xác lập được giao dịch, nhưng BLDS 2015 quy định
thêm “năng lực hành vi dân sự này phải phù hợp với giao dịch dân sự đã xác lập”.
Sự thay đổi này là phù hợp vì trên thực tế có rất nhiều loại giao dịch dân sự khác
nhau và mỗi giao dịch cụ thể lại liên quan đến năng lực hành vi dân sự cụ thể của
chủ thể. Pháp luật quy định người không có năng lực hành vi dân sự thì không được
xác lập giao dịch dân sự, người có năng lực hành vi dân sự nhưng không đầy đủ có
thể thực hiện một số giao dịch nhất định (thường là giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu
sinh hoạt hằng ngày), người có năng lực hành vi dân sự được xác lập mọi giao dịch
dân sự. Như vậy, tùy vào từng giao dịch dân sự cụ thể mà điều kiện về năng lực của
chủ thể cũng có sự khác nhau (hợp lý và chặt chẽ hơn so với quy định của Bộ luật
dân sự 2005).
- Thứ ba, về điều cấm của luật, ở điểm b khoản 1 Điều 122 BLDS 2005 quy
định: “Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật,
không trái đạo đức xã hội”, còn điểm b khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 thay “pháp
luật” thành “luật”. Việc thay đổi này nhằm làm hẹp lại điều cấm mà cá nhân có thể
mắc phải.
- Thứ tư, về hình thức của giao dịch dân sự, ở khoản 2 Điều 122 BLDS 2005 quy
định: “Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
trong trường hợp pháp luật có quy định” còn ở khoản 2 Điều 117 BLDS 2015 đã
đổi “pháp luật” thành “luật”.
5


=>Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về điều kiện có hiệu lực của giao
dịch dân sự đã thể hiện tư duy tiến bộ, mới mẻ của các nhà làm luật.
1.2. Đoạn nào của bản án trên cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu

nhà ở tại Việt Nam?
Ông T và bà H là người Việt Nam ở nước ngoài đã nhập quốc tịch Mỹ thì theo quy
định Luật đất đai 2003 và Điều 121 của Luật nhà ở năm 2005 thì người Việt Nam
định cư ở nước ngoài được quyền sở hữu nhà ở Việt Nam khi thỏa mãn các điều
kiện sau: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt Nam,
người có công đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hóa, nhà khoa học có nhu
cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất
nước, người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng khác do Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định được sở hữu nhà ở tại Việt Nam”, “Người Việt
Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện quy định này đã về Việt Nam cư trú
với thời hạn được phép từ sáu tháng trở lên được sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc
một căn hộ” do đó ông T và bà H không được quyền sở hữu quyền sử dụng đất ở
nông thôn và đất trồng cây lâu năm tại Việt Nam.
1.3. Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ

đã bị Tòa án tuyên bố vô hiệu?
Đoạn của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ đã bị Tòa án
tuyên bố vô hiệu: Vô hiệu giấy cho nền thổ cư ngày 31/05/2004, giấy nhường đất
thổ cư ngày 02/06/2004, giấy cam kết ngày 16/03/2004 mà các bên đã xác lập do vi
phạm điều cấm của pháp luật.
1.4. Suy nghĩ của anh/chị (trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của chủ

thể) về căn cứ để Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu?
Năng lực chủ thể bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Ông T, bà H là
người nước ngoài nên năng lực pháp luật sẽ khác so với bà Đồng (công dân Việt
Nam). Với Điều 5 Luật đất đai 2013 có thể thấy: người nước ngoài không có quyền
sở hữu về nhà ở nên không được phép mua bán nhà ở tại Việt Nam, trừ trường hợp
quy định tại Điều 125 Luật nhà ở 2014. Nên giao dịch trên, Tòa án tuyên bố vô hiệu
là hợp lý.

