Tải bản đầy đủ

TL ôn thi học sinh giỏi đại lý 12 địa lí ngành trồng trọt việt nam và các dạng bài tập trong ôn thi học sinh giỏi quốc gia d15

Phần thứ nhất
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Với vai trò là ngành nuôi sống xã hội, nông nghiệp trở thành ngành kinh
tế không thể thay thế trong xã hội loài người, đặc biệt là ngành trồng trọt. Cũng
vì thế mà ngay từ thời cổ đại, sự ra đời và phát triển của các nền văn minh lớn
trên thế giới như Trung Quốc, Ấn – Hằng, Lưỡng Hà, Ai Cập và ngay cả nền
văn minh sông Hồng của chúng ta đều gắn liền với sự phát triển của ngành
trồng trọt. Đối với Việt Nam một đất nước đi lên từ nông nghiệp, một đất nước
có dân số đứng thứ 13 trên thế giới với hơn 50% lao động hoạt động trong
ngành này thì nông nghiệp nói chung, ngành trồng trọt nói riêng lại càng chiếm
một vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Trong thời kì hiện nay do tác động của
quá trình công nghiệp hóa và cuộc cách mạng khoa học công nghệ, tỉ trọng của
ngành trồng trọt trong cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm
đi, đây là một xu thế tất yếu, mặc dù vậy nó vẫn là ngành có vai trò quan trọng
của nước ta. Bộ mặt ngành trồng trọt hiện nay cũng đã có nhiều thay đổi với sự
phát triển của nền sản xuất hàng hóa, công nghiệp hóa nông thôn.
Trong địa lí kinh tế xã hội nói chung, địa lí kinh tế xã hội Việt Nam nói
riêng, nội dung kiến thức về ngành trồng trọt chiếm một khối lượng kiến thức
khá lớn và rất quan trọng trong hệ thống kiến thức địa lí, đồng thời đây là nội
dung tương đối khó. Đặc biệt, các câu hỏi liên quan đến địa lí ngành trồng trọt

cũng thường xuyên xuất hiện trong các đề thi học sinh giỏi, thi THPT quốc gia.
Đối với học sinh và giáo viên các trường chuyên, ngoài việc trang bị được các
kiến thức cơ bản về học phần này, còn yêu cầu hiểu sâu sắc và rèn luyện các kỹ
năng có liên quan và giải các bài tập. Trong điều kiện trên toàn quốc chưa có
bộ sách giáo khoa chuẩn cho trường chuyên thì việc học tập và giảng dạy học
phần này gây không ít khó khăn cho các thầy cô và học chuyên, đặc biệt trong
việc bồi dưỡng học sinh giỏi.
Vì vậy, việc hệ thống nội dung lý thuyết và các dạng bài tập liên quan đến
ngành trồng trọt sẽ giúp các giáo viên và học sinh có được nguồn tài liệu đầy đủ,
phong phú, logic nhất về ngành trồng trọt Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi hơn
trong việc dạy và học ở các trường chuyên.
Để đáp ứng các yêu cầu trên, chúng tôi xây dựng chuyên đề “Địa lí
ngành trồng trọt Việt Nam. Các dạng bài tập trong thi học sinh giỏi và thi
THPT Quốc gia”.
Đề tài hướng tới đối tượng chính là giáo viên và học sinh các trường
chuyên, nhất là trong quá trình ôn luyện thi học sinh giỏi Quốc gia. Tuy nhiên,
1


các giáo viên và học sinh phổ thông không chuyên cũng sẽ có được nguồn tài
liệu hữu ích phục vụ kì thi THPT quốc gia.
2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài nhằm cung cấp tới người đọc những kiến thức, kĩ năng trọng tâm
trong học và giải quyết bài tập về các ngành trồng trọt. Cụ thể là:
- Kiến thức:
+ Hệ thống hóa kiến thức về địa lý ngành trồng trọt:
• Vai trò và đặc điểm chung của ngành trồng trọt ở Việt Nam;
• Đi sâu vào các phân ngành trồng trọt chính của Việt Nam: trồng cây
lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả; với các nội dung chính là
vai trò, điều kiện phát triển, hiện trạng phát triển và sự phân bố
+ Xây dựng hệ thống và phân loại các dạng bài tập liên quan
+ Giới thiệu các phương pháp và kĩ thuật dạy học đã được áp dụng và
mang lại hiệu quả tự học cao
+ Giới thiệu một số hình thức đã được tổ chức nhằm phát triển năng lực
tự học, tự nghiên cứu của học sinh
- Kĩ năng:
+ Phân loại, nhận dạng bài tập
+ Vận dụng kiến thức một cách linh hoạt để giải quyết các dạng bài tập
trên cơ sở định hướng có sẵn
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU


3.1. Phương pháp thu thập xử lí tài liệu
Việc nghiên cứu chuyên đề dựa trên hệ thống cơ sở nguồn tài liệu số
liệu phong phú. Các nguồn số liệu được tổng hợp từ các cơ quan chức năng tin
cậy như Tổng cục thống kê, trang web của FAO, UNDP, Bộ nông nghiệp và
phát triển nông thôn. Trên cơ sở nguồn tài liệu đã thu thập được, tác giả đã
thực hiện các thao tác xử lí, đối chiếu, so sánh... nhằm đưa ra được các kết luận
quan trọng cho chuyên đề.
3.2.Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Điều tra, khảo sát thực địa là một phương pháp truyền thống trong
nghiên cứu địa lí. Việc tiến hành khảo sát trên thực địa có tác dụng trong việc
đối chiếu so sánh các dữ liệu thu thập với thực tế, đồng thời có thể bổ sung
thông tin từ thực tế cho những nhận định đã được đưa ra trước đó.
3.3. Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
Vận dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp giúp tác giả đối chiếu,
phát hiện sự khác biệt của đối tượng nghiên cứu so với đối tượng khác, thấy được
xu hướng phát triển, mối quan hệ giữa các đối tượng, các lãnh thổ cũng như tổng
quát về đối tượng nghiên cứu, trên cơ sở đó đưa ra được nhận định và kết luận
2


đúng đắn theo mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của chuyên đề.
3.4. Phương pháp chuyên gia
Việc thu nhập thông tin từ các chuyên gia về vấn đề nghiên cứu là cơ sở quan
trọng để chuyên đề đưa ra được các luận chứng cần thiết, hoàn thiện các kết luận.
4. CẤU TRÚC CỦA CHUYÊN ĐỀ
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm có 4
chương chính:
Chương 1: Lí thuyết chung về địa lí ngành trồng trọt Việt Nam
Chương 2: Phương pháp và phương tiện dạy học
Chương 3: Các dạng bài tập về ngành trồng trọt Việt Nam trong thi học
sinh giỏi.
Chương 4: Các dạng bài tập về ngành trồng trọt Việt Nam trong thi
trung học phổ thông Quốc gia.
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành chuyên đề, chúng tôi đã có
nhiều cố gắng, song không tránh được những sai sót ngoài mong muốn. Vì vậy,
chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô, đồng nghiệp và
các em học sinh!

