Tải bản đầy đủ

Đặc điểm tổn thương động mạch vành ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có hội chứng chuyển hóa

Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011

ĐẶC ĐIỂM TỔN THƯƠNG ĐỘNG MẠCH VÀNH Ở BỆNH NHÂN
NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP CÓ HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA
Nguyễn Đức Công*, Hồ Thượng Dũng*, Lê Đức Sỹ*, Nguyễn Công Vân*

TÓM TẮT
Hội chứng chuyển hóa (HCCH) được xem là nguy cơ của xơ vữa động mạch (XVĐM) nói chung và
XVĐM vành nói riêng
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tần suất và đặc điểm HCCH theo NCEP ATP III áp dụng ở người Châu
Âu và khảo sát sự liên quan giữa HCCH với tình trạng tổn thương động mạch vành trên bệnh nhân có nhồi máu
cơ tim (NMCT) cấp.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, thực hiện trên 45 bệnh nhân
được chẩn đoán NMCT cấp và có chụp mạch vành vào viện điều trị tại khoa Tim mạch can thiệp - Bệnh
viện Thống Nhất.
Kết quả: Tần suất HCCH ở bệnh nhân NMCT cấp là 33%. Tỉ lệ bệnh nhân có HCCH không khác biệt giữa
hai giới (nam: 31,6%, nữ: 42,9%, p=0,670). Chưa thấy có sự khác biệt về hình thái tổn thương động mạch vành
ở bệnh nhân NMCT cấp giữa hai nhóm có và không có HCCH (p = 0,831). Tương tự, chưa thấy sự khác biệt về
độ nặng của tổn thương động mạch vành theo thang điểm Gensini ở bệnh nhân NMCT cấp giữa hai nhóm có và

không có HCCH (p=0,364).
Kết luận: Tần suất HCCH ở bệnh nhân NMCT cấp là 33%. Chưa ghi nhận sự liên quan giữa HCCH và
hình thái, độ nặng của tổn thương mạch vành ở bệnh nhân có NMCT cấp.
Từ khóa: Tổn thương mạch vành, nhồi máu cơ tim cấp, hội chứng chuyển hóa.

ABSTRACT
ANGIOGRAPHIC CORONARY ARTERY LESIONS OF THE ACUTE MYOCARDIAL INFARCTION
PATIENTS WITH METABOLIC SYNDROME
Nguyen Duc Cong, Ho Thuong Dung, Le Duc Sy, Nguyen Cong Van
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 15 - Supplement of No 2 - 2011: 110 - 114
Objectives: To estimate the prevalence and characteristics of metabolic syndrome (MS) according to NCEP
ATP III applied for Asian population and to find out the relationship between this syndrome and severity of
coronary artery on angiographic in acute myocardial infarction (AMI) patients.
Methods: A cross – sectional descriptive study was conducted in 45 patients undergoing a coronary artery
angiography in the Department of Cardiovascular Intervention, Thong Nhat Hospital.
Results: The AMI patients were divided into two groups with or without MS. The prevalence of MS in
AMI patients is 33%. There was no gender differences in prevalence of MS (female 42.9% vs. male 31.6%, p =
0.670). No statistically significant differences was observed in morphologic characteristics of coronary lesions
between the two groups (p = 0.831). Our study also showed no significant differences in severity of coronary
assessed with the Gensini scale between the groups (p = 0.364)
Conclusions: The MS affects about 33% of patients with AMI. There was no correlation noted between MS
and morphologic characteristics and severity of coronary lesions in the AMI patients.
* Bệnh viện Thống Nhất Tp.HCM
Liên hệ PGS.TS. Nguyễn Đức Công, E-mail: nguyenduccong1680@yahoo.com.vn, ĐT: 0982160860

110

Chuyên Đề Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất 2011


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011

Nghiên cứu Y học

Key words: Coronary artery lesions, acute myocardial infarction, metabolic syndrome.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đối tượng nghiên cứu


Thuật ngữ HCCH có rất sớm từ đầu thập
niên những năm 1950, sau đó nó được chấp
nhận và sử dụng một cách rộng rãi. Đã có nhiều
nghiên cứu liên quan đến HCCH đã được tiến
hành và qua đó nổi lên một vấn đề rất được y
giới quan tâm đó là sự liên quan giữa HCCH và
bệnh lý động mạch vành. Có một số ý kiến cho
rằng HCCH là một yếu tố nguy cơ mới của bệnh
lý mạch vành.

Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2008
đến tháng 08/2009 chúng tôi thu thập được 45
trường hợp vào mẫu nghiên cứu thỏa điều
kiện: tất cả các bệnh nhân vào điều trị tại khoa
Tim mạch Can thiệp, bệnh viện Thống Nhất
(Bộ Y tế) được chẩn đoán là NMCT cấp và có
chụp động mạch vành.