6


Vấn đề 2: GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG

NHẬN THỨC
Tóm tắt Quyết định Giám đốc thẩm số: 329/2013/DS-GĐT ngày 25/7/2013 về: “Vụ
án Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất” của Tòa
dân sự Tòa án nhân dân tối cao:
Chị Ánh (nguyên đơn) có cha là ông Hội, mẹ là bà Hương (bị đơn). Cha mẹ chị có
một ngôi nhà gắn liền với quyền sử dụng 167,3m 2 đất. Năm 2007, ông Hội bị tai
biến nằm liệt một chỗ không nhận thức được. Ngày 08/02/2010, bà Hương đã bán
căn nhà và diện tích đất như trên cho vợ chồng ông Hùng. Ngày 10/08/2010, Tòa án
tuyên bố cha chị Ánh mất năng lực hành vi dân sự. Ngày 7/3/2011, Chị Ánh khởi
kiện yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng mua bán giữa cha mẹ chị với vợ chồng ông
Hùng. Tòa án cấp sơ thẩm hủy toàn bộ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
còn Tòa án cấp phúc thẩm công nhận toàn bộ hợp đồng mua bán nhà gắn liền quyền
sử dụng đất. Xét thấy sai sót, Tòa án nhân dân tối cao hủy cả 2 bản án sơ thẩm và
phúc thẩm nêu trên để giao hồ sơ vụ án về TAND thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
xét xử lại.
2.1. Những điểm mới của BLDS 2015 (so với BLDS 2005) về điều kiện có hiệu lực

của giao dịch dân sự và suy nghĩ của anh/chị về những điểm mới này.
*BLDS 2005 quy định :
Điều 122. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:
1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp
luật, không trái đạo đức xã hội;
c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.
2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong
trường hợp pháp luật có quy định.
*BLDS 2015 quy định:
Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:
1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

7


a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù
hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm
của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch
dân sự trong trường hợp luật có quy định.
Như vậy, điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong Bộ luật dân sự 2015 có
những điểm mới và tiến bộ hơn so với Bộ luật dân sự 2005:
- Thứ nhất, về điều kiện chủ thể xác lập giao dịch:
Điểm a khoản 1 Điều 122 BLDS 2005 quy định “Người tham gia giao dịch có năng
lực hành vi dân sự” còn ở BLDS 2015, tại điểm a khoản 1 Điều 117 đã thay
bằng “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với
giao dịch dân sự được xác lập”. Như vây, Bộ luật dân sự 2015 không chỉ đề cập đến
năng lực hành vi dân sự mà còn đề cập đến năng lực pháp luật của chủ thể. Quy
định như vậy chặt chẽ hơn so với Bộ luật dân sự 2005 vì có những trường hợp năng
lực pháp luật của chủ thể có thể bị hạn chế do đó không thể mặc nhiên cho rằng mọi
chủ thể đều có năng lực pháp luật như nhau khi xác lập giao dịch dân sự.
- Thứ hai, Bộ luật dân sự 2015 quy định cụ thể về năng lực hành vi dân sự của chủ
thể khi tham gia giao dịch dân sự. Trong BLDS 2005, chủ thể chỉ cần có năng lực
hành vi dân sự thì đã xác lập được giao dịch, nhưng BLDS 2015 quy định
thêm “năng lực hành vi dân sự này phải phù hợp với giao dịch dân sự đã xác lập”.
Sự thay đổi này là phù hợp vì trên thực tế có rất nhiều loại giao dịch dân sự khác
nhau và mỗi giao dịch cụ thể lại liên quan đến năng lực hành vi dân sự cụ thể của
chủ thể. Pháp luật quy định người không có năng lực hành vi dân sự thì không được
xác lập giao dịch dân sự, người có năng lực hành vi dân sự nhưng không đầy đủ có
thể thực hiện một số giao dịch nhất định (thường là giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu
sinh hoạt hằng ngày), người có năng lực hành vi dân sự được xác lập mọi giao dịch
dân sự. Như vậy, tùy vào từng giao dịch dân sự cụ thể mà điều kiện về năng lực của
chủ thể cũng có sự khác nhau (hợp lý và chặt chẽ hơn so với quy định của Bộ luật
dân sự 2005).
- Thứ ba, về điều cấm của luật, ở điểm b khoản 1 Điều 122 BLDS 2005 quy
định: “Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật,
không trái đạo đức xã hội”, còn điểm b khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 thay “pháp
luật” thành “luật”. Việc thay đổi này nhằm làm hẹp lại điều cấm mà cá nhân có thể
mắc phải.

