Tải bản đầy đủ

Kết quả bước đầu điều trị viễn lão và cận lão bằng laser excimer tại khoa mắt Bệnh viện Chợ Rẫy

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 4 * 2011

Nghiên cứu Y học

KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ĐIỀU TRỊ VIỄN-LÃO VÀ CẬN-LÃO
BẰNG LASER EXCIMER TẠI KHOA MẮT B.V CHỢ RẪY
Ngô Văn Hồng*, Nguyễn Hữu Chức**
Mục đích nghiên cứu: Bước đầu đánh giá tính an toàn và tính hiệu quả của phẫu thuật điều trị lão thị bằng
laser excimer tại bệnh viện Chợ Rẫy. Rút ra một số kinh nghiệm, đưa phẫu thuật lão thị, một kỹ thuật cao, thành
phẫu thuật thường quy tại khoa Mắt bệnh viện Chợ Rẫy.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tiền cứu thử nghiệm lâm sàng không có nhóm chứng. Bệnh
nhân tuổi từ 40 trở lên, bị lão thị và có thời gian theo dõi ít nhất 24 tháng sau mổ. Nhóm I là nhóm viễn-lão (có
72 mắt: 75%). Nhóm II là nhóm cận-lão (24 mắt: 25%). Thị lực nhìn xa được tính bằng thị lực LogMAR. Thị
lực nhìn gần được tính theo bảng Jaeger. Phẫu thuật bằng máy laser excimer Nidek EC 5000 CXIII. Kết hợp
OPD Scan, Final Fit version 1.11T và sự tính toán của phần mềm PAC version 1.00 T 7. Dùng vòng hút gíac
mạc có đường kính 9,00mm.Tạo vạt giác mạc tự động bản lề phía mũi, có bề dày 130 micron.
Kết quả: Có 96 mắt của 48 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu. Trong đó: Tuổi trung bình là
53,33±5,95 (từ 43-68 tuổi). Tất cả các bệnh nhân đều bỏ được kính sau phẫu thuật. Tính cả 2 nhóm I và II, sau
mổ 24 tháng còn 48 trường hợp tái khám; có thị lực nhìn xa ≥0,15 chiếm tỉ lệ 90%; 40 trường hợp thị lực nhìn
gần ≥J3 chiếm tỉ lệ 83,33%. Sau mổ 24 tháng tất cả các trường hợp đều được phục hồi thị lực nhìn xa và nhìn
gần rất tốt. Không có biến chứng nào đi kèm. Với phiếu khảo sát sự hài lòng của bệnh nhân sau mổ có >92,5%

bệnh nhân rất hài lòng với kết quả đạt được
Kết luận: Kết quả bước đầu về thay đổi khúc xạ và mức tăng thị lực giúp bệnh nhân lão thị không phải phụ
thuộc vào kính khi nhìn gần hoặc nhìn xa là khả quan. Đây là một phương pháp phẫu thuật và điều trị mới, cần
theo dõi lâu hơn, với số lượng phẫu thuật lớn hơn để có thể đưa ra những nhận xét chính xác về kết quả.
Từ khóa: Mổ Lão thị.

ABSTRACT
CLINICAL OUTCOMES OF MULTIFOCAL LASIK TREATMENT FOR HYPEROPIC AND MYOPIC
PRESBYOPIA AT CHORAY HOSPITAL
Ngo Van Hong, Nguyen Huu Chuc
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 15 - Supplement of No 4 - 2011: 193 - 197
Objective: This study presents preliminary safety and efficacy results after 24 months of multifocal lasik
treatments for the correction of presbyopia.
Materials and methods: This non-randomised interventional study comprised of 96 eyes of 48 patients
who had presbyopia were followed-up at least 24 months after surgery, were classified into 2 groups. Group I:
Hyperopic presbyopia (72 eyes, 75%), Group II: Myopic presbyopia (24 eyes, 25%). Surgery: Using the
mathemathical modular software to calculate all the different steps of the multi-step treatment by the Nidek EC
5000 CXIII excimer laser (Final fit version 1.11 T and PAC version 1.00 T7).Make a flap with 9.0 micron
diameter by using microkeratome of Nidek.
Results: Results of visual acuity improvement After 24 months we have 48 eyes followed: All of the patients
don t need to wear glasses. In two groups 43cases (90%) distance VA≥0.15. 40 cases (83.33%) near VA≥J3.
,

* Khoa mắt BV Chợ Rẫy,
Tác giả liên lạc: BS. Ngô Văn Hồng ĐT: 0903668081

Email: ngominh1992@yahoo.com

Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Chợ Rẫy 2011

193


Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 4 * 2011

Postoperative visual acuity in most cases has been excellent. Overall patients are satisfied. There were not any
severe complications.
Conclution: Multifocal lasik has been proven to be a safe effective treatment for presbyopia according to


early clinical results. Overall patients are satisfied. Patients should be followed up longer, and the number of
surgery patients should be larger to have a better conclusions based on the results.
Key words: Presbylasik.

