Tải bản đầy đủ

Vấn đề xuất khẩu thủy hải sản ở Việt Nam sang Hoa Kỳ hiện nay

Chương I. Lời mở đầu và tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1. Lời mở đầu
Kể từ sau Đại hội Đảng lần thứ 6 năm 1986, Đảng Cộng Sản Việt
Nam đã xác định nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch
hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lí
của nhà nước. Điều này đã mở ra một chân trời mới, một cơ hội mới cho
nền kinh tế của nước ta trong công cuộc hội nhập vào nền kinh tế khu
vực cũng như nền kinh tế thế giới.
Với bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới cùng với tự do hóa
thương mại đang diễn ra một cách mạnh mẽ đã tạo ra rất nhiều điều
kiện thuận lợi cho các nước đang phát triển như chúng ta đặc biệt là về
mặt xuất khẩu…Do đó, là một ngành mũi ngọn, đóng vai trò quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân, sản xuất tăng trưởng nhanh, kim ngạch xuất
khẩu không ngừng gia tăng với nhịp độ cao, thị trường luôn được mới
rộng, thu hút nhiều lao động góp phần cân bằng cán cân xuất nhập khẩu,
ngành sản xuất các mặt hàng thủy sản đang được nhà nước quan tâm
đầu tư phát triển mạnh.
Xuất khẩu nói chung và xuất khẩu mặt hàng thủy sản vào thị
trường Hoa Kỳ nói riêng, là một trong những hoạt động quan trọng của
đất nước và ngành thủy sản. Bên cạnh những thuận lợi, điểm mạnh mà
ngành sản xuất thủy sản tại Việt Nam nói chung, các doanh nghiệp xuất

khẩu mặt hàng này nói riêng thì ta không thể không nhắc đến những khó
khăn, trở ngại mà ngành xuất khẩu này nước ta gặp phải trong nền kinh
tế toàn cầu luôn tồn tại những biến động bất thường. Vậy đâu là những
biến động thực tế phát sinh trong ngành? Đâu là những thuận lợi, khó
khan chính mà các doanh nghiệp xuất thủy sản đang mắc phải? Và liệu
có những giải pháp gì cho vẫn đề này?
1.1. Mục đích nghiên cứu

o Thông qua các số liệu thống kê, đưa ra cho ta một cái nhìn tổng quát về kim
ngạch xuất khẩu, tốc độ tăng trưởng; cơ cấu mặt hàng trong thị trường xuất


khẩu mặt hàng thủy sản của nước ta nói chung và xuất khẩu sang Hoa Kỳ nói
riêng

o Đồng thời phân tích những chính sách nhập khẩu của Hoa Kỳ, đưa ra những ưu
điểm và hạn chế, giải pháp để phát triển ngành xuất khẩu mặt hàng thủy sản
tại Việt Nam
1.2. Đối tượng nghiên cứu

o Chủ yếu phân tích về tình hình thực tế của thị trường xuất khẩu mặt hàng thủy
sản của nước ta (Việt Nam) sang Hoa Kỳ
o Nghiên cứu và phân tích về các số liệu cơ bản như: kim ngạch xuất khẩu, tốc độ
tăng trưởng, cơ cấu mặt hàng, kênh phân phối, giá cả, đối thủ cạnh tranh cùng
với chính sách quản lí về xuất nhập khẩu của Hoa Kỳ cũng như Việt Nam.
1.3. Phạm vi nghiên cứu

o Về không gian:
Nghiên cứu và phân tích về tình hình xuất khẩu sản phẩm thủy sản của
Việt Nam sang Hoa Kỳ trong phạm vi Việt Nam, Hoa Kỳ.
1.4. Nội dung nghiên cứu