3


Phần thứ hai
NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
CHƯƠNG I
LÝ THUYẾT CHUNG VỀ ĐỊA LÍ NGÀNH TRỒNG TRỌT
VIỆT NAM
I.1. Ngành trồng cây lương thực
I.1.1. Vai trò
a. Đối với các ngành kinh tế
+ Tạo nguyên liệu phong phú cung cấp cho các ngành công nghiệp chế
biến lương thực
+ Là nguồn thức ăn ổn định cho chăn nuôi, góp phần thúc đẩy chăn nuôi
phát triển, trở thành ngành sản xuất chính
+ Tạo nguồn hàng xuất khẩu với khối lượng ngày càng lớn, chất lượng
cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường, thúc đẩy ngoại thương phát triển
+ Cơ sở để đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp (cung cấp lương thực cho
vùng chuyên canh cây công nghiệp, phát triển chăn nuôi,…)
b. Đối với xã hội
+ Cung cấp lương thực cho 90 triệu dân. Nước ta đông dân, dân số còn
tăng nhanh nên nhu cầu lương thực, thực phẩm rất lớn và phải đặt lên hàng đầu
+ Tạo ra nhiều việc làm, thu hút nhiều lao động dư thừa của xã hội, góp
phần giải quyết những vấn đề cấp bách của xã hội trong những thập niên tới
+ Đảm bảo an ninh lương thực và quốc phòng
c. Đối với môi trường: khai thác hiệu, hợp lí quả nguồn tài nguyên
thiên nhiên
I.1.2. Nguồn lực
a. Thuận lợi
* Điều kiện tự nhiên
- Đất trồng và địa hình: Năm 2013, diện tích đất nông nghiệp nước ta là
10,2 triệu ha. Bình quân đất nông nghiệp là 0,1 ha/người, trong đó diện tích
gieo trồng cây lương thực là 8,7 triệu ha, còn có khả năng tăng diện tích bằng
các khai hoang, cải tạo đất, thâm canh, tăng vụ. Tài nguyên đất phong phú và
đa dạng với nhiều loại đất khác nhau thuận lợi để xây dựng cơ cấu cây lương
thực đa dạng

4


+ Nhóm đất phù sa phân bố chủ yếu ở đồng bằng rất thích hợp với việc
trồng cây lương thực. Trong đó đất phù sa ngọt phân bố chủ yếu ở đồng bằng
sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, duyên hải miền Trung là loại đất tốt
nhất, thích hợp để trồng lúa. Đất xám phù sa cổ, đất cát ven biển thích hợp để
trồng các cây hoa màu
+ Nhóm đất feralit ở miền núi và cao nguyên chiếm 3/4 diện tích đất tự
nhiên thích hợp để trồng các cây hoa màu.
+ Ngoài ra có một số cánh đồng giữa núi có đất đai màu mỡ thích hợp
để trồng cây lương thực như Than Uyên, Mường Thanh, Nghĩa Lộ…
- Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nguồn nhiệt ẩm dồi dào (nhiệt độ trung
bình năm trên 20°C, lượng mưa trung bình năm 1500 – 2000 mm) tạo điều
kiện thuận lợi để cây lương thực tăng trưởng và phát triển nhanh, năng suất
cao, có thể thâm canh, tăng vụ, xen canh gối vụ, nhiều nơi ở nước ta có 3-4 vụ
lúa/ năm. Khí hậu phân hóa theo mùa, theo đai cao, theo chiều Bắc – Nam,
Đông – Tây tạo sự đa dạng cho sản xuất cây lương thực, hình thành các vùng
tự nhiên khác nhau từ đó có cơ cấu mùa vụ khác nhau giữa các vùng
- Nguồn nước dồi dào cả nước trên mặt và nước ngầm, thuận lợi cho việc
xây dựng mạng lưới thủy lợi đảm bảo tưới và tiêu nước cho sản xuất nông nghiệp
với các hệ thống sông lớn như sông Cửu Long, sông Hồng, sông Thái Bình,…
Điều kiện tự nhiên, đất, khí hậu và nguồn nước thích hợp cho phép sản xuất
lương thực phù hợp với các vùng sinh thái nông nghiệp, mang lại hiệu quả cao.
* Điều kiện kinh tế - xã hội
- Dân cư và lao động:
+ Dân số đông, tăng nhanh, nguồn lao động dồi dào (42,53 triệu người,
chiếm 51,2 % dân số). Lao động nông nghiệp chiếm 59,6% lực lượng lao động
của cả nước.
+ Lao động có kinh nghiệm sản xuất cây lương thực, đặc biệt là thâm
canh cây lúa nước từ lâu đời. Chất lượng lao động ngày càng được nâng cao
tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp phát triển theo chiều sâu
- Cơ sở vật chất kĩ thuật khá hoàn thiện. Đã hình thành và phát triển hệ
thống thủy lợi với nhiều công trình đại thủy nông như hồ Dầu Tiếng, hệ thống
đê điều ở miền Bắc. Nhiều trạm, trung tâm lai tạo giống mới cho năng suất
cao; dịch vụ nông nghiệp và công nghiệp chế biến, bảo quản sản phẩm lương
thực ngày càng phát triển.
5


- Thị trường tiêu thụ rộng lớn đáp ứng cho nhu cầu của 90 triệu dân
trong nước, số dân ngày càng đông, mức sống cao. Thị trường xuất khẩu cũng
mở rộng, Việt Nam là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới.
- Được sự quan tâm đầu tư của Nhà nước với nhiều chính sách khuyến
khích, hỗ trợ người sản xuất. Nước ta coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu,
chương trình phát triển lượng thực – thực phẩm là 1 trong 3 chương trình kinh
tế trọng điểm của nông nghiệp Việt Nam.
b. Khó khăn
* Điều kiện tự nhiên
- Thiên nhiên nhiệt đới kém ổn định, nhiều thiên tai (hạn hán, lũ lụt, sâu
bệnh,…) khiến sản xuất nông nghiệp phụ thuộc chặt chẽ vào tự nhiên nên sản
xuất lương thực cũng bấp bênh
- Nguồn nhiệt ẩm dồi dào là môi trường tốt cho sâu bệnh dễ phát sinh,
phát triển gây hại cho cây trồng. Sự phân mùa sâu sắc của khí hậu làm cho
mùa khô kéo dài gây thiếu nước, hạn hán, xâm nhập mặn.
- Quỹ đất nông nghiệp ít, bình quân đất nông nghiệp theo đầu người
thấp ảnh hưởng đến quy mô sản xuất. Nhiều nơi đất bị nhiễm phèn, nhiễm mặn
gây khó khăn cho sản xuất.
* Điều kiện kinh tế - xã hội
- Cơ sở vật chất kĩ thuật còn thiếu thốn, dịch vụ nông nghiệp chưa phát
triển rộng khắp. Hệ thống thủy lợi chưa đáp ứng đủ nhu cầu tưới tiêu cho toàn
bộ diện tích cây lương thực. Công nghệ sau thu hoạch còn hạn chế
- Thị trường tiêu thụ không ổn định, giá lương thực nhiều năm thấp hơn
so với giá vật tư nông nghiệp, giá gạo xuất khẩu giảm
- Nhân dân thiếu vốn sản xuất để phát triển chuyên canh, quy mô lớn
I.1.3. Tình hình phát triển
- Giá trị ngành trồng cây lương thực đạt 65186,9 tỉ đồng (năm 2007) và
tăng liên tục qua các năm
- Tỉ trọng giá trị sản xuất của cây lương thực trong cơ cấu ngành trồng trọt
rất cao, chiếm 56,5 % (2007), đóng vai trò chủ đạo trong cơ cấu cây trồng, nhưng
do chính sách chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp nên
tỉ trọng giá trị sản xuất ngành trồng cây lương thực có xu hướng giảm.
- Cơ cấu cây trồng: nhóm cây lương thực gồm có lúa và hoa màu (ngô,
khoai, sắn), trong đó cây lúa là cây trồng chủ đạo, chiếm tới trên 90% diện tích
6


và sản lượng lương thực.
- Sản xuất lúa có nhiều bước phát triển trong những năm gần đây.
Bảng diện tích và sản lượng lúa nước ta giai đoạn 1990 – 2010
Năm

Diện tích (nghìn ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

1990

6042.8

19225.1

1995

6765.6

24963.7

2000

7666.3

32529.5

2005

7329.2

35832.9

2010

7489.4

40005.6
(Nguồn: Niên giám thống kê)