Tuy nhiên, gần đây đã xuất hiện một số ý
kiến theo chiều hướng ngược lại. Trong bài
báo công bố kết quả của hai nghiên cứu lớn là
“Prospective Study of Pravastatin in the Elderly at
Risk” (PROSPER) và “The British Regional Heart
Study” (BRHS) đăng trên tạp chí The Lancet
vào ngày 23/5/2008(2), các nhà nghiên cứu đã
kết luận rằng HCCH kết hợp cao với nguy cơ
đái tháo đường, nhưng lại không kết hợp với
nguy cơ bệnh tim mạch. Thậm chí trong một
bình luận đi kèm, Tiến sĩ Richard Kahn - Hiệp
Hội Đái Tháo Đường Mỹ (American Diabetes
Association) cho rằng những kết quả của
nghiên cứu này "đã đóng thêm một chiếc đinh
vào quan tài của hội chứng chuyển hoá". Tuy
nhiên, hai nghiên cứu này có hạn chế: mẫu
bao gồm những người lớn tuổi (70 - 82 ở
nghiên cứu “PROSPER” và 60-79 ở “BRHS”).
Cho đến hiện nay, vấn đề này vẫn chưa có
được sự đồng thuận chung. Để góp phần vào
các số liệu nhằm xác định mối liên quan của
HCCH và bệnh lý động mạch vành chúng tôi
tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu khảo sát
đặc điểm tổn thương động mạch vành ở bệnh
nhân nhồi máu cơ tim cấp có HCCH.

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.

Tiêu chuẩn loại trừ
Chúng tôi đã không chọn vào mẫu nghiên
nghiên cứu những trường hợp bệnh nhân tử
vong hoặc chuyển viện trong 24 giờ đầu, có
bệnh lý viêm nhiễm nặng cấp tính.

Thu thập số liệu
Tất cả bệnh nhân được khai thác tiền sử,
bệnh sử, được đo huyết áp, vòng eo, cân nặng,
chiều cao. Thực hiện các xét nghiệm lúc đói
(nhịn ăn tối thiểu 8 giờ): đường huyết, mỡ máu,
Bệnh nhân được đo điện tim đồ, được chụp
mạch vành bằng máy DSA tại phòng thông tim
bệnh viện Thống Nhất.
Bệnh nhân được chẩn đoán HCCH theo
NCEP ATP III áp dụng cho người Châu Á khi
có ≥ 3/5 tiêu chuẩn sau đây: 1) vòng eo ≥ 90cm ở
nam và ≥ 80cm ở nữ; 2) Triglycerid ≥ 150mg/dl;
3) HDL-C < 40mg/dl ở nam và < 50mg/dl ở nữ; 4)
huyết áp ≥ 130/85 hoặc đang dùng thuốc hạ áp;
5) đường huyết đói ≥ 110 mg/dl hoặc đang dùng
thuốc hạ đường huyết.
Đánh giá hình thái tổn thương mạch vành
quả kết quả chụp mạch vành: được xem là dạng
S (stenosis: hẹp) khi tổn thương có vai trò của
mảng xơ vữa gây hẹp trên 50% khẩu kính lòng
mạch. Ngược lại, tổn thương chủ yếu do huyết
khối và không có vai trò của xơ vữa loøng mạch
hoặc xơ vữa gây hẹp dưới 50% lồng mạch được
xem là dạng NS (non stenosis).

Chuyên Đề Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất 2011

111


Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011

a

a
a

b

b

Kiểu S

Kiểu NS
Hình 1: Định nghĩa kiểu tổn thương mạch vành.

Đánh giá độ nặng của tổn thương mạch
vành dựa theo thang điểm Gensini.

Nhận xét: Trong mẫu nghiên cứu nam nhiều
hơn nữ, độ tuổi trên 60 chiếm chủ yếu.

Bảng 1: Thang điểmGensini

Bảng 3: Tần suất HCCH ở bệnh nhân nhồi máu cớ
tim cấp

Tính điểm: theo mức độ
hẹp
25% - 49%: 1 điểm
50% - 74%: 2 điểm

Hệ số: theo vị trí tổn
thương
LM: X 5
LAD1: X 2.5

75% - 89%: 4 điểm
90% - 98%: 8 điểm

LAD2: X 1.5
LCx1: X 2.5

Bán tắc (99%): 16 điểm
Tắc hoàn toàn: 32 điểm

RCA, LAD3, PLA, OM: X 1
Các phân đoạn còn lại: x 0.5

Chỉ số Gensini được tính bằng tổng điểm số
của toàn bộ các tổn thương sau khi nhân với hệ số.