o Nghiên cứu thực trạng xuất khẩu sản phẩm thủy sản và chủ yếu là xuất khẩu
sang Hoa Kỳ của nước ta
o Phân tích thực trạng xuất khẩu sản phẩm thủy sản từ số liệu qua các năm.
o Nghiên cứu và phân tích các chính sách quản lí về xuất nhập khẩu sản phẩm
thủy sản của Hoa Kỳ cũng như Việt Nam
1.5. Nhiệm vụ nghiên cứu

o Thông qua các số liệu và phân tích, tạo cơ sở cho việc đánh giá lại tình hình xuất


khẩu sản phẩm thủy sản hiện nay của Việt Nam.
o Đồng thời, thông qua các phân tích và đánh giá trên, tạo nền tảng cho việc đưa
ra các hướng đi mới trong thị trường xuất khẩu sản phẩm thủy sản sang thị
trường Hoa Kỳ.
1.6. Kết cấu đề tài


2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
2.1. Tình hình chung về xuất khẩu mặt hàng thủy sản tại Việt Nam

2.1.1. Sơ lược về ngành Thủy sản ở Việt Nam
Trước năm 1980, ngành thủy sản chủ yếu là “tự cấp tự túc”, thiên
về khai thác thủy sản theo kiểu “hái lượm”. Cơ chế quản lý tập tủng kéo
dài, tiêu thụ theo cách giao nộp khiến việc đánh giá thành tích theo
“tấn,tạ” bất kể giá trị, dẫn đến tiêu diệt tính hàng hóa của sản phấm.
Điều đó làm suy giảm nghiêm trọng các động lực thúc đẩy phát tri ển
xuất khẩu và góp phần đưa ngành thủy sản đến bờ vực suy thoái vào
cuối những năm 1970.
Từ năm 1980 đến nay, mở đầu bằng chủ trương đẩy mạnh xuất
khẩu và thử nghiệm cơ chế “tự cân đối, tự trang trải” mà thực chất và
chú trọng giá trị sản phẩm làm ra nhằm tạo nguồn đầu tư để tái sản
xuất, mở rộng đã tạo động lực cho sự phát triển ucar ngành. Và thủy sản
có thể được xem là một trong những ngành tiên phong trong quá trình
đổi mới, chuyển hướng sang nền kinh tế thị truường của Việt Nam. Đến
1993, ngành thủy sản được Đảng và Nhà nước chính thức xác nhận là
một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta.
Chế biến thủy sản của Việt Nam đã phát triển nhanh chóng cả về
số lượng và chất lượng. năm 1995, cả nước mới có 170 cơ sở chế biến
quy mô công nghiệp thì đến 2011, con số này tang lên 570 cơ sở. Ngoài ra
còn có hàng nghìn cơ sở chế biến thủy sản quy mô nhỏ, hộ gia đình,..

2.1.2. Sơ lược về hoạt động xuất khẩu sản phẩm thủy sản sang Hoa Kỳ
Theo hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản VIệt Nam (VASEP),
năm 2012, nhập khẩu thủy sản của Mỹ tang mạnh vào những tháng đầu
năm, nhưng đến cuối năm có xu hướng sụt giảm rõ rệt do sản lượng
thủy sản trong nước tang, lượng tồn kho cao, giá thủy sản trong nước
chững lại.
Từ tháng 1 đến hết tháng 11-2012, Mỹ nhập khẩu 2,22 triệu tấn
thủy sản, trị giá lên đến 15,2 tỷ US, tăng khoảng 1% so với cùng kỳ năm