+ Diện tích gieo trồng lúa tăng mạnh nhưng có biến động: từ 5,6 triệu
ha năm 1980 lên 6,04 triệu ha năm 1990, 7,5 triệu ha năm 2002, tuy nhiên
giảm nhẹ còn 7,3 triệu ha năm 2005, rồi lại tăng lên gần 7,5 triệu ha năm 2010.
+ Năng suất và sản lượng quy thóc liên tục tăng. Năng suất lúa năm
2005 đạt 48,9 tạ/ha thì đến năm 2010 tăng lên 53,4 tạ/ha. Sản lượng lương thực
quy thóc đạt 39,6 triệu tấn năm 2005 và 44,6 triệu tấn năm 2010
+ Cơ cấu mùa vụ có nhiều thay đổi theo hướng đa dạng hóa cơ cấu mùa
vụ, phù hợp với điều kiện canh tác của từng địa phương. Xu hướng chung là giảm
tỉ trọng của vụ lúa mùa, do đây là vụ có năng suất không ổn định, thường xuyên
chịu ảnh hưởng của thiên tai; tăng tỉ trọng của vụ lúa đông xuân và hè thu vì đây
là các vụ có năng suất cao, ổn định, có thể thu hoạch trước mùa mưa bão.
- Cây hoa màu: Phát triển khá ổn định và đều trở thành cây hàng hóa; diện
tích, năng suất và sản lượng đều tăng. Cây hoa màu quan trọng nhất là ngô; sản
lượng ngô năm 2010 đạt 3,8 triệu tấn. Sắn và khoai lang không còn giữ vai trò là
cây lương thực thiết yếu và chuyển sang hướng sản xuất hàng hóa.
- Bình quân lương thực quy thóc theo đầu người tăng nhanh. Đảm bảo
đủ lương thực trong nước, đáp ứng nhu cầu về an ninh lương thực và xuất
khẩu, trở thành quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới
- Bên cạnh đó, Việt Nam còn là nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới
I.1.4. Các vùng trọng điểm sản xuất lương thực
Trên cả nước đã hình thành hai vùng trọng điểm sản xuất lương thực là
đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng.
- Đồng bằng sông Cửu Long: là đồng bằng châu thổ lớn nhất nước ta
đồng thời cũng là vùng trọng điểm sản xuất lương thực lớn nhất cả nước. Lúa
7


chiếm ưu thế tuyệt đối trong cơ cấu ngành nông nghiệp của vùng. Diện tích
gieo trồng lúa lớn nhất cả nước, chiếm 53,7 % diện tích đất trồng lúa của cả nước.
Sản lượng lúa đạt 19,2 triệu tấn năm 2010. Năng suất lúa trung bình đạt 50,3
tạ/ha, cao hơn trung bình cả nước là 48,9 tạ/ ha, năng suất này chỉ đứng sau Đồng
bằng sông Hồng. Bình quân lương thực có hạt theo đầu người là 1125 kg, gấp 2,4
lần mức trung bình cả nước, gấp 3,1 lần Đồng bằng sông Hồng và cao hơn hẳn
các vùng khác. Tất cả các tỉnh đều có tỉ lệ diện tích trồng lúa chiếm trên 90% diện
tích trồng cây lương thực. Có nhiều tỉnh có sản lượng, diện tích lớn nhất cả nước
như Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp, Long An…
- Đồng bằng sông Hồng là vùng chuyên canh cây lương thực lớn thứ hai cả
nước, sau Đồng bằng sông Cửu Long. Diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt
đạt 1376 nghìn ha năm 2010 (chiếm 14,6% của cả nước). Sản lượng lương thực
có hạt đạt 6847 nghìn tấn (chiếm 16,5% cả nước). Là vùng có năng suất lúa cao
nhất nước ta. Tuy nhiên do dân số đông nên bình quân lương thực trên đầu người
của vùng là 375kg/ người, thấp hơn mức trung bình của cả nước.
I.2. Ngành trồng cây công nghiệp
I.2.1. Vai trò
a.Về kinh tế
- Ngành trồng cây công nghiệp cung cấp nguồn nguyên liệu phong phú, đa
dạng cho công nghiệp chế biến (Ví dụ: cây cà phê, chè cung cấp nguyên liệu cho
công nghiệp sản xuất đồ uống; cây cao su là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
cao su,…) tạo điều kiện để đa dạng hoá cơ cấu ngành công nghiệp.
- Bên cạnh đó các sản phẩm của cây công nghiệp còn là nguồn hàng
xuất khẩu chủ lực thu về ngoại tệ lớn, đóng góp quan trọng vào cơ cấu GDP,
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cây công nghiệp đã trở thành một trong
những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta như cây cà phê, cao su, điều, hồ
tiêu…Việt Nam đứng đầu thế giới về xuất khẩu cà phê, năm 2015 giá trị xuất
khẩu cà phê đạt 2,3 tỉ USD...
- Việc hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp giúp phá thế
độc canh cây lúa, thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng
hóa, thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá. Góp phần phát triển kinh tế xã hội ở những vùng còn nhiều khó khăn,
giảm sự chênh lệch so với các vùng khác, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
của đất nước.
8


b. Về xã hội
Phát triển ngành trồng cây công nghiệp còn mang lại ý nghĩa to lớn về
mặt xã hội:
- Phát triển cây công nghiệp sẽ góp phần giải quyết việc làm, từ đó nâng
cao thu nhập cho người dân.
- Việc phát triển các vùng trồng cây công nghiệp giúp hạn chế nạn du
canh du cư, góp phần phân bố lại dân cư, lao động giữa các vùng trong phạm
vi cả nước, đồng thời tạo ra tập quán sản xuất mới cho đồng bào các dân tộc
thiểu số.
c. Về môi trường
- Việc phát triển cây công nghiệp góp phần khai thác có hiệu quả các tài
nguyên của đất nước đặc biệt là thế mạnh về tài nguyên đất đa dạng, nguồn
nước dồi dào, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa phân hoá đa dạng.
- Phát triển cây công nghiệp có ý nghĩa như trồng rừng. Trồng cây công
nghiệp một cách hợp lí giúp phủ xanh đất trống đồi trọc, chống xói mòn đất.
- Một số cây công nghiệp ngắn ngày có tác dụng cải tạo đất, tăng năng
suất cho các cây trồng khác (Ví dụ: nốt sần trong rễ cây đậu tương cung cấp
một lượng đạm lớn cho đất).
I.2.2. Nguồn lực
Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi và khó khăn về tự nhiên và kinh
tế xã hội để phát triển cây công nghiệp.
a.Thuận lợi
* Điều kiện tự nhiên
- Về địa hình, nước ta có nhiều cao nguyên rộng lớn, bề mặt tương đối
bằng phẳng như cao nguyên Đăk Lăk, Mơ Nông, Di Linh, Lâm Viên, Mộc
Châu, Sơn La… và dải đồi trung du rộng lớn ở Bắc Bộ, Đông Nam Bộ là địa
bàn thuận lợi để hình thành vùng trồng cây công nghiệp tập trung.
- Tài nguyên đất phong phú đa dạng thích hợp phát triển nhiều loại cây
công nghiệp.
+ Nước ta chủ yếu có nhóm đất feralit chiếm tới 3/4 diện tích đất tự
nhiên. Đất này tuy nghèo mùn, chua, nhưng thoát nước tốt là loại đất thích hợp
nhất để trồng cây công nghiệp. Đặc biệt có hơn 2 triệu ha đất badan với tầng
phong hoá sâu, giàu chất dinh dưỡng, phân bố tập trung thành vùng lớn ở Tây
Nguyên và Đông Nam Bộ là loại đất tốt nhất thích hợp để trồng các cây công
9


nghiệp lâu năm như cà phê, cao su, hồ tiêu…. Đất xám trên phù sa cổ tuy đã
bạc màu nhưng tơi xốp thoát nước tốt cũng phân bố tập chủ yếu ở Đông Nam
Bộ và Tây Nguyên rất thích hợp để trồng các cây công nghiệp lâu năm, hàng
năm. Đất feralit trên đá vôi phân bố chủ yếu ở vùng núi trung du Bắc Bộ thích
hợp để trồng các cây công nghiệp như chè, hồi, sơn ….
+ Nhóm đất phù sa ở đồng bằng chiếm khoảng 1/4 diện tích, là loại đất
màu mỡ, độ phì cao thích hợp phát triển cây công nghiệp hằng năm như đay,
lạc, đậu tương.
- Khí hậu:
+ Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với nhiệt độ trung bình năm trên 20 oC,
lượng mưa lớn từ 1500 – 2000 mm/năm thích hợp để phát triển cây công
nghiệp nhiệt đới như cà phê, cao su, hồ tiêu,..
+ Khí hậu phân hoá đa dạng theo mùa, theo đai cao, theo chiều Bắc Nam là điều kiện để đa dạng hoá cơ cấu cây công nghiệp. Miền Bắc có mùa
đông lạnh, trên các vùng núi có khí hậu mát mẻ trồng được các cây công
nghiệp cận nhiệt và ôn đới như chè.
- Nguồn nước dồi dào nhờ mạng lưới sông ngòi dày đặc, nhiều hồ thuỷ
điện, thuỷ lợi là nguồn cung cấp nước quan trọng cho việc trồng cây công
nghiệp. Nước ngầm đặc biệt có giá trị cho cung cấp nước tưới vào mùa khô.
* Điều kiện kinh tế - xã hội
- Dân cư đông, lực lượng lao động dồi dào, chất lượng lao động ngày
càng được nâng cao, dân cư có nhiều kinh nghiệm trong việc trồng và chế biến
cây công nghiệp.
- Thị trường tiêu thụ ngày càng mở rộng cả trong nước và xuất khẩu:
+ Trước hết là đáp ứng nhu cầu của trên 90 triệu dân của nước ta với
mức sống ngày càng nâng cao; nhu cầu nguyên liệu cho các nhà máy chế biến.
+ Thị trường xuất khẩu không ngừng được mở rộng nhất là khi Việt
Nam gia nhập WTO, ASEAN,… và một số nước trong EU.
- Cơ sở vật chất kĩ thuật cơ sở hạ tầng phục vụ cho ngành ngày càng
được tăng cường như: quy hoạch các vùng chuyên canh quy mô lớn, chú trọng
đầu tư phát triển công nghiệp chế biến, xây dựng các vùng chuyên canh, sử
dụng giống mới cho năng suất cao, ứng dụng công nghệ tiên tiến vào trồng cây
công nghiệp.
- Hệ thống đường giao thông vận tải được nâng cấp và mở rộng: hệ
10