8


- Thứ tư, về hình thức của giao dịch dân sự, ở khoản 2 Điều 122 BLDS 2005 quy
định: “Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
trong trường hợp pháp luật có quy định” còn ở khoản 2 Điều 117 BLDS 2015 đã
đổi “pháp luật” thành “luật”.
=>Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về điều kiện có hiệu lực của giao
dịch dân sự đã thể hiện tư duy tiến bộ, mới mẻ của các nhà làm luật.
2.2. Từ thời điểm nào ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức và từ thời

điểm nào ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?
- Năm 2007, ông Hội bị tai biến nằm liệt một chỗ không nhận thức được.
- Ngày 07/05/2010, ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.
2.3. Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau khi

ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự?
Ngày 08/02/2010, vợ chồng ông Hội bà Hương đã bán căn nhà cho vợ chồng ông
Hùng, bà Trinh với giá 580.000.000 đồng. Nhưng đến ngày 07/05/2010, ông Hội
mới bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.
Vì vậy, giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước khi ông Hội
bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự.
2.4. Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội có vô hiệu

không? Vì sao? Trên cơ sở quy định nào?
Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội bị vô hiệu, vì:
- Từ năm 2007, ông Hội bị tai biến nằm liệt một chỗ không nhận thức được
- Cơ sở pháp lý: Điều 130 BLDS 2005 quy định: “Khi giao dịch dân sự do người
chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó,
Toà án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này
phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện.”
2.5. Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hoàn cảnh của ông Hội không?

Tòa án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà anh chị
biết.
- Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc giống hoàn cảnh của ông Hội: Bản án số
941/2006/DS-ST ngày 01/09/2006 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh1.
- Hướng giải quyết của Tòa án với vụ việc này: Tuyên bố GDDS vô hiệu toàn bộ do
vi phạm quy định tại Điều 133 BLDS 2005 (Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác
lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình)
1 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, Nxb. Hồng

Đức-Hội luật gia Việt Nam 2018 (xuất bản lần thứ 7), Bản án số 56-68.
9


Tóm tắt: Vào ngày 19/09/2003, ông Tịch đến Phòng công chứng ký hợp đồng tặng
cho một căn nhà cho bà Nga. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 40/DSST ngày
17/11/2003, TAND quận 3 TP.HCM đã quyết định tuyên bố ông Tịch mất năng lực
hành vi dân sự. Như vậy, ông Tịch xác lập hợp đồng trước ngày Tòa án tuyên bố
ông Tịch mất năng lực hành vi dân sự. Trên cơ sở thẩm tra, Tòa án TP HCM nhận
định ông Tịch đã có một quá trình dài bị bệnh tâm thần phải điều trị liên tục từ năm
2000. Điều đó cũng có nghĩa là ông Tịch xác lập hợp đồng sau khi thực tế bị mất
năng lực hành vi dân sự. Trên cơ sở nhận định này, Tòa án đã tuyên bố hợp đồng
tặng cho giữa ông Tịch và bà Nga vô hiệu.
2.6. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong

vụ việc trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp lý
khi đưa ra hướng xử lý.
Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc trên (liên quan đến giao
dịch do ông Hội xác lập) là hợp lý:
- Công nhận quyền khởi kiện của chị Ánh trong giao dịch chuyển nhượng quyền sử
dụng đất của ông Hội, bà Hương cho ông Hùng, bà Trinh. Ông Hội bị Tòa án tuyên
mất năng lực hành vi dân sự kể từ ngày 07/05/2010. Ngày 10/08/2010, chị Ánh
được mọi người thống nhất cử làm người đại diện cho ông Hội và là người thừa kế
quyền và nghĩa vụ của ông Hội. Do đó chị Hương có quyền khởi kiện theo quy định
tại Điều 130 BLDS 2005.
- Cần xác minh làm rõ phần diện tích 43,7m2 đất (chưa được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và không có trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
ngày 08/02/2010) có đăng ký kê khai và có đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất không. Theo biên bản định giá ngày 30/06/2010 của Tòa án nhân
dân thành phố Tuy Hòa, thì ngoài diện tích 120m 2 đất ông Hội, bà Hương đã được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trên đất có nhà diện tích 56,7m, móng
đá, tường gạch, mái tôn cao 3m và vật kiến trúc khác nhưng không có trong hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/02/2010 giữa vợ chồng ông Hội,
bà Hương với vợ chồng ông Hùng, bà Trinh.
- Hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm số 35/2012/DSPT ngày 10/07/2012 của Tòa
án nhân dân tỉnh Phú Yên và bản án dân sự sơ thẩm số 98/2011/DSST ngày
22/12/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên về vụ án “Tranh
chấp hợp đồng mua bán nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là
chị Ánh với bị đơn là bà Hương và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ
thẩm lại theo quy định của pháp luật.
- Nêu ra sự sai sót của hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm.
2.7. Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó

có bị vô hiệu không? Vì sao?