2011. Ước tính, nhập khẩu thủy sản cả năm 2012 của Mỹ đạt khoảng
16,8 tỷ USD, chỉ tang 1% so với 2012.
Mỹ nhập khẩu thủy sản từ 130 nước trên thế giới trong đó Việt
Nam đứng thứ 5 sau Trung Quốc, Canada, Thái Lan và Indonesia. N ước ta
chiếm gần 7% thị phần về giá trị nhập khẩu thủy sản trên thị trường
nước này và hơn 8% thị phần về khối lượng.
2.2. Vai trò của xuất khẩu mặt hàng thủy sản
Ngành thủy sản đóng góp mạnh mẽ vào kim ngạch xuất khẩu
hang hóa nói chung của Việt Nam. Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu
thủy sản bình quân trong những năm qua là 10-15%. Năm 2012, kim
ngạch xuất khẩu thủy sản là 6,2 tỷ USD.
Theo số liệu thống kê hàng năm cho thấy Việt Nam khai thác được
khoảng 1,4 triệu tấn hải sản. Trong đó ngoài cá còn có 50-60 nghìn t ấn
tôm biển, 30-40 nghìn tấn mực và nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế
cao.
Phát triển nuôi trồng thủy sản sẽ góp phần làm chuyển đổi cơ
cấu kinh tế nông thôn, tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao
đời số nông ngư dân và thu về một nguồn lớn ngoại tệ cho đất nước.
2.3. Đôi nét về thị trường Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là một quốc gia Bắc Mỹ rộng lớn có diện tích 9.327.614 km2
với số dân 280 triệu người (2000). Đây là một thị trường riêng lẻ lớn nhất thế
giới, là nước tham gia và giữ vai trò chi phối hầu hết các tổ chức kinh tế quốc
tế quan trọng trên thế giới.

2.3.1. Về kinh tế:
Nền kinh tế Mỹ là nền kinh tế thị trường, hoạt động theo cơ chế thị
trường cạnh tranh có lịch sử phát triển hàng tram năm nay. Mỹ được coi là nền
kinh tế lớn nhất thế giới với tổng giá trị sản phẩm quốc nội bình quân hàng
năm trên 10.000 tỷ USD, chiếm trên 20% GDP toàn cầu và thương mại chiếm
khoảng 20% tổng kim ngạch thương mại quốc tế. mọi sự biến động của đồng
USD và hệ thống tài chính Mỹ đều có ảnh hưởng đáng kể đến sự biến động
của nền tài chính quốc tế.


2.3.2. Về chính trị:
Mỹ thường hay sử dụng chính sách cấm vận và trừng phạt kinh tế để
đạt được mục đích của mình. Theo thống kê thì kể từ năm chiến tranh thế giới
thứ 1 đến năm 1998 Mỹ đã áp đặt 115 lệnh trừng phạt, trong đó hơn một nửa
ban hành trong 4 năm cuối và 2/3 dân số thế giới đang phải chịu một hình thức
trừng phạt nào đó do Mỹ áp đặt

2.3.3. Về luật pháp:
Mỹ có hệ thống luật pháp chặt chẽ, chi tiết và phức tạp hàng đầu thế
giới. Khung luật cơ bản cho việc xuất khẩu sang Mỹ gồm luật thuế suất năm
1930, luật buôn bán 1974, hiệp định buôn bán 1979, luật tổng hợp về buôn bán
và cạnh tranh 1988.
Về luật thuế, đáng chú ý là danh bạ thuế quan thống nhất HTS và chế
độ thuế quan phổ cập GSP. Trong đó GSP rất quan trọng đối với các quốc gia
đang phát triển như Việt Nam. Nội dung chính của chế độ ưu đãi thuế quan
phổ cập GSP là miễn thuế hoàn toàn hoặc ưu đãi mức thuế thấp cho những
mặt hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển được Mỹ chấp thuận cho
hưởng GSP. Đây là hệ thống ưu đãi của GSP thậm chí còn thấp hơn mức thuế
ưu đãi tối huệ quốc MFN.
Ngoài ra, các doanh nghiệp cần chú ý đến môi trường luật pháp của
Mỹ là Luật thuế bù giá và Luật chống phá giá. Hai luật này đều quy định, phần
thuế bổ sung sẽ được ấn định đối với hàng nhập khẩu nếu chúng bị phát hiện
là trao đổi không công bằng.