ĐẶT VẤN ĐỀ
Lão thị là hiện tượng, mà ở vào tuổi khoảng
40 trở lên, có khó khăn khi đọc hoặc viết sách ở
khoảng cách nhìn gần thông thường (từ 2535cm); đến một lúc nào đó thì muốn đọc rõ
không mỏi mắt người ta phải mang kính lão.
Thời gian này dài hay ngắn tùy thuộc vào từng
người khác nhau. Tất cả những thay đổi này đều
do sự giảm khả năng điều tiết của mắt gây ra.
Trước đây thông thường người bị lão thị được
điều chỉnh bằng cách mang những cặp kính lão,
đó là những cặp kính hội tụ. Ngoài ra người bị
lão thị có thể mang những cặp kính sát tròng đa
tiêu cự để giải quyết vấn đề nhìn xa và nhìn gần.
Ngày nay, những người lão thị nếu vì một lý
do nào đó mà không muốn mang kính lão thì có
thể khắc phục bằng phẫu thuật. Các loại phẫu
thuật điều chỉnh lão thị đang được ứng dụng
trên thế giới như phẫu thuật:
- Rạch giác mạc vùng rìa bằng sóng cao tầng
Conductive Keratoplasty (CK).
- Rạch củng mạc bằng nhiệt Laser thermal
keratoplasty (LTK).
- Độn củng mạc bằng tấm polymethylmetacrylate.
- Dùng Laser Excimer để tạo Monovision
cho bệnh nhân.
- Thay thủy tinh thể đục bằng cách đặt kính
đa tiêu cự vào nội nhãn (Multifocal IOL).

Tuy nhiên đây là một vấn đề còn mới trong
việc khắc phục lão thị giúp cho người lão thị
không còn lệ thuộc vào cặp kính lão nữa. Do vậy
chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu này
nhằm bước đầu đánh giá tính an toàn và tính
hiệu quả của phương pháp sau 02 năm theo dõi.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân tuổi từ 40 trở lên, bị lão thị và có
thời gian theo dõi ít nhất 24 tháng sau mổ.

Tiêu chuẩn lựa chọn
- Bệnh nhân có lão thị trên mắt cận thị, viễn
thị đủ tiêu chuẩn về giải phẫu, cấu trúc giác
mạc, có nhu cầu được phẫu thuật.
- Bệnh nhân hoàn toàn tự nguyện tham gia
nghiên cứu.

Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân có bệnh tại mắt và toàn thân
không cho phép phẫu thuật.

Phương pháp nghiên cứu
Tiền cứu thử nghiệm lâm sàng, lấy mẫu theo
phương pháp hàng loạt ca lâm sàng, không có
nhóm chứng.
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 48 bệnh
nhân với 96 mắt, được chia làm 2 nhóm, theo
từng loại tật khúc xạ đi kèm với lão thị.

- Phẫu thuật điều trị lão thị bằng Laser
Excimer(1).

Nhóm I là nhóm viễn-lão (72 mắt: 75%).

Khoa mắt BV Chợ Rẫy là một trong những
đơn vị đầu tiên ở Việt Nam áp dụng phương
pháp điều trị lão thị bằng Laser Excimer từ
tháng 7/2006.

Thị lực nhìn xa được tính bằng thị lực

194

Nhóm II là nhóm cận-lão (24 mắt: 25%).
LogMAR. Thị lực nhìn gần được tính theo bảng
Jaeger.

Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Chợ Rẫy 2011


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 4 * 2011

Nghiên cứu Y học

Phẫu thuật bằng máy laser excimer Nidek
EC 5000 CXIII. Kết hợp OPD Scan, Final Fit
version 1.11T và sự tính toán của phần mềm
PAC version 1.00 T 7.
Dùng vòng hút giác mạc có đường kính
9.00mm.
Tạo vạt giác mạc tự động bản lề phía mũi, có
bề dày 130 micron.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
Có 96 mắt của 48 bệnh nhân thuộc 2 nhóm
đủ tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu. Trong đó:

Nhóm I (viễn-lão)

THỊ LỰC NHÌN XA NHÓM I TRƯỚC VÀ SAU
MỔ

Có 72 mắt của 36 bệnh nhân, trong đó 17
nam (47,22%), 19 nữ (52,78%). Tuổi trung bình là
53,33±5,95 (từ 43-68 tuổi). Nghề nghiệp văn
phòng (47,22%) còn lại là kinh doanh và nghề
khác (52,78%), có độ cầu tương đương trung
bình trước mổ 1,68±0,96D và độ lão trung bình
trước mổ là 1,86±0,36D. Sau 2 năm có 34 mắt của
17 bệnh nhân được tiếp tục theo dõi.
Sau mổ 2 năm độ cầu tương đương trung
bình là 0,47±0,53D. Thị lực không kính nhìn xa
trung bình trước mổ là 0,35±0,28 Thị lực nhìn xa
trung bình sau mổ 24 tháng là 0,04±0,05. Thị lực
trung bình nhìn gần trước mổ là J5,8±1,7. Thị lực

THỊ LỰC NHÌN GẦN NHÓM I TRƯỚC VÀ SAU
MỔ

trung bình nhìn gần sau mổ 24 tháng là J2,6±1,4

3.2 Nhóm II (cận-lão)
Có 24 mắt của 12 bệnh nhân, trong đó 6 nam
(50%), 6 nữ (50%). Tuổi trung bình là 49,8±3,30
(từ 43-54 tuổi). Nghề nghiệp văn phòng (58,33%)
còn lại là kinh doanh và nghề khác (41,67%). Có
độ cầu tương đương trung bình trước mổ 4,52D±1,32D và độ lão trung bình trước mổ là
1,39±0,33D. Sau 2 năm có 12 mắt của 6 bệnh
nhân được tiếp tục theo dõi.