10


Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì về bản chất nó sẽ làm
phát sinh thêm quyền và lợi ích cho ông Hội. Theo Khoản 2 Điều 141 BLDS 2015
quy định: “Trường hợp không xác định được cụ thể phạm vi đại diện theo quy định
tại khoản 1 Điều này thì người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện
mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có
quy định khác”. Như vậy, trong trường hợp này nếu giao dịch có tranh chấp là giao
dịch tặng cho ông Hội thì chị Ánh (người đại diện cho ông Hội) sẽ có quyền xác lập
và thực hiện giao dịch này, nếu chị đồng ý xác lập thì giao dịch này vẫn có hiệu lực.

11


Vấn đề 3: GIAO DỊCH XÁC LẬP DO CÓ LỪA DỐI
*Tóm tắt Quyết định Giám đốc thẩm số 521/2010/DS-GĐT ngày 19/08/2010 về vụ
án: “Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà” của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.
*Tóm tắt quyết định giám đốc thẩm số: 210/2013/DS-GĐT ngày 21/05/2013 về
“V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” của Tòa án nhân dân
tối cao:
Bà Nhất (nguyên đơn) và ông Dưỡng (bị đơn) có 5 lô đất, trong đó ông Dưỡng đứng
tên lô 1, bà Nhất đứng tên lô 2. Trong khi chờ cấp giấy CNQSD đất thì bà Nhất đi
Đài Loan. Năm 2003, ông Dưỡng đã chuyển nhượng cho ông Tài (2 lô), trong đó có
1 lô bà Nhất đứng tên nên ông Dưỡng ký tên bà Nhất để mang tên giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho ông Tài. Tháng 08/2007, bà Nhất biết ông Dưỡng bán đất.
Ngày 13/12/2010, bà Nhất làm đơn khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa bà với ông Tài. Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố vô hiệu hợp
đồng trên còn tòa án cấp phúc thẩm thì công nhận hợp đồng trên. Xét thấy sai sót,
Tòa án nhân dân tối cao hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án
về Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm lại vụ án.
3.1.

Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu do có lừa dối theo BLDS
2005 và BLDS 2015.

* BLDS 2005: Điều 132 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối như sau:
Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có
quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ
ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng
hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
* BLDS 2015: Điều 127 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối như sau:
Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa,
cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô
hiệu.
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của
người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của
đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch
đó.
3.2. Đoạn nào của Quyết định số 521 cho thấy thỏa thuận hoán nhượng đã bị tuyên

vô hiệu do có lừa dối?
Đoạn cho thấy thỏa thuận hoán nhượng đã bị tuyên vô hiệu do có lừa dối của Quyết
định số 521: “Việc anh Vinh và người liên quan (ông Trần Bá Toàn, bà Trần Thị Phú
Vân - họ hàng của anh Vinh) không thông báo cho ông Đô, bà Thu biết tình trạng về
12


nhà, đất mà các bên thỏa thuận hoán đổi đã có Quyết định thu hồi, giải tỏa, đền bù
(căn nhà đã có quyết định tháo dỡ do xây dựng trái phép từ năm 1998 nên không
được bồi thường giá trị căn nhà; còn thửa đất bị thu hồi thì không đủ điều kiện để
mua nhà tái định cư theo Quyết định 135/QĐ-UB ngày 21/11/2002) là có sự gian
dối. Mặt khác, tại bản “Thỏa thuận hoán nhượng” không có chữ ký của ông Đô
(chồng bà Thu) và là người cùng bà Thu bán căn nhà 115/7E Nguyễn Kiệm, quận
Gò Vấp cho bà Phố (mẹ của anh Vinh). Do vậy, giao dịch “Thỏa thuận hoán
nhượng” giữa anh Vinh và bà Thu vô hiệu nên phải áp dụng điều 132-BLDS đề giải
quyết”.
3.3. Hướng giải quyết trên đã có tiền lệ chưa? Nếu có tiền lệ, nêu vắn tắt tiền lệ

anh/chị biết.
Hướng giải quyết trên chưa có tiền lệ.
3.4. Hướng giải quyết trên có còn phù hợp với BLDS năm 2015 không? Vì sao?