thống đường bộ với nhiều tuyến đường mới, hệ thống cảng biển: Hà Nội, Đà
Nẵng, Sài Gòn và 5 sân bay quốc tế.
- Nhà nước có nhiều chính sách ưu tiên phát triển cây công nghiệp: hỗ
trợ vốn cho người dân, hình thành các vùng chuyên canh gắn với chế biến cây
công nghiệp, thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư trong và ngoài nước để phát
triển cây công nghiệp.
b. Khó khăn
* Điều kiện tự nhiên
Bên cạnh những thuận lợi thì ngành trồng cây công nghiệp vẫn còn gặp
phải một số khó khăn:
- Địa hình chủ yếu là đồi núi bị chia cắt mạnh gây khó khăn trong việc
hình thành các vùng chuyên canh quy mô lớn, độ dốc lớn nên đất đai dễ bị bị
xói mòn rửa trôi.
- Điều kiện nhiệt ẩm cao dễ phát sinh và lây lan sâu bệnh. Khí hậu diễn biến
thất thường, thường xuyên xảy ra thiên tai như rét đậm rét hại, sương muối, bão, lũ,
hạn hán khiến cho sản xuất cây công nghiệp bấp bênh không ổn định.
- Nước ta có mùa khô kéo dài sâu sắc, nhất là ở Tây Nguyên và Đông
Nam Bộ làm mực nước ngầm hạ thấp, gây thiếu nước nghiêm trọng ở các vùng
chuyên canh.
* Điều kiện kinh tế xã hội
- Thị trường xuất khẩu không ổn định giá cả thất thường ảnh hưởng
nhiều đến sản xuất cây công nghiệp.
- Các cơ sở công nghiêp chế biến còn hạn chế, công nghệ lạc hậu chưa
đáp ứng được yêu cầu phát triển.
- Mạng lưới giao thông ở một số nơi còn gặp nhiều khó khăn như ở Tây
Nguyên gây khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm cây công nghiệp.
- Những vùng có nhiều tiềm năng phát triển cây công nghiệp (Tây
Nguyên, Trung du miền núi Bắc Bộ) thì lại thiếu lao động có trình độ kĩ thuật,
nạn du canh du cư của một số bộ phận đồng bào dân tộc ít người đang đe dọa
đến sự tồn tại của một số vùng chuyên canh.
I.2.3. Tình hình phát triển và phân bố
a. Tình hình chung
- Trong thời gian gần đây, giá trị sản xuất của ngành trồng cây công
nghiệp liên tục tăng và tăng rất nhanh. Từ năm 2000 đến 2010 giá trị sản xuất
11


của ngành trồng cây công nghiệp đã tăng từ 21782 tỉ đồng lên 33708,3 tỉ đồng,
tăng 11926,3 tỉ đồng. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của ngành trồng cây
công nghiệp tăng nhanh hơn giá trị sản xuất của ngành trồng trọt nói chung;
giá trị sản xuất tăng cao nhờ có công nghiệp chế biến phát triển đảm bảo các
quy trình kĩ thuật, chất lượng của sản phẩm được nâng cao, mẫu mã, hình thức
ngày càng đa dạng, bắt mắt thu hút được người tiêu dùng, hơn hết là 1 số sản
phẩm từ cây công nghiệp được xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài và
được ưa chuộng như cà phê… đã thu được nguồn ngoại tệ lớn. Tỉ trọng giá trị
sản xuất của ngành trồng cây công nghiệp trong ngành trồng trọt cũng tăng lên
phù hợp với chính sách chuyển đổi cơ cấu cây trồng của nước ta.
Bảng giá trị sản xuất và tỉ trọng giá trị sản xuất so với ngành trồng trọt
của ngành trồng cây công nghiệp trong giai đoạn 2000-2010.
Năm

Giá trị sản xuất (tỉ đồng)

Tỉ trọng giá trị sản xuất (%)

Ngành

Ngành trồng

Ngành

Ngành trồng

trồng trọt

cây công nghiệp

trồng trọt

cây công
nghiệp

2000

90858.2

21782.0

100

24

2005

107897.6

25585.7

100

23.7

2007

115374.8

29579.6

100

25.6

2010

129779.2

33708.3

100

26

(Nguồn: Tổng cục thống kê gso.gov.vn)
- Diện tích cây công nghiệp của nước ta cũng tăng nhanh trong những
năm qua xong có sự khác nhau giữa 2 nhóm cây công nghiệp lâu năm và hàng
năm. Trong giai đoạn 2000 - 2013: Diện tích cây công nghiệp lâu năm liên tục
tăng, tăng từ 1451.3 nghìn ha lên 2110.9 nghìn ha, tăng 1,4 lần; diện tích cây
công nghiệp lâu năm liên tục tăng do có nhiều yếu tố thuận lợi để phát triển
như: Nước ta có điều kiện tự nhiên (đất, khí hậu,...) thuận lợi cho sản xuất cây
công nghiệp. Thị trường mở rộng, nhất là thị trường xuất khẩu. Chính sách
phát triển cây công nghiệp của nhà nước. Các điều kiện khác: công nghiệp chế
biến, lao động, cơ sở vật chất cũng có nhiều phát triển,... Trong khi đó diện tích
cây công nghiệp hàng năm còn có sự biến động do được trồng chủ yếu ở các
khu vực đồng bằng, xen canh với cây lúa nên bị phụ thuộc nhiều vào diện tích
trồng lúa, so với cây lâu năm lại không mang lại hiệu quả kinh tế cao bằng nên
ít được đầu tư hơn.
12


Bảng diện tích gieo trồng cây công nghiệp của nước ta
giai đoạn 2000 - 2013 (nghìn ha)
Năm