Tần suất

Tỷ lệ %

HCCH (+)

15

33,3%

HCCH (-)
Cộng

30
45

66,7%
100%

Nhận xét: Tần suất HCCH ở bệnh nhân
NMCT cấp là 33%.
Bảng 4: Tần suất HCCH ở bệnh nhân nhồi máu
cơ tim cấp theo giới tính

Xử lý số liệu
Xử lý các dữ kiện bằng phần mềm SPSS for
Window 12.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 2: Tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu
Tuổi
(năm)
Giới

112

Trung bình ± Độ lệch chuẩn
< 60 tuổi n (%)
≥ 60 tuoåi n (%)
Nam, n (%)
Nữ, n (%)

Tổng số (n = 45)
61,58 ± 13,9
17 (37,8)
28 (62,2)
38 (84,4)
7 (15,6)

HCCH (+), n (%)
HCCH (-), n (%)

Nam
(n=38)
12 (31,6)
26 (68,4)

Nữ
(n=7)
3 (42,9)
4 (57,1)

2

X

p

0,338 0,670

Nhận xét: Tỉ lệ bệnh nhân có HCCH giữa hai
giới không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Bảng 5: Đặc điểm tổn thương động mạch vành ở
bệnh nhân có HCCH:
HCCH (-) HCCH (+)
Kiểu NS, n (%)

13 (43,3)

6 (40,0)

Kiểu S, n (%)

17 (56,7)

9 (60,0)

X2

p

0,046
0,831

Chuyên Đề Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất 2011


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011
Nhận xét: Không thấy sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê về tỷ lệ tổn thương mạch vành
dạng “S” giữa hai nhóm.
Bảng 6: Tỷ lệ tổn thương đa nhánh mạch vành trong
bệnh nhân có HCCH:
2

HCCH (-) HCCH (+)
X
Đơn nhánh, n (%) 16 (53,3%) 5 (33,3%)
1,607
Đa nhánh, n (%) 14 (46,7%) 24 (66,7%)

P
0,205

Nhận xét: Tỷ lệ tổn thương đa nhánh động
mạch vành trong hai nhóm không có sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê.
Bảng 7. Độ nặng của tổn thương mạch vành
trên bệnh nhân có HCCH đánh giá theo thang
điểm Gensini:
HCCH (-)
HCCH (+)

Điểm trung bình
50,22 ± 30
40,87 ± 15

t

p

0,918

0,364

Nhận xét: Độ nặng của tổn thương mạch
vành đánh giá theo thang điểm Gensini
không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
giữa hai nhóm.

BÀN LUẬN
Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Bệnh viện Thống Nhất có tính đặc thù bệnh
nhân chủ yếu là đối tượng cán bộ, cho nên trong
mẫu nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là người
cao tuổi, độ tuổi trung bình 61, và nam giới
chiếm tỷ lệ cao hơn nữ giới (84,4% so với 15,6%),
điều này cũng có thể do tiêu chuẩn chọn mẫu
của chúng tôi là người có bệnh mạch vành,
trong khi đó giới nam lại là một yếu tố nguy cơ
của bệnh mạch vành.

Tần suất và đặc điểm HCCH ở bệnh nhân
nhồi máu cơ tim cấp
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận
tần suất của HCCH ở bệnh nhân NMCT cấp là
33%. Con số này có hơi thấp so với một số
nghiên cứu trước đây, như trong nghiên cứu
của tác giả Bela C. Solymoss được tiến hành trên
1180 bệnh nhân có bệnh mạch vành trong thời
gian từ 4/1991 đến 3/1992 tại Canada ghi nhận
tần suất HCCH là 51%(5), trong nghiên cứu của
Mehmet Birhan Yilmaz thực hiện trên 306 bệnh

Nghiên cứu Y học

nhân được chẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp
không ST chênh lên trong thời gian từ 1/2000
đến 1/2004 tại Thổ Nhĩ Kỳ ghi nhận tần suất
HCCH là 49%(6). Ở Việt Nam, tần suất HCCH
trong nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Thu Hà
thực hiện trên 146 bệnh nhân có bệnh mạch
vành tại khoa Tim mạch bệnh viện Chợ Rẫy từ
8/2005 đến 5/2006 là 57,5%(1) và tương tự tần suất
HCCH trong nghiên cứu của tác giả Phạm Tú
Quỳnh là 48,98%(4).
Khảo sát HCCH theo giới trên bệnh nhân
nhồi máu cơ tim cấp chúng tôi nhận thấy
không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về
tỷ lệ HCCH ở hai giới, điều này có khác với
kết quả của những nghiên cứu trước đây hầu
hết đều ghi nhận tỷ lệ HCCH ở nữ cao hơn
nam, như trong nghiên cứu của tác giả Phạm
Tú Quỳnh(4) tỷ lệ HCCH ở nữ là 70,3% cao
hơn ở nam 36,44% (p < 0,001), kết quả cũng
tương tự ở nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Thu
Hà(1) (nữ 72,2%, nam 52,7%, p < 0,04).