Hướng giải quyết trên còn phù hợp với BLDS 2015 vì theo điều 127 BLDS 2015 về
giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép quy định: “Khi một bên
tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu
cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu”. Theo Quyết định số 521: “Việc
anh Vinh và người liên quan (ông Trần Bá Toàn, bà Trần Thị Phú Vân - họ hàng của
anh Vinh) không thông báo cho ông Đô, bà Thu biết tình trạng về nhà, đất mà các
bên thỏa thuận hoán đổi đã có Quyết định thu hồi, giải tỏa, đền bù (căn nhà đã có
quyết định tháo dỡ do xây dựng trái phép từ năm 1998 nên không được bồi thường
giá trị căn nhà; còn thửa đất bị thu hồi thì không đủ điều kiện để mua nhà tái định
cư theo Quyết định 135/QĐ-UB ngày 21/11/2002) là có sự gian dối. Mặt khác, tại
bản “Thỏa thuận hoán nhượng” không có chữ ký của ông Đô (chồng bà Thu) và là
người cùng bà Thu bán căn nhà 115/7E Nguyễn Kiệm, quận Gò Vấp cho bà Phố
(mẹ của anh Vinh). Vì vậy, với những tình tiết trên thì việc áp dụng BLDS 2015 vẫn
còn phù hợp, cụ thể là Điều 127.
3.5. Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, ai được yêu cầu và ai không được yêu

cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng có tranh chấp vô hiệu?
Trong Quyết định số 210, theo Tòa án thì: Bà Nhất không được yêu cầu Tòa án
tuyên bố hợp đồng có tranh chấp vô hiệu. Bởi lẽ theo quy định của BLDS 1995 và
BLDS 2005 bà Nhất không phải là một bên tham gia giao dịch với ông Tài nên bà
Nhất không có quyền khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất vô hiệu do bị lừa dối. Trường hợp này chỉ có ông Tài mới có quyền
khởi kiện tuyên bố Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, nếu ông Tài
không biết việc ông Dưỡng giả mạo chữ ký của bà Nhất khi tiến hành giao kết hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
3.6. Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp

đồng vô hiệu do lừa dối có còn không? Vì sao?

13


- Trong quyết định số 210, theo Tòa án, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng
vô hiệu do lừa dối đó không còn. Vì theo khoản 1 điều 142 BLDS 2005 qui định
thời hiệu khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
vô hiệu do bị lừa dối là 1 năm. Khoản 1 điều 136 BLDS 2005 quy định thời hiệu
yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu 2 năm kể từ ngày giao dịch
được xác lập, còn điều 159 BLTTDS qui định trong trường hợp pháp luật không có
qui định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là 2 năm , kể từ ngày người có quyền
khởi kiện biết được quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm.
- Bà Nhất khai năm 2007 vợ chồng ly hôn bà mới biết ông Dương giả chữ ký của bà
để chuyển nhượng đất cho ông Tài, nhưng đến 13/12/2010 bà Nhất mới khởi kiện.
Cho nên đã hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối.
3.7. Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do

lừa dối, Tòa án có công nhận hợp đồng không? Vì sao?
Thời điểm bà Nhất khởi kiện là 13/12/2010 nên sẽ áp dụng theo BLDS 2005. BLDS
2005 chỉ quy định về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu,
mà không quy định về kết quả của giao dịch dân sự khi đã hết thời hiệu khởi kiện.
Đối với trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa
dối thì Tòa án sẽ không xem xét thụ lý vụ án nữa, nghĩa là Tòa án vẫn công nhận
hợp đồng.
3.8. Câu trả lời cho các câu hỏi trên có khác không nếu áp dụng các quy định tương