Cây hàng năm

Cây lâu năm

Tổng

2000

778.1

1451.3

2229.4

2005

861.5

1633.6

2495.1

2007

846.0

1821.7

2667.7

2010

797.6

2010.5

2808.1

2013

730.9

2110.9

2841.8

(Nguồn: Tổng cục thống kê gso.gov.vn)
Cơ cấu ngành trồng cây công nghiệp ở nước ta cũng khá đa dạng, với
nhiều nhóm cây trồng khác nhau:
+ Nếu phân theo thời gian sinh trưởng thì chúng ta có 2 nhóm cây
chính: nhóm cây công nghiệp hàng năm (mía, bông, lạc, đậu tương, thuốc lá,
…) và nhóm cây công nghiệp lâu năm. Trong đó nhóm cây lâu năm đang có xu
hướng tăng tỉ trọng và tăng nhanh còn nhóm cây hàng năm thì xu hướng chung
là giảm tỉ trọng.
+ Nếu chia theo giá trị sử dụng thì chúng ta có các nhóm cây lấy nhựa (cây
cao su,…), cây lấy dầu ( cây lạc, đậu tương, dừa,..), cây lấy đường (mía),…
+ Theo đặc điểm sinh thái: cây nhiệt đới (cây cao su, cây điều, cây cà
phê,…), cây cận nhiệt (chè,..)
+ Nhiều sản phẩm cây công nghiệp của nước ta đã trở thành các mặt
hàng xuất khẩu chủ lực mang về nguồn thu ngoại tệ lớn. Những mặt hàng xuất
khẩu chính phải kể đến như hạt tiêu, chè, cà phê, cao su, hạt điều,.. . Trong thời
kì 2000 - 2013, sản lượng xuất khẩu của 1 số cây công nghiệp có sự thay đổi
tích cực: Sản lượng xuất khẩu hạt tiêu liên tục tăng, tăng mạnh tăng gấp 3,64
nghìn tấn; sản lượng xuất khẩu cà phê liên tục tăng, tăng gấp 1,77 lần; sản
lượng xuất khẩu cây cao su liên tục tăng, tăng mạnh, tăng gấp 3,93 lần; sản
lượng xuất khẩu hạt điều liên tục tăng, tăng mạnh gấp 7,66 lần; sản lượng xuất
khẩu chè liên tục tăng, tăng gấp 2,53 lần. Tăng mạnh nhất là sản lượng hạt
điều, tiếp đến là sản lượng cao su, hạt tiêu, chè và cà phê.
Bảng sản lượng xuất khẩu của một số cây công nghiệp ở nước ta
(nghìn tấn)
Năm
Hạt tiêu

2000

2005

2007

2010

2013

36.4

109.9

83.0

117.0

132.8

13


Cà phê

733.9

912.7

1232.1

1218.0

1301.2

Cao su

273.4

554.1

715.6

779.0

1.074.6

Hạt điều nhân

34.2

109.0

154.7

190.0

262.1

Chè

55.7

91.7

115.7

137.0

141.2

(Nguồn: Tổng cục thống kê gso.gov.vn)
b. Tình hình phát triển và phân bố của một số cây công nghiệp
chính
* Cây cà phê
- Tình hình phát triển: Cây cà phê là một trong những cây công nghiệp
chính của nước ta. Diện tích gieo trồng cây cà phê chiếm tới 30% diện tích cây
công nghiệp lâu năm, chiếm 22,4 % tổng diện tích cây công nghiệp. Diện tích
trồng cà phê vẫn tăng đều qua các năm và năm 2013 đạt 637 nghìn ha. Cùng
với sự gia tăng của diện tích thì sản lượng cà phê cũng tăng nhanh và tăng liên
tục, tốc độ tăng nhanh hơn diện tích, đến năm 2013 đã đạt 1326,6 nghìn tấn.
Phần lớn sản lượng cà phê của nước ta được dùng để xuất khẩu (1301,2 nghìn
tấn năm 2013).
Bảng diện tích và sản lượng cây cà phê nước ta giai đoạn 2005 – 2013
Năm

2005

2008

2011

2013

Diện tích (Nghìn ha )

497.4

530.9

586.2

637.0

Sản lượng (Nghìn tấn)

752.1

1055.8

1276.6

1326.6

(Nguồn: Tổng cục thống kê gso.gov.vn)
- Phân bố: cây cà phê chủ yếu được trồng trên đất badan ở Tây Nguyên
(chiếm khoảng 4/5 diện tích cà phê của cả nước), sau đó là Đông Nam Bộ
(Đồng Nai, Bình Phước), rải rác ở Bắc Trung Bộ (Nghệ An, Quảng Trị), cà phê
chè mới được trồng ở Trung du miền núi Bắc Bộ (Sơn La).
* Cây cao su
- Tình hình phát triển: Trong thời gian qua cây cao su đã có nhiều phát triển
mạnh mẽ. Diện tích cây cao su liên tục tăng, tăng mạnh, đến năm 2013 đã đạt 958,8
nghìn ha, tăng 476,1 nghìn ha so với năm 2000, gấp 2 lần. Cùng đó là sự tăng lên
liên tục của sản lượng cây cao su với tốc độ tăng nhanh, đến năm 2013 đạt 946,9
nghìn tấn. Cùng với cây cà phê, cao su cũng là cây công nghiệp chủ lực của Việt
Nam.
Bảng diện tích và sản lượng cao su của nước ta giai đoạn 2005 - 2013
Năm

2005
14

2008

2010

2013


Diện tích (Nghìn ha )

482.7

631.5

748.7

958.8

Sản lượng (Nghìn tấn)

481.6

660.0

751.7

946.9

(Nguồn: Tổng cục thống kê gso.gov.vn)
- Phân bố: Cây cao su chủ yếu được trồng trên đất badan và đất xám
phù sa cổ Đông Nam Bộ, ngoài ra còn được trồng ở Tây Nguyên và rải rác một
số tỉnh ở Duyên hải Nam Trung Bộ.
* Cây chè
- Tình hình phát triển: Về cả diện tích và sản lượng của cây chè đều liên
tục tăng lên. Diện tích cây chè liên tục tăng, tuy nhiên chỉ tăng nhẹ, đạt 129,8
nghìn ha vào năm 2013, tăng gấp 1,05 lần so với năm 2000; sản lượng chè liên
tục tăng, tăng nhanh hơn diện tích, đến năm 2013 đã đạt 936,3 nghìn tấn, đáp
ứng cho nhu cầu ngày càn tăng của thị trường.
Bảng diện tích và sản lượng cây chè nước ta giai đoạn 2005 - 2013
Năm

2005

2008

2011

2013

Diện tích (Nghìn ha )

122.5

125.6

127.8

129.8

Sản lượng (Nghìn tấn)

570.0

746.2

878.9

936.3

(Nguồn: Nguồn: Tổng cục thống kê gso.gov.vn)
- Phân bố: Chè trồng ở Trung du miền núi Bắc Bộ (Hà Giang, Thái
Nguyên, Yên Bái). Ở Tây Nguyên chè được trồng nhiều trên cao nguyên Lâm
Viên, Di Linh của tỉnh Lâm Đồng.
* Cây mía
- Tình hình sản xuất: Cả về sản lượng và diện tích cây mía đều tăng lên.
Diện tích cây mía liên tục tăng, đến năm 2013 đã đạt 310,4 nghìn ha, tăng 44,1
nghìn ha, gấp 1,16 lần so với năm 2000, sản lượng cây mía tăng, tốc độ tăng
nhanh hơn diện tích đến năm 2013 đạt 20128,5 nghìn tấn, sản lượng tăng gấp
1,34 lần so với năm 2000.
Bảng diện tích và sản lượng mía nước ta giai đoạn 2005 - 2013
Năm

2005

Diện tích (Nghìn ha )
Sản lượng (Nghìn tấn)

2008

2011

2013

266.3

270.7

282.2

310.4

14948.7

16145.5

17539.6

20128.5

(Nguồn: Tổng cục thống kê gso.gov.vn)
- Phân bố: Mía được trồng nhiều ở nhiều vùng của nước ta, trong đó
Đồng Bằng Sông Cửu Long là vùng có diện tích trồng mía lớn nhất; mía còn