Chương II. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU MẶT HÀNG THỦY SẢN CỦA
VIỆT NAM
1. Tình hình xuất khẩu mặt hàng thủy sản sang Hoa Kỳ giai đo ạn
1.1. Kim ngạch xuất khẩu
Xuất khẩu thủy sản đã và đang là ngành kinh té mũi nhọn của Việt
Nam, góp phần xác định vị trí quan trọng của ngành thủy sản đối với nền kinh
tế của đất nước và trên thị trường quốc tế.


1.2. Tốc độ xuất khẩu
1.3. Cơ cấu mặt hàng thủy sản xuất khẩu
1.4. Giá cả hàng xuất khẩu
1.5. Một số đối thủ cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ
2. Những chính sách quản lý nhập khẩu của Hoa Kỳ
2.1. Mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ sau khi bãi bỏ lệnh cấm vận
Ngày 3/2/1994 tổng thống Mỹ Bill Clinton quyết định chính thức bãi
bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam. Trước đó, Việt Nam là một trong ba nước
(cùng với Cuba và Bắc Triều Tiên) được Mỹ xếp vào nhóm Z – tức là nhóm
nước bị cams vận buôn bán hoàn toàn. Kể từ 3/2/1994, các quy chế xuất khẩu
của Mỹ đã được sửa đổi để xếp Việt Nam vào nhóm nước Y là nhóm nước ít
hạn chế thương mại hơn gồm có các nước thuộc khối Vacsava, Anbani, Mông
Cổ, Lào, Campuchia. Bộ vận tải và Bộ thương mại Mỹ đã bãi bỏ lệnh cấm tàu
và máy bay Mỹ vận chuyển hàng hóa sang Việt Nam, đồng thời cho phép tàu
mang cờ Việt Nam vào cảng của Mỹ.
Ngày 11/7/1995, Tổng thống Clinton tuyên bố bình thường hóa quan
hệ với Việt Nam. Cùng với việc bình thường hóa quan hệ đối ngoại, Việt Nam
và Mỹ đã nỗ lực đàm phán và ký kết hiệp định thương mại giữa 2 nước. tháng
4/1996, Mỹ trao cho Việt Nam bản: “Những yếu tố bình thường hóa quan hệ
kinh tế thương mại Việt Nam”. Ngược lại tháng 7/1996, Việt Nam trao cho Mỹ
bản: “Năm nguyên tắc bình thường hóa quan hệ kinh tế - thương mại và đàm
phán Hiệp định thương mại với Mỹ”. Sau đó hai nước đã tiến hành 10 vòng
đàm phán thương mại và kể từ 3-13/7/2000 tại Washington, Bộ trưởng Thương
mại Việt Nam – Vũ Khoan và đại diện thương mại Mỹ đã thảo luận những vấn
đề còn lại trong Hiệp định Thương mại. Ngày 13/7/2000, tại Washington, Việt
Nam và Mỹ ký kết Hiệp định thương mại, mở ra chân trời mới nhiều cơ hội
hơn cho doanh nghiệp cả 2 nước.
Ngày 28/11/2001 Quốc hội Việt Nam phê chuẩn Hiệp định thương mại
Việt-Mỹ và 11/12/2001 hiệp định này chính thức có hiệu lực.


2.2. Một số chính sách nhập khẩu của Hoa Kỳ với Việt Nam

2.2.1. Hàng rào thuế quan của Hoa Kỳ
 Quy chế tối huệ quốc
Quy chế tối huệ quốc (MFN) áp dụng ở Mỹ từ năm 1930 theo Luật thuế
năm 1930 là một điều khoản được quy định trong các hiệp định thương mại
quốc tế: các nước tham gia ký kết hiệp định cam kết giành cho nhau sự đãi
ngộ thương mại không thấp hơn sự ưu đãi cao nhất mà nước đo giành cho một
quốc gia khác. Trong chính sách thuế quan của Mỹ, các sản phẩm của các
nước được Mỹ “đãi ngộ tối huệ quốc” sẽ chiếm mức thuế thấp hơn các nước
không được Mỹ giành cho MFN