ứng của BLDS 2015 vào tình tiết như trong Quyết định số 210?
- Về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp động vô hiệu do lừa dối có còn không?
Theo khoản 1 Điều 132 BLDS 2015 thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch
dân sự vô hiệu đối với các giao dịch dân sự được xác lập do bị lừa dối là hai năm,
kể từ ngày người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập
do bị lừa dối. Bà Nhất khai năm 2007 vợ chồng ly hôn bà mới biết ông Dương giả
chữ ký của bà để chuyển nhượng đất cho ông Tài, nhưng đến 10/12/2010 bà Nhất
mới khởi kiện. Từ thời điểm biết giao dịch xác lập do lừa dối vào năm 2007 đến
thời điểm khởi kiện 10/12/2010 là đã quá 2 năm cho nên theo BLDS 2015 thì đã hết
thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối.
- Về vấn đề hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu Tòa án có công nhận hợp
đồng không, khoản 2 Điều 132 BLDS 2015 đã quy định: “Trong trường hợp nếu hết
thời hiệu hai năm nói trên mà các bên chủ thể không có yêu cầu Tòa án tuyên bố
giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực”. Như vậy áp dụng BLDS
2015 thì Tòa án công nhận hợp đồng.
3.9. Quay trở lại vụ việc trong phần nhầm lẫn, vì sao Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu

do nhầm lẫn mà không tuyên hợp đồng vô hiệu do lừa dối?
(Không tìm thấy vụ việc phần nhầm lẫn)
3.10.

Suy nghĩ của anh/chị về hướng tuyên nêu trên của Tòa án.
14


Hướng tuyên nêu trên của Tòa án là hợp lý. Tòa án đã dựa trên cơ sở pháp lý là
BLDS 2005 để đưa ra quyết định. Cụ thể ở Điều 132 BLDS 2005 về Giao dịch dân
sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa có quy định: "Khi một bên tham gia giao dịch dân
sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân
sự đó là vô hiệu. Từ quy định trên ta có thể hiểu là chỉ người tham gia giao dịch dân
sự do bị lừa dối mới có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó vô hiệu.
Trong tình huống của bà Nhất, thì bà Nhất không phải là một bên tham gia giao dịch
nên bà Nhất không có quyền khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất vô hiệu do bị lừa dối.

15


Vấn đề 4: HẬU QUẢ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU
*Tóm tắt Quyết định số 26/2013/KDTM-GĐT ngày 13-08-2013 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
Công ty Orange (doanh nghiệp nước ngoài, không có cơ quan đại diện tại Việt
Nam) là nguyên đơn và bị đơn là Công ty Phú Mỹ (doanh nghiệp thành lập theo
pháp luật Việt Nam, trụ sở tại Việt Nam) đã ký hợp đồng dịch vụ. Hợp đồng có đính
kèm quy định về “phạm vi công việc” và phí dịch vụ. Sau khi hoàn thành công việc
mà không được thanh toán lần 3, Công ty Orange khởi kiện yêu cầu chấm dứt hợp
đồng và buộc Công ty Phú Mỹ thanh toán số tiền cùng lãi suất chậm. Tòa án nhân
dân tỉnh Bình Dương và Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP.HCM đều
quyết định chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét thấy sai sót,
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và
phúc thẩm và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử sơ
thẩm lại.
*Tóm tắt Quyết định giám đốc thẩm số 75/2012/DS-GĐT ngày 23-02-2012 về
“Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” của Tòa án nhân dân tối
cao:
Anh Dư (bị đơn) và chị Chúc có một mảnh đất 100m 2 đã chuyển nhượng quyền sử
dụng đất cho ông Sanh (nguyên đơn) vào ngày 25/06/2006. Hai bên có lập giấy
“chuyển nhượng đất” và giấy “chuyển nhượng đất thổ cư và nhận tiền” đều được
Ủy ban nhân dân xã xác nhận. Khi ông Sanh yêu cầu hoàn tất hợp đồng chuyển
nhượng thì vợ chồng anh Dư không thực hiện. Ngày 27/08/2009, ông Sanh khởi
kiện đề nghị Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
ông với vợ chồng anh Dư là hợp pháp. Tòa án cấp sơ thẩm đã công nhận hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất của giữa ông Sanh với anh Dư, chị Chúc còn Tòa
án cấp phúc thẩm giao dịch dân sự trên là vô hiệu. Xét thấy sai sót, Tòa án nhân dân
tối cao hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án lại cho Tòa cấp sơ thẩm
xét xử lại.
*Tóm tắt Bản án số 133/2017/DSPT ngày 15/05/2017 về việc Yêu cầu “Hủy hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” của Tòa
án nhân dân cấp cao tại Hà Nội:
Nguyên đơn là ông Văn và bà Tằm, bị đơn là anh Dậu (con trai nguyên đơn). Vợ
chồng nguyên đơn có 350m2 đất và đã làm hồ sơ tặng đất cho các con nhưng gia
đình chưa tách trích lục. Năm 2008, anh Dậu đã mượn lục trích đất để bí mật làm
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Lúc bà Tằm đi vắng, anh Dậu đã lừa
ông Văn ký vào giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nói đó là hợp đồng vay
ngân hàng làm ăn đồng thời ông Văn cũng ký thay cho bà Tằm. Sau đó, anh Dậu
làm giấy CNQSD đất thành 3 hợp đồng tặng. Phát hiện lừa dối, ông bà Văn đã khởi
kiện yêu cầu hủy 3 hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, giấy CNQSD đất trái
pháp luật, buộc trả lại cho ông bà 350m 2 đất. Tòa sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu
16


khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội quyết định giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
4.1.

Giao dịch dân sự vô hiệu có làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên
không? Nêu cơ sở pháp lý để trả lời.

- Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
- Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 131 BLDS 2015 quy định: “Giao dịch dân sự vô
hiệu không thể làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các
bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập”
4.2. Trên cơ sở BLDS, khi xác định Hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì Công ty Phú Mỹ

có phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng
công việc mà Công ty Orange đã thực hiện không? Vì sao?
Theo BLDS thì khi xác định Hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì Công ty Phú Mỹ buộc
phải nhanh chóng thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối
lượng công việc mà công ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng. Vì
theo khoản 2 Điều 131 BLDS 2015: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi
phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không
thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.”
4.3.

Hướng giải quyết của Hội đồng thẩm phán về khối lượng công việc mà Công
ty Orange đã thực hiện như thế nào?

Với khối lượng công việc mà công ty Orange đã thực hiện thì Hội đồng thẩm phán
đã đưa ra hướng giải quyết là: “Nếu xác định Hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì phải
buộc Công ty Phú Mỹ phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng
với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận tại hợp
đồng. Còn nếu Hợp đồng dịch vụ là hợp pháp thì phải buộc Công ty Phú Mỹ phải
thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà
Công ty Orange đã thực hiện theo thỏa thuận tại hợp đồng cùng tiền lãi suất do
chậm thanh toán theo quy định của pháp luật.”
4.4.

Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Hội đồng thẩm phán liên
quan tới khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện khi xác định
hợp đồng vô hiệu.

Hướng giải quyết trên của Hội đồng thẩm phán liên quan tới khối lượng công việc
mà Công ty Orange đã thực hiện khi xác định hợp đồng vô hiệu là hợp lý. Vì:
Công ty Orange đã hoàn tất và bàn giao cho Công ty Phú Mỹ CD và bộ bản vẽ chi
tiết của Dự án theo đúng khối lượng và tiến độ công việc như đã cam kết trong hợp
đồng. Theo khoản 1 Điều 131 của BLDS 2015 “Giao dịch dân sự vô hiệu không
làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời
điểm giao dịch được xác lập.” và khoản 2 “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên
khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp
17


không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả”. Vì vậy, có
nghĩa là Công ty Phú Mỹ có nghĩa vụ phải thanh toán số tiền còn lại cho Công ty
Orange ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện theo thỏa
thuận hợp đồng.
4.5.

Hướng xử lý của Hội đồng thẩm phán đối với khối lượng công việc mà Công
ty Orange đã thực hiện như thế nào khi xác định hợp đồng dịch vụ không vô
hiệu? Nội dung xử lý khác với trường hợp xác định hợp đồng dịch vụ vô hiệu
như thế nào? Suy nghĩ của anh/chị về chủ đề này như thế nào?