15


được trồng nhiều ở Đông Nam Bộ, duyên hải Nam Trung Bộ, trung du miền
núi Bắc Bộ.
I.2.4. Các vùng chuyên canh cây công nghiệp
Cùng với việc phát triển nền nông nghiệp hiện đại sản xuất hàng hóa,
hình thành các vùng chuyên môn hóa nông nghiệp, trên cả nước đã hình thành
3 vùng chuyên canh cây công nghiệp quy mô lớn, đó là Đông Nam Bộ, Tây
Nguyên, Trung du miền núi Bắc Bộ.
* Đông Nam Bộ
- Quy mô: Đông Nam Bộ là vùng chuyên canh cây công nghiệp lớn nhất
cả nước.
- Ở đây tập trung các tỉnh có ngành trồng cây công nghiệp phát triển
như Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa Vũng Tàu. Phần
lớn các tỉnh đều có tỷ lệ diện tích trồng cây công nghiệp cao > 50% diện tích
đất nông nghiệp.
- Hướng chuyên môn hoá ở đây đa dạng cả các cây công nghiệp dài và
ngắn ngày có nguồn gốc nhiệt đới.
+ Các cây công nghiệp dài ngày bao gồm: cao su, cà phê, chè, điều, dâu
tằm… có tổng diện tích chiếm tới 32% diện tích cây công nghiệp dài ngày của
cả nước. Trong đó đáng kể nhất là cây cao su, được trồng tập trung ở các tỉnh
Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước.
+ Các cây công nghiệp ngắn ngày khác như: lạc, đậu tương, cói, mía...
Trong đó cây mía chiếm tới 22,5% diện tích và 21,2% sản lượng mía toàn quốc.
* Tây Nguyên
- Về quy mô sản xuất Tây Nguyên là vùng chuyên canh cây công
nghiệp lớn thứ 2 cả nước, sau Đông Nam Bộ. Diện tích trồng cây công nghiệp
của vùng chiếm 38% diện tích gieo trồng cả nước.
- Hướng chuyên môn hóa của Tây Nguyên là cây công nghiệp dài ngày
với cơ cấu cây trồng khá đa dạng, chủ yếu phát triển các cây nhiệt đới như: cao
su, cà phê, điều, hồ tiêu... Ngoài ra còn trồng được chè trên các cao nguyên có
độ cao lớn, khí hậu mát mẻ ở Lâm Đồng.
- Tình hình sản xuất
+ Cà phê là cây công nghiệp quan trọng số một của Tây Nguyên. Diện
tích cà phê ở Tây Nguyên hiện nay khoảng 450 nghìn ha, chiếm 4/5 diện tích
cà phê của cả nước. Cà phê của vùng được chia làm hai loại bao gồm: cà phê
16


chè và cà phê vối. Cà phê chè được trồng trên các cao nguyên tương đối cao,
khí hậu mát hơn (Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng), còn cà phê vối được trồng ở
những vùng nóng hơn, chủ yếu ở tỉnh Đắk Lắk. Đặc biệt cà phê Buôn Ma
Thuột nổi tiếng có chất lượng cao.
+ Chè được trồng chủ yếu trên các cao nguyên cao hơn như ở Lâm Đồng và
một phần ở Gia Lai, diện tích khoảng 27 nghìn ha. Chè búp thu hoạch được đem
chế biến tại các nhà máy chế biến chè Biển Hồ (Gia Lai) và Bảo Lộc (Lâm Đồng).
Lâm Đồng hiện nay là tỉnh có diện tích trồng chè lớn nhất cả nước.
+ Cao su được trồng nhiều ở Tây Nguyên, đây là vùng trồng cao su lớn
thứ hai cả nước sau Đông Nam Bộ. Các tỉnh có diện tích trồng cao su lớn là là
Gia Lai và Đắk Lắk.
+ Ngoài ra Tây Nguyên còn trồng được nhiều cây công nghiệp khác như
hồ tiều, điều,…
- Hình thức sản xuất: Bên cạnh các nông trường quốc doanh tập trung, ở
Tây Nguyên hiện nay còn phát triển rộng rãi các mô hình kinh tế vườn trồng cà
phê, hồ tiêu,…
* Trung du miền núi Bắc Bộ
- Quy mô: Trung du miền núi Bắc Bộ là vùng chuyên canh cây công
nghiệp lớn thứ 3 cả nước (sau Đông Nam Bộ và Tây Nguyên). Diện tích trồng cây
công nghiệp là 61,2 nghìn ha chiếm 3,8% diện tích cây công nghiệp của cả nước.
- Cơ cấu cây công nghiệp khá đa dạng, chủ yếu phát triển cây công nghiệp
có nguồn gốc cận nhiệt và ôn đới như: chè, đậu tương, thuốc lá, hồi, quế,…Trong
những năm gần đây vùng còn thử nghiệm trồng cà phê chè ở Sơn La.
- Tình hình sản xuất:
+ Chè là cây công nghiệp chủ lực của Trung du miền núi Bắc Bộ. Đồng
thời đây cũng là vùng trồng chè lớn nhất cả nước, diện tích trồng chè của vùng
là 80 nghìn ha (năm 2005) chiếm 44,9% diện tích chè của cả nước; chiếm
88,5% diện tích cây công nghiệp của vùng. Chè được trồng ở những vùng có
khí hậu mát mẻ (Thái Nguyên, Hà Giang, Sơn La,…). Một số thương hiệu chè
thơm ngon nổi tiếng ở Thái Nguyên, Phú Thọ, Yên Bái,…
+ Bên cạnh đó vùng còn phát triển một số cây công nghiệp ngắn ngày
như: bông, thuốc lá, đậu tương,…
I. 3. Ngành trồng cây thực phẩm và cây ăn quả
Cây thực phẩm như rau đậu được trồng ở khắp các địa phương, tập
17


trung hơn cả ở những vùng ven các thành phố lớn: Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh, Hải Phòng,.. Diện tích trồng rau của cả nước là trên 500 nghìn ha, nhiều
nhất là ở Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long. Diện tích đậu
các loại là trên 200 nghìn ha, nhiều nhất là Đông Nam Bộ và Tây Nguyên
Cây ăn quả phát triển khá mạnh trong những năm gần đây. Vùng cây ăn
quả lớn nhất là Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ. Ở Trung du Bắc
Bộ thì đáng kể nhất là tỉnh Bắc Giang. Những cây ăn quả được trồng tập trung
nhất là chuối, cam, xoài, nhãn, vải, chôm chôm và dứa.

18


CHƯƠNG II
PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
II.1. Phương pháp dạy học
Đổi mới phương pháp dạy học là một tất yếu khách quan nhằm hướng
đến người học làm trung tâm. Hiện nay nhất là đối với trường chuyên, vấn đề
đổi mới phương pháp dạy học đang là đòi hỏi cấp thiết để tạo ra các thế hệ HS
chủ động chiếm lĩnh tri thức và giải quyết các vấn đề có liên quan. Vì vậy, với
các nội dung Địa lý nói chung và phần địa hình Việt Nam nói riêng đặc biệt
dành cho đối tượng học sinh giỏi, cần vận dụng các phương pháp dạy học tích
cực một cách triệt để và hiệu quả.
Bên cạnh các phương pháp truyền thống, chúng tôi mạnh dạn đưa vào
các phương pháp mới, nhằm giúp học sinh cảm thấy hứng thú hơn khi học,
theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Một mặt, củng cố kiến thức cho
các em, mặt khác cũng hy vọng hình thành những năng lực chuyên biệt cho
học sinh chuyên.
II.1.1 Phương pháp đàm thoại gợi mở
Đây là phương pháp, trong đó GV soạn ra câu hỏi lớn cho HS. Sau đó,
chia câu hỏi lớn ra thành một số câu hỏi nhỏ hơn, có quan hệ lôgic với nhau,
tạo ra những cái mốc trên con đường thực hiện câu hỏi lớn. Đàm thoại gợi mở
là một phương pháp truyền thống, sử dụng tương đối phổ biến trong các
trường, các cấp học. GV dựa vào những phản hồi thường xuyên của HS để liên
tiếp đưa ra những gợi ý hoặc tái hiện kiến thức nhằm đưa HS tới nội dung cần
đạt. Đối tượng học sinh giỏi là đối tượng có kiến thức chắc chắn, vững vàng
nên phương pháp này đem lại hiệu quả rất lớn.
Trong khi giảng dạy về chuyên đề địa lí ngành nông nghiệp, phương
pháp sử dụng đàm thoại gợi mở có thể sử dụng và đạt hiệu quả cao khi hướng
dẫn học sinh trình bày về tình hình phát triển và phân bố của các phân ngành
nông nghiệp
Ví dụ: Khi giảng tình hình phát triển của ngành trồng cây công nghiệp, GV
có thể sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở để hướng dẫn HS tìm hiểu vấn đề này.
- B1: GV đưa ra câu hỏi lớn “Dựa vào Atlat và SGK em hãy nhận xét về
tình hình phát triển ngành trồng cây công nghiệp Việt Nam?”.
- B2: GV đưa ra các câu hỏi gợi ý
19