 Thuế chống bán phá giá và thuế chống trợ giá
Để chống lại sự cạnh tranh không bình đẳng của các doanh nghiệp nước
ngoài đối với doanh nghiệp trong nước trên thị trường nước mình, Mỹ đã ban
hành 2 đạo luật: Luật thuế chống bán phá giá (ADs) và Luật thuế chống trợ giá
(CVDs). Nếu hàng hóa nước ngoài xuất sang thị trường Mỹ bị phát hiện bán
phá giá hoặc trợ giá thì 2 đạo luật trên được áp dụng để loại trừ sự cạnh tranh
không bình đẳng này.
Thuế chống bán phá giá (ADs) được áp dụng đối với những hàng hóa nhập
khẩu được bán cho người mua trên lãnh thổ Mỹ với giá thấp hơn giá thị
trường. giá thị trường của hàng hóa là giá mà hàng hóa đó thường được bán
trên thị trường ở nước người sản xuất.
Luật chống bán phá giá của Mỹ quy định rằng nếu Cơ quan Đại diện
thương mại Mỹ (USTR) điều tra thấy luật pháp, chính sách, thực tiễn ở nước
sở tại có những quy định khước từ hoặc không tuân thủ quyền lợi của Mỹ,
được quy định trong hiệp định thương mại giữa 2 quốc gia, vi phạm quyền sở
hữu trí tuệ của nước ngoài thì USTR sẽ tiến hành thủ tục theo luật định. USTR
được Tổng thống cho phép có quyền:

o Đình hoãn, từ chối, ngăn cản việc trao cho nước kia các quyền lợi quy định trong
Hiệp định


o Đánh thuế và áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu không phụ thuộc vào bất kỳ
luật nào, áp phí và hạn chế lên dịch vụ của nước đó trong khoảng thời gian mà cơ
quan này cho là thích hợp;

o Đình hoãn, từ chối các quyền lợi hoặc hạn chế các ưu đãi đặc biệt theo các Hiệp định
tư do thương mại;

o Đi tới thỏa thuận bắt buộc với nước đối tác loại bỏ luật, chính sách hoặc thực tiễn
không phù hợp hoặc trao cho Mỹ các lợi ích phù hợp tương đương.
Thuế chống trợ giá (CVDs): Luật thuế chống trợ giá định ra 1 khoảng bồi
thường dưới dạng thuế nhập khẩu để bù vào phần trợ giá của sản phẩm nước
ngoài mà việc ván sản phẩm đó ở Mỹ gây thiệt hại các nhà sản xuất những mặt
hàng giống và tương tự ở Mỹ. Trong mọi trường hợp, phần trợ giá phải bù lại
có thể do chính phủ nước ngoài trực tiếp trả. Luật này cũng áp dụng đối với
loại trợ giá gián tiếp bị phát hiện sau khi kiểm tra theo luật thuế trợ giá.
Bộ thương mại, Ủy ban Thương mại quốc tế (ITC) và Tổng cục hải quan
Mỹ cùng có trách nhiệm trong việc thi hành luật chống bán phá giá và luật
chống trợ giá. Bộ Thương mại chịu trách nhiệm quản lý chung về cả 2 đạo luật
này và điều tra về việc bán phá giá hoặc trợ cấp của nước ngoài đối với hàng
hóa nhập. ITC sẽ đảm nhiệm việc xác định liệu sự việc đã hoặc có thể ảnh
hưởng đến hoạt động sản xuất trong nước hay chưa, hoặc liệu một ngành sản
xuất trong nước có bị ảnh hưởng ngay từ khi mới phát triển do việc bán phá
giá hoặc việc trợ cấp xuất khẩu hay không

 Quy định về nước bị theo dõi (Priority Country)
Các nước bị theo dõi đặc biệ hay được quy định theo điều “Siêu 301” mà
thực chất là danh sách các nước có thể là đối tượng áp dụng của Điều 301.
Việt Nam luôn nằm trong danh sách là nước bị theo dõi đặc biệt của Mỹ,
do đó, nếu Việt Nam không cải thiện công tác bảo vệ quyền sở hữu trí thuệ và
cam kết mở cửa thị trường theo quy định trong Hiệp định Thương mại Việt –
Mỹ thì việc đình hoãn các quy chế thương mại mà hàng hóa xuất khẩu của
Việt Nam được hưởng sẽ nhanh chóng bị Mỹ áp dụng.