- Trường hợp xác định hợp đồng dịch vụ không vô hiệu, Hội đồng thẩm phán phải
buộc Công ty Phú Mỹ phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng
với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện theo thoả thuận tại hợp
đồng cùng tiền lãi suất do chậm thanh toán theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp xác định hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì Hội đồng thẩm phán phải buộc
Công ty Phú Mỹ chỉ phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với
khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện theo thoả thuận tại hợp đồng.
4.6. Trong Quyết định số 75, vì sao Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác định

hợp đồng vô hiệu?
Theo Quyết định số 75 thì khi ông Sanh yêu cầu hoàn tất hợp đồng chuyển nhượng
theo quy định của pháp luật thì vợ chồng anh Dư, chị Chúc không thực hiện và khi
Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc đã có quyết định gia hạn để các bên thực hiện quy
định về hình thức của hợp đồng thì vợ chồng anh Dư, chị Chúc cũng không thực
hiện. Theo khoản 2 Điều 117 BLDS 2015: “Hình thức của giao dịch dân sự là điều
kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định”. Vợ chồng
anh Dư, chị Chúc không chịu hợp tác để hoàn thiện các thủ tục về hình thức của
hợp đồng khiến cho hợp đồng chuyển nhượng không đáp ứng được điều kiện về
hình thức. Tòa án nhân dân tối cao xác định hợp đồng vô hiệu là do hợp đồng không
tuân thủ quy định về hình thức.
4.7. Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác định hợp

đồng vô hiệu trong quyết định trên.
Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác định hợp đồng vô hiệu là phù hợp và thuyết
phục. Anh Dư, chị Chúc không hợp tác để hoàn thiện thủ tục về hình thức của hợp
đồng, có căn cứ để khẳng định hợp đồng không đáp ứng được điều kiện về hình
thức cho nên việc tuyên vô hiệu là đúng và phù hợp với quy định của luật.
4.8.

Với thông tin trong Quyết định số 75 và pháp luật hiện hành, ông Sanh sẽ
được bồi thường thiệt hại bao nhiêu? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

- Theo Quyết định số 75 thì khi ông Sanh yêu cầu hoàn tất hợp đồng chuyển
nhượng theo quy định của pháp luật thì vợ chồng anh Dư, chị Chúc không thực hiện
và khi Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc đã có quyết định gia hạn để các bên thực
hiện quy định là hình thức của hợp đồng thì vợ chồng anh Dư, chị Chúc cũng không
18


thực hiện. Theo khoản 2 Điều 117 BLDS 2015 thì: Hình thức của giao dịch dân sự
là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.
Như vậy do vợ chồng anh Dư, chị Chúc không chịu hợp tác để hoàn thiện các thủ
tục về hình thức của hợp đồng, hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu do không tuân thủ
quy định về hình thức.
- Khoản 2 Điều 131 BLDS 2015 quy định: Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên
khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; Trường hợp
không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả. Khoản 4
Điều 131 BLDS 2015 quy định: Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
- Hợp đồng vô hiệu là do lỗi của anh Dư và chị Chúc, ông Sanh không có lỗi. Cho
nên anh Dư và chị Chúc phải bồi thường cho ông Sanh, “anh Dư, chị Chúc sẽ phải
chịu bồi thường toàn bộ thiệt hại cho ông Sanh tương đương với phần giá trị hợp
đồng đã thanh toán”2. Ông Sanh đã thanh toán cho vợ chồng anh Dư, chị Chúc số
tiền 160.000.000đ, vợ chồng anh Dư chị Chúc phải hoàn trả cho ông Sanh những gì
đã nhận nghĩa là vợ chồng anh Dư, chị Chúc phải bồi thường cho ông Sanh số tiền
160.000.000đ.
4.9.

Trong bản án số 133, Tòa án quyết định hủy giấy chứng nhận cấp cho anh
Đậu và ghi nhận cho ông Văn, bà Tằm quyền liên hệ với cơ quan có thẩm
quyền để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có là hệ quả của
giao dịch dân sự không? Vì sao?

Trong bản án số 133, Tòa án quyết định hủy giấy chứng nhận cấp cho anh Đậu và
ghi nhận cho ông Văn, bà Tằm quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được
cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chính là hệ quả của giao dịch dân sự. Vì
quyết định này phù hợp với Điều 131 BLDS 2015 nói về hậu quả pháp lý của giao
dịch dân sự vô hiệu được thể hiện ở khoản 2 Điều này như sau: “Khi giao dịch dân
sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì
đã nhận”. Do “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” bị
vô hiệu nên dẫn đến hậu quả là anh Dậu phải trả lại toàn bộ phần đất được cho từ
ông Văn, bà Tằm.

2 Quyết định số 75/2012/DS-GĐT ngày 23/02/2012 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×