Câu 1: Dựa vào biểu đồ cơ cấu giá trị sản xuất cây công nghiệp trong
giá trị sản xuất ngành trồng trọt hãy nhận xét về giá trị sản xuất và tỉ trọng giá
trị sản xuất của ngành trồng cây công nghiệp
Câu 2: Dựa vào biểu đồ diện tích cây công nghiệp hãy nhận xét về tốc
độ tăng trưởng diện tích cây công nghiệp hàng năm và lâu năm.
Câu 3: Dựa vào biểu đồ diện tích và sản lượng một số cây công nghiệp
hãy nhận xét và so sánh diện tích, sản lượng của cây cà phê, cây chè và cây cao
su với diện tích cây công nghiệp lâu năm.
- B3: HS dựa vào hệ thống câu hỏi trên để tìm ra đáp án phù hợp , trên
cơ sở trả lời các câu hỏi gợi mở, học sinh sẽ hoàn thành được câu hỏi lớn. Sau
đó GV chuẩn kiến thức.
II.1.2. Phương pháp đóng vai
Sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học địa lí sẽ khuyến khích HS
nhập mình vào thực tế cuộc sống và thử đặt mình vào vị trí của những người
có địa vị khác nhau trong xã hội giải quyết các tình huống cụ thể của cuộc
sống. Phương pháp này giúp HS tìm hiểu quá trình liên quan đến việc ra quyết
định và tiếp cận quan điểm của người khác. Mặt khác khi tham gia đóng vai
HS phải thể hiện diễn xuất của mình, xuất phát từ thực tế cộng với ý nghĩa, óc
tưởng tượng, sáng tạo của HS đã tạo cho người học cảm xúc. Đó là cơ sở HS
quan tâm đến những vấn đề thực tế, đặc biệt đối với môn địa lí là môn khoa
học xã hội, gắn liền với thực tế cuộc sống, trình bày nhiều vấn đề gần gũi với
HS thì sử dụng phương pháp đóng vai sẽ mang lại hiệu quả cao.
Trong chuyên đề địa lí nông nghiệp, phương pháp này phù hợp khi áp
dụng cho các em học sinh đứng ở vị trí lao động, nhân lực của các phân ngành
nhỏ của khu vực nông nghiệp, hoặc đóng vai các lực lượng tham gia cùng một
phân ngành nông nghiệp nhưng ở các địa phương, vùng lãnh thổ khác nhau.
Phương pháp đạt hiệu quả cao nhất khi được kết hợp với phương pháp làm
việc nhóm và tranh luận.
Ví dụ:
- Ví dụ 1: Từ vị trí người đứng đầu quản lí các ngành trồng cây lương
thực, cây công nghiệp; em hãy nêu những tồn tại lớn nhất cần khắc phục ở
ngành của mình và đề xuất giải pháp với bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát
triển Nông thôn.
(Mỗi nhóm học sinh được chỉ định một ngành và được yêu cầu thuyết
20


phục Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn rằng ngành mình là
ngành trọng yếu, cần được ưu tiên đầu tư phát triển nhất)
- Ví dụ 2: Đóng vai thành các nhân viên thẩm định của ngân hàng để
tranh luận về các điều kiện phát triển của ngành trồng cây công nghiệp ở địa
phương. Từ đó, dẫn đến kết luận có nên đầu tư vốn cho người dân hoạt động
trong ngành trồng cây công nghiệp không.
(Các thành viên sẽ nêu ra các thuận lợi và khó khăn cả về điều kiện tự
nhiên và kinh tế - xã hội để từ đó tổng kết lại vậy tại địa phương mình thì
thuận lợi hay khó khăn nhiều hơn)
Để củng cố kiến thức, giúp các em nắm chắc vấn đề thì đây là phương
pháp rất hiệu quả, và hấp dẫn. Tùy theo mục đích của giáo viên muốn tái hiện
kiến thức, muốn làm rõ, khắc sâu vấn đề học sinh còn mơ hồ hay muốn thêm
các kĩ các kĩ năng sống khác mà vấn đề đưa ra có thể khác nhau, nhưng cần
kèm thêm luật tranh luận được thống nhất ngay từ đầu.
II.1.3. Phương pháp thảo luận nhóm
Phương pháp dạy học theo nhóm là phương pháp đặt HS vào môi
trường học tập (nghiên cứu, thảo luận...) theo các nhóm HS. Một trong những
lí do chính để sử dụng phương pháp này nhằm khuyến kích HS trao đổi và biết
cách làm hợp tác với người khác để học hỏi lẫn nhau, cùng chia sẻ kinh
nghiệm trong học tập. Phương pháp này giúp các em có khả năng tương tác với
người học khác, là một cách để học tập cách định hướng bài làm, sử dụng
phương tiện để giải quyết vấn đề. Tuy nhiên nó đòi hỏi thời gian nhất định để
các nhóm làm việc, thảo luận và trình bày.
II.1.4 Phương pháp động não
Phương pháp động não là một phương pháp dùng để giải quyết nhiều
loại vấn đề khác nhau, giúp cho người học trong thời gian ngắn nảy sinh được
nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó.
Phương pháp này có tác dụng giúp HS:
+ Trả lời nhanh, đưa ra những đáp án chính xác trong khoảng thời
gian ngắn
+ Khắc phục sự rụt rè, e ngại khi trình bày ý kiến.
+ Tránh sự phán xử hấp tấp với thời gian hạn định.
+ Tự do và chân thực trong việc tham gia vào các hoạt động mà không
quan tâm đến những hạn chế của cá nhân.
21


Cách sử dụng phương pháp động não như sau: GV đưa chủ đề cần tìm
hiểu lên bảng. Khích lệ HS phát biểu và đưa ra ý kiến của mình để tìm ra các ý
nhỏ bổ sung cho chủ đề chính. Đối với mỗi ý kiến của HS, GV có thể ghi lại trên
bảng thành sơ đồ.
Phương pháp này có thể sử dụng ở hầu hết các nội dung trong phần
nông nghiệp, đặc biệt là khi ôn tập, kiểm tra.
Ví dụ:
Khi ôn tập về tình hình phát triển của ngành trồng cây lương thực giáo
viên có thể hỏi
- B1: GV có thể đưa ra câu hỏi: “Trong thời gian 2 phút em hãy nêu các
tiêu chí để trình bày về tình sản xuất của ngành trồng cây lương thực?”
- B2: GV gọi HS trả lời nhanh, mỗi HS đưa ra một đáp án, GV ghi lại
tất cả các đáp án đúng, đáp án sai.
- B3: Khi thời gian kết thúc, GV tổng kết kiến thức và đưa ra đáp án cho
câu hỏi.
II.1.5 Phương pháp thực địa
Thực địa là một phương pháp dạy học truyền thống không thể thiếu
trong môn địa lí. Đây là một hình thức học mà chơi, chơi mà học, xóa đi sự
nhàm chán trong các giờ học trên lớp. Thực địa sẽ giúp HS biết vận dụng
những kiến thức lí thuyết trên lớp với thực tế cuộc sống, củng cố khắc sâu kiến
thức, phát triển tình yêu quê hương đất nước trong mỗi HS. Thông qua các
chuyến đi thực tế, sẽ giúp HS phát triển các kĩ năng mềm như: kĩ năng giao tiếp,
kĩ năng phân tích, tổng hợp, kĩ năng thực địa, kĩ năng làm việc nhóm… Đặc biệt
ngành trồng trọt là ngành quan trọng, đặc thù của học sinh chuyên địa là phần
lớn có gia đình hoạt động trong ngành nông nghiệp (nhất là ngành trồng trọt)
nên sẽ rất thuận lợi để tiến hành thực địa mà không gây tốn kém về mặt kinh tế.
Tùy vào điều kiện của từng địa phương, từng trường học, tùy vào mục đích
giảng dạy mà GV có thể lên kế hoạch thực địa cho HS sao cho phù hợp.
Ví dụ
Đối với trường học ở vùng đồng bằng có thể tổ chức thực địa tìm hiểu
về ngành trồng lúa như sau:
- Thời gian tổ chức: Vào thời kì cấy lúa hoặc thu hoạch lúa
- Địa điểm: gia đình của một học sinh trong lớp làm nghề trồng lúa
- Nội dung thực địa:
22