2.2.2. Hàng rào phi thuế quan Hoa Kỳ
Các biện pháp phi thuế Mỹ áp dụng để điều tiết các hoạt động nhập khẩu
bao gồm:

o
o
o
o
o
o

Quyền hạn chế nhập khẩu hàng nông sản
Quyền hạn chế nhập khẩu liên quan đến môi trường
Luật bảo vệ các loài động vật biển có vú năm 1972 (MMPA)
Điều 609 của Công luật Hoa Kỳ
Đạo luật các loài có nguy cơ lâm nguy năm 1973
Đạo luật cấm đánh bắt cá bằng lưới quét vùng biển xa bờ

Trong đó đáng chú ý nhất là các quy định liên quan trực tiếp đến hoạt động
xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Mỹ

 Điều 609 của Công luật Hoa Kỳ
Hoa Kỳ đã cấm nhập khẩu tôm đánh bắt tự nhiên từ các khu vực trên thế
giới, nếu việc đánh bắt có thể gây nguy hiểm hoặc đe dọa đến loài rùa bieernm
trừ những nước được chứng nhận đã yêu cầu thuyền đánh bắt tôm của họ sử
dụng các thiết bị ngăn rùa biển. Các thuyền đánh bắt tôm của Hoa Kỳ cũng
phải đáp ứng yêu cầu tương tự. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ thông báo danh sách
các nước được chứng nhận hàng năm vào ngày 1 tháng 5. Một số nước đã
không thừa nhận lệnh cấm này tại WTO và coi đây là một biên pháp bảo hộ
tinh vi cho ngành đánh bắt tôm tại Hoa Kỳ.

 Luật cấm đánh cá bằng lưới quét vùng biển xa bờ
Luật này được ban hành năm 1992 nhằm hỗ trợ cho việc thực thi trên
phạm vi quốc tế Nghị quyết của Liệ hiệp quốc về việc cấm đánh bắt cá bằng
lưới quét quy mô lớn ở ngoài khơi xa kể từ ngày 31/12/1992.
Theo Luật này, Bộ Thương mại có trách nhiệm định kỳ phát hiện và báo
cáo lên Tổng thống những nước vi phạm lệnh cấm của Liên hiệp quốc. Trong
vòng 30 ngày sau khi nhận được báo cáo của Bộ Thương mại, Tổng thống
phải tiến hành tham vấn với nước bị phát hiện vi phạm để thỏa thuận chám dứt
ngay hoạt động vi phạm đó. Nếu trong vòng 90 ngày tham vấn với không đạt
được kết quả thỏa đáng thì Tổng thống sẽ chỉ đạo Bộ trưởng bộ Tài chính cấm
nhập khẩu các loại thủy sản có vỏ (tôm, cua, sò, hến,…), cá và các sản phẩm
cá, thiết bị câu cá thể thao từ nước liên quan. Nếu nước vi phạm không chấm


dứt việc đánh bắt bằng lưới quét quy mô lớn trong vòng 6 tháng sau khi bị
phát hiện hoặc có hành động trả đũa đối với lệnh cấm nhập khẩu ban đầu của
Hoa Kỳ thì nước đó sẽ bị cấm vận them các mặt hàng khác.