Đặc điểm tổn thương động mạch vành trên
bệnh nhân có HCCH
Qua phân tích các dữ kiện trong nghiên cứu
chưa thấy có sự khác biệt về hình thái tổn
thương động mạch vành ở bệnh nhân nhồi máu
cơ tim cấp trong hai nhóm có và không có
HCCH. Cũng như chưa thấy có sự khác biệt về
độ nặng của tổn thương động mạch vành được
đánh giá thông qua số nhánh tổn thương và
thông qua thang điểm Gensini.
Kết quả này chưa thống nhất với kết quả của
rất nhiều nghiên cứu trước đây. Trong nghiên
cứu của tác giả Phạm Tú Quỳnh ghi nhận nguy
cơ tổn thương đa nhánh và nguy cơ hẹp nặng
động mạch vành ở bệnh nhân có HCCH cao hơn
là ở bệnh nhân không có hội chứng này. Tác giả
Đỗ Thị Thu Hà(1) cũng ghi nhận bệnh nhân có
HCCH có tổn thương đa nhánh và tổn thương
hẹp nặng động mạch vành cao hơn ở bệnh nhân
không có HCCH. Nhiều tác giả nước ngoài như
Mehmet Birhan Yilmaz, Bela C. Solymoss,

Chuyên Đề Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất 2011

113


Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011

Jobien K. Olijhoek cũng đưa ra các kết quả
tương tự(3,5,6).

thêm nghiên cứu với cỡ mẫu đủ lớn để khẳng
định điều này.

Nghiên cứu của chúng tôi có hạn chế là cỡ
mẫu còn nhỏ, nên có khả năng nghiên cứu chưa
đủ mạnh để phát hiện ra mối liên hệ giữa
HCCH và bệnh lý mạch vành. Tuy nhiên, kết
quả nghiên cứu của chúng tôi lại tương đồng
với kết quả của hai nghiên cứu “PROSPER” và
“BRHS” đã được tác giả Naveed Sattar công bố
trên tạp chí The Lancet gần đây vào tháng
05/2008(2). Trong kết quả nghiên cứu
“PROSPER” thực hiện trên 23770 người theo dõi
trong thời gian gần 2 năm từ tháng 12/1997 đến
5/1999 tại Anh cho thấy HCCH không kết hợp
với tăng nguy cơ bệnh tim mạch (HR 1,07, 95%,
CI 0,86 - 1,32), và trong nghiên cứu “BRHS” thực
hiện trên 2.737 đối tượng nam giới theo dõi
trong 7 năm từ 1999 đến 2006 tại Anh ghi nhận
HCCH có “kết hợp khiêm tốn” với nguy cơ tim
mạch (HR 1,27, 95%, CI 1,04 - 1,56). Một điểm
tương đồng khác nữa là mẫu nghiên cứu của
chúng tôi và hai nghiên cứu trên đều chủ yếu là
người lớn tuổi. Nên khả năng không có sự liên
quan giữa HCCH và bệnh mạch vành ở người
cao tuổi là có thể xảy ra, tuy nhiên cần phải có

KẾT LUẬN

114

Tần suất HCCH trên bệnh nhân nhồi máu cơ
tim cấp là 33%.
Chưa ghi nhận có sự liên quan giữa HCCH
và hình thái, độ nặng của tổn thương mạch
vành ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

2.

3.

4.

5.

6.

Đỗ Thị Thu Hà (2008). “Tần suất và đặc điểm hội chứng chuyển
hóa ở bệnh nhân bệnh động mạch vành”, Luận văn thạc sỹ y
học.
Naveed Sattar (2008). “Can metabolic syndrome usefully predict
cardiovascular disease and diabetes? Outcome data from two
prospective studies” Lancet. 2008 Jun 7;371(9628):1927-35. Epub
2008 May 22.
Olijhoek JK (2005). “Presence of metabolic syndrome does not
impair coronary collateral vessel formation in patients with
documented coronary artery disease”, Diabetes Care (28),
pp.683-689
Phạm Tú Quỳnh (2006). “Sự liên quan giữa hội chứng chuyển
hóa và mức độ tổn thương động mạch vành” Luận văn thạc sỹ y
học.
Solymoss BC, Bourassa MG, Lesperance J et al (2003). “Incidence
and clinical characteristics of the metabolic syndrome in patients
with coronary artery disease”, Coron Arter Dis (14), pp. 207-212.
Yilmaz MB, Guray U et al (2005). “Metabolic syndrome is
associated with extension of coronary artery diseasein patients
with non-st segment elevation acute coronary syndrome”,
Coron Arter Dis (16), pp. 287-292.

Chuyên Đề Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Thống Nhất 2011



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×