ĐỘ CẦU NHÓM I TRƯỚC VÀ SAU MỔ

Sau mổ 2 năm độ cầu tương đương trung
bình là -0,67±0,75D, Thị lực không kính nhìn xa
trung bình trước mổ là 1,11±0,17 Thị lực nhìn xa
trung bình sau mổ 24 tháng là 0,11±0,08. Thị lực
trung bình nhìn gần trước mổ là J4,2±1,5. Thị lực
trung bình nhìn gần sau mổ 24 tháng là J2,2±1,0.

Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Chợ Rẫy 2011

195


Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 4 * 2011
tháng còn 48 trường hợp tái khám; có thị lực
nhìn xa ≥0,15 chiếm tỉ lệ 90%; 40 trường hợp thị
lực nhìn gần ≥J3 chiếm tỉ lệ 83,33%.
Sau mổ 24 tháng tất cả các trường hợp đều
được phục hồi thị lực nhìn xa và nhìn gần rất
tốt. Với phiếu khảo sát sự hài lòng của bệnh
nhân sau mổ có >92,5% bệnh nhân rất hài lòng
với kết quả đạt được.
Sự hạn chế của việc mang kính lão đối với
những người lão thị đã thúc đẩy sự phát triển
của các phương pháp phẫu thuật mới nhằm
giúp những người lão thị không còn lệ thuộc
vào cặp kính nữa. Phương pháp điều trị lão thị
bằng Laser excimer là một kỷ thuật mới, phẫu
thuật không xâm lấn như phẫu thuật Phaco
đặt kính nội nhãn đa tiêu cự. Phẫu thuật này
đã được tiến hành ở một số nước tiên tiến trên
thế giới từ năm 2004. Phương pháp này bước
đầu đã có nhiều kết quả khả quan, được nhiều
người lão thị chấp nhận.

ĐỘ CẦU NHÓM II TRƯỚC VÀ SAU MỔ

THỊ LỰC NHÌN XA NHÓM II TRƯỚC VÀ SAU
MỔ

Trong nghiên cứu này của chúng tôi, có 48
bệnh nhân với 96 mắt đã được phẫu thuật và
được chia làm 2 nhóm theo tật khúc xạ đi kèm
với lão thị. Tuy nhiên cho đến 24 tháng chỉ còn
48 trường hợp tiếp tục theo dõi (34 trường hợp
viễn lão và 14 trường hợp cận lão). Có 2 trường
hợp bị đục thủy tinh thể sau mổ Lasik được 1
năm. 2 trường hợp này sau đó được phẫu thuật
thay thủy tinh thể bằng phương pháp Phaco kết
quả đạt được rất tốt. Không có biến chứng nào
đi kèm trong hoặc sau phẫu thuật, có 3 trường
hợp vì nhu cầu công việc nên có mang kính lão
+0,5D đến +0,75D khi làm việc gần.

KẾT LUẬN
- Phẫu thuật điều trị lão thị bằng laser
excimer là một phẫu thuật có hiệu quả rõ rệt về
cải thiện chức năng thị giác nhìn gần.

Thị lực nhìn gần nhóm II trước và sau mổ
Tất cả các bệnh nhân đều bỏ được kính sau
phẫu thuật. Tính cả 2 nhóm I và II, sau mổ 24

196

- Trong khi thực hiện phẫu thuật có tính an
toàn cao. Khá phù hợp với hoàn cảnh của Việt
Nam, được bệnh nhân chấp nhận, nâng cao chất
lượng sống và điều kiện làm việc cũng như về
thẩm mỹ.

Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Chợ Rẫy 2011


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 4 * 2011
- Đây là một phương pháp phẫu thuật và
diều trị mới, cần theo dõi lâu hơn, với số lượng
phẫu thuật lớn hơn để có thể đưa ra những nhận
xét chính xác về kết quả.

2.

3.

Nghiên cứu Y học

Teladro A, (2011) (Cannes,France). Despite economic crisis,
presbyopia surgery thrives around the world, Ocular surgery
news Vol22.No 2 issue 2.
Uy E, Go RK, (2008) (Manila, Phillippin). Presbyopia treatment
with PAC using Nidek Navex platform.

TAI LIỆU THAM KHẢO
1.

Teladro A, (2005) (Cannes,France). Review of ophthalmology
vol.No 12:07 issue 7/15.

Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Chợ Rẫy 2011

197



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×