+ Học sinh được tham gia trải nghiệm cùng người nông dân trong các
khâu cấy lúa (nếu đi vào vụ cấy) hoặc thu hoạch lúa (nếu đi vào vụ gặt)
+ Học sinh tìm hiểu về các nội dung:
* Điều kiện sản xuất lúa của địa phương: có loại đất gì? Đặc điểm khí hậu
địa phương? Nguồn nước lấy từ đâu? Đặc điểm nguồn lao động địa phương.
* Tình hình sản xuất lúa của địa phương: quy mô sản xuất lớn hay nhỏ?
Hình thức sản xuất là gì? Năng suất, sản lượng có cao hay không? Sản lượng
thu hoạch được người nông dân sử dụng như thế nào?
+ Sau khi đi thực địa, GV yêu cầu HS viết báo cáo
II.2. Phương tiện dạy học
Phương tiện thường được sử dụng để dạy và học trong chuyên đề địa lí
ngành trồng trọt là các bản đồ (atlat, bản đồ giáo khoa, bản đồ treo tường),
tranh ảnh, video, bảng số liệu, biểu đồ… Sau đây là một số phương tiện chính
thường được sử dụng.
II.2.1 Atlat địa lí Việt Nam
Atlat địa lí Việt Nam là một phương tiện dạy và học không thể thiếu của
môn địa lí trong nhà trường phổ thông, đặc biệt là trong thi học sinh giỏi quốc
gia. Có rất nhiều dạng bài tập liên quan đến atlat địa lí Việt Nam. Khi giảng
dạy chuyên đề ngành trồng trọt Việt Nam có thể trực tiếp sử dụng các trang
bản đồ (trang 18, 19, 20), nhóm bản đồ địa lí tự nhiên, nhóm bản đồ các vùng
kinh tế.
a) Bản đồ nông nghiệp chung (trang 18)
Nội dung trên bản đồ thể hiện các yếu tố hiện trạng sử dụng đất, chuyên
môn hóa sản xuất của các vùng nông nghiệp. Các biểu đồ phụ thể hiện giá trị
sản xuất với cơ cấu giá trị sản xuất các ngành trong nông nghiệp. Qua đây học
sinh có thể khai thác được sự phân bố của các loại cây trồng.
b) Bản đồ nông nghiệp (trang 19)
Nội dung thể hiện trên các bản đồ “Nông nghiệp” trang 19 đề cập tới
hai nhóm ngành chính trong ngành trồng trọt (lúa, cây công nghiệp).
- Bản đồ lúa (năm 2007) thể hiện các nội dung về điện tích và lượng lúa
theo từng tỉnh, diện tích trồng lúa so với diện tích trồng cây lương thực. Diện
tích và sản lượng lúa được thể hiện bằng phương pháp bản đồ - biểu đồ với
biểu đồ cột. Trong đó biểu đồ cột màu xanh thể hiện diện tích, 1mm chiều cao
biểu đồ tườn ứng với 50000ha; cột màu cam thể hiện sản lượng lúa, 1mm
23


chiều cao biểu đồ tương ứng 100000 tấn. Thông qua đó có thể tính được diện
tích và sản lượng lúa của từng tỉnh. Diện tích trồng lúa so với diện tích cây
lương thực được thể hiện bằng phương pháp đồ giải. Từ bản đồ này có thể
nhận định được vùng trọng điểm lúa (Đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông
Cửu Long ), các tỉnh có sản lượng lúa lớn nhất (Kiên Giang, An Giang, Cần
Thơ, Đồng Tháp, Long An,)… Ngoài ra trong bản đồ còn có hai biểu đồ: giá trị
sản xuất cây lương thực trong tổng giá trị sản xuất ngành trồng trọt; diện tích
và sản lượng lúa cả nước qua các năm.
- Bản đồ cây công nghiệp (năm 2007) thể hiện các nội dung về diện tích cây
công nghiệp hàng năm và lâu năm. Diện tích trồng cây công nghiệp hàng năm và
lâu năm theo từng tỉnh được thể hiện bằng phương pháp bản đồ - biểu đồ trong đó
có cột màu vàng thể hiện diện tích cây hàng năm, cột màu đỏ gạch thể hiện diện
tích cây lâu năm, 1mm chiều cao biểu đồ tương ứng với 5000 ha. Tỉ lệ diện tích
gieo trồng công nghiệp so với tổng diện tích gieo trồng theo từng tỉnh được biểu
hiện bằng phương pháp đồ giải. Nền màu càng đậm, tỉ lệ diện tích gieo trồng cây
công nghiệp càng cao. Nội dung thứ hai thể hiện sự phân bố của một số loại cây
công nghiệp lâu năm như: chè, hồ tiêu, cà phê, cao su…và các cây công nghiệp
hàng năm như mía, lạc, bông, thuốc lá… Ngoài ra trong bản đồ còn có ba biểu đồ:
giá trị sản xuất cây công nghiệp trong tổng giá trị sản xuất ngành trồng trọt; diện
tích cây công nghiệp hàng năm và lâu năm của nước ta; diện tích thu hoạch và sản
lượng cà phê, cao su, điều của cả nước năm 2007.
b) Các bản đồ địa lí tự nhiên (trang 6, 7, 9, 10, 11, 12, 13, 14).
Các bản đồ địa lí tự nhiên bao gồm bản đồ hình thể, khí hậu, sông ngòi,
sinh vật, đất, các miền tự nhiên (từ trang 6 đến trang 14). Các bản đồ này thể hiện
đặc điểm và sự phân hóa của các thành phần tự nhiên. Có thể sử dụng các bản đồ
này khi làm các dạng bài nguồn lực trong địa lí ngành trồng trọt, phân tích tác
động của nguồn lực tự nhiên đến sự phát triển và phân bố ngành trồng trọt.
c) Bản đồ các vùng kinh tế (trang 26, 27, 28, 29)
Mỗi vùng kinh tế đều có 2 bản, đồ tự nhiên và kinh tế. Bản đồ tự nhiên
thể hiện các thành phần tự nhiên trong đó chủ yếu là địa hình, thủy văn, sinh
vật, khoáng sản. Bản đồ kinh tế thể hiện sự phân bố các cây trồng vật nuôi
chính, hiện trạng sử dụng đất, phân bố công nghiệp, các tuyến giao thông huyết
mạch. Vì vậy có thể sử dụng các bản đồ này để làm các dạng bài nguồn lực,
tình hình phân bố ngành trồng trọt của từng vùng.
24


II.2.2 Bảng số liệu thống kê
Bảng 1: Diện tích các loại cây trồng phân theo nhóm cây (nghìn ha)
Cây lương
Năm

Tổng số

Cây công

Cây công

Cây

thực có

nghiệp

nghiệp

ăn

hạt

hàng năm

lâu năm

quả

2000

12644.3

8399.1

778.1

1451.3

565.0

2005

13287.0

8383.4

861.5

1633.6

767.4

2010

14061.1

8615.9

797.6

2010.5

779.7

2013

14792.5

9074.0

730.9

2110.9

706.9

Bảng 2: Diện tích và sản lượng lương thực có hạt của nước ta
Năm

Diện tích (nghìn ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

Tổng diện tích

Diện tích Lúa

Tổng Sản lượng

Sản lượng lúa

2000

8399.1

7666.3

34538.9

32529.5

2005

8383.4

7329.2

39621.6

35832.9

2008

8542.2

7400.2

43305.4

38729.8

2010

8615.9

7489.4

44632.2

40005.6

2013

9074.0

7902.5

49231.6

44039.1

Bảng 3: Diện tích lúa phân theo mùa vụ của nước ta (nghìn ha)
Năm

Tổng diện tích

Lúa đông xuân

Lúa hè thu

Lúa mùa

2000

7666.3

3013.2

2292.8

2360.3

2005

7329.2

2942.1

2349.3

2037.8

2008

7400.2

3013.1

2368.7

2018.4

2010

7489.4

3085.9

2436

1967.5

2013

7902.5

3105.6

2810.8

1986.1

Bảng 4: Sản lượng lúa phân theo mùa vụ của nước ta (nghìn tấn)
Năm

Tổng sản lượng

Lúa đông xuân

Lúa hè thu

Lúa mùa

2000

32529.5

15571.2

8625

8333.3

2005

35832.9

17331.6

10436.2

8065.1

2008

38729.8

18326.9

11395.7

9007.2

2010

40005.6

19216.8

11686.1

9102.7

2013

44039.1

20069.7

14623.4

9346

Bảng 5: Diện tích lúa của cả nước, đồng bằng sông Hồng
và đồng bằng sông Cửu Long (nghìn ha)
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×