 Hàng rào vệ sinh dịch tễ và kỹ thuật
Để bảo bệ lợi ích kinh tế, sức khỏe người tiêu dùng và bảo tồn động thực
vật trong nước, Chính phủ và Hải quan Mỹ đưa ra những đạo luật quy định về
vệ sinh dịch tễ, tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm hạn chế hoặc cấm một số loại hàng
cụ thể. Các quy định trong đạo luật này bao gồm:

o
o
o
o
o
o
o

Luật thực phẩm
Đạo luật chống khủng bố sinh học năm 2002
Quy định về nguồn gốc xuất xứ
Quy định về ký mã hiệu
Quy định về nhãn mác thương mại
Quy định về quyền sở hữu trí tuệ
Quy định về phụ gia thực phẩm

Trong đó, doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản nước ta cần đặc biệt quan tâm
đến các quy định sau:

a. Đạo luật chống khủng bố sinh học năm 2002
Đạo luật này quy định rằng Co quan kiểm phẩm (FDA) và Hải quan cửa
khẩu (CBP) có thể cấm nhập khẩu các thực phẩm nhập khẩu không đăng ký
theo quy định và các sản phẩm không có đủ những thông tin cần thiết. FDA và
CBP đã ban hành hướng dẫn thực hiện trong đó giải thích các cơ quan chức
năng làm thế nào để thực thi các quy định này. Đạo luật bắt đầu có hiệu lực từ
12/8/2004 và được áp dụng rộng rãi từ 1/11/2004. Đạo luật này có nhiều quy
định được xem như rào cản thương mại đối với hàng hóa hiện đang và sẽ được
nhập khẩu vào Mỹ.

b. Quy định về nguồn gốc xuất xứ
Quy định về nguồn gốc xuất xứ thực chất là quy định về các tiêu chuẩn để
xác định nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa. Quy định về nguồn gốc xuất xứ
nhằm mục tiêu trước hết cho phép người mua cuối cùng ở Mỹ biết được nước
sản xuất hàng hóa, từ đó quyết định mua hàng hóa nào. Để đảm bảo tính đồng
bộ và thuận lợi cho người tiêu dùng Mỹ, Luật Hải quan Mỹ quy định mọi hàng


hóa nhập khẩu vào Mỹ đều phải ghi xuất xứ bằng tiếng Anh. Ngoài ra việc
quy định về nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa bị quản lý bằng hạn ngạch theo
quy định hay theo thỏa thuận song phương hoặc đa phương của Mỹ. Hàng hóa
muốn được hưởng chế độ đãi ngộ nào thì phải được sản xuất tại nước được
hưởng chế độ đãi ngộ đó của Mỹ.

c. Quy định về nhãn mác thương mại
Đạo luật về nhãn hiệu năm 1964 cấm nhập khẩu những sản phẩm làm nhái
theo những thương hiệu đã được đăng ký tại Hoa Kỳ hoặc gây tương tự đến
mức nhầm lẫn.
Đạo luật thuế quan 1930 cho phép các cơ quan Hải quan Mỹ cấm nhập các sản
phẩm từ nước ngoài mang nhãn hiệu đã được các tổ chức, công dân Mỹ đăng
ký tại Hoa Kỳ. Các quy định của Mỹ cũng cho phép các chủ sở hữu những đối
tượng như nhãn hiệu hàng hóa và tác giả nộp đơn xin bản hộ tại cơ quan có
thẩm quyền và nộp phí đăng ký theo quy định.

d. Luật thực phẩm
Các thực phẩm nhập khẩu vào Mỹ không chỉ là đối tượng chịu thuế nhập
khẩu mà còn phả đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng và phẩm cấp để đảm
bảo cung cấp thực phẩm an toàn.
Theo luật an toàn thực phẩm của Mỹ, tất cả các cơ sở sản xuất, chế biến,
đóng gói, phân phối, bản quản thực phẩm, thức uống,… có hàng xuất khẩu
qua Mỹ phải tiến hành đăng ký với Cơ quan kiểm phẩm FDA trước khi sản
phẩm được nhập vào nước này. Sau ngày 12-12-2003, hàng hóa có xuất xứ từ
những nhà xưởng chưa đăng ký sẽ bị ngăn không cho nhập vào Mỹ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×