Tải bản đầy đủ

Tỉ lệ hiện mắc huyết khối tĩnh mạch sâu chưa có triệu chứng trên bệnh nhân nội khoa cấp tính

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 2 * 2010

Nghiên cứu Y học

TỈ LỆ HIỆN MẮC HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH SÂU CHƯA CÓ TRIỆU CHỨNG
TRÊN BỆNH NHÂN NỘI KHOA CẤP TÍNH
Đặng Vạn Phước*, Nguyễn Văn Trí*

TÓMTẮT
Cơ sở: Huyết khối tĩnh mạch sâu (HKTMS) hay gặp ở các bệnh nhân (BN) nằm viện, ñặc biệt là bệnh
nhân bệnh nội khoa cấp tính.
Mục tiêu: Khảo sát tỉ lệ hiện mắc HKTMS trên bệnh nhân bệnh nội khoa cấp tính.
Phương pháp: Nghiên cứu dọc trên 304 bệnh nhân nhập viện vào các khoa nội vì bệnh lý nội khoa cấp
tính. Bệnh nhân nằm viện ít nhất 6 ngày. Siêu âm lần một ñược thực hiện trong ngày thăm khám ñầu tiên.
Siêu âm lần hai ñược thực hiện sau 7 ngày nếu lần ñầu âm tính.
Kết quả: Trong 304 trường hợp, có 233 trường hợp ñược chẩn ñoán và ñiều trị nhiễm trùng cấp
(76,6%), kế ñến là suy tim nặng NYHA ñộ III/ IV (85 trường hợp, chiếm 28,0%), ñợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn
mãn tính (66 trường hợp, chiếm 21,7%), nhồi máu não (65 trường hợp, chiếm 21,4%), ung thư (47 trường
hợp, chiếm 15,5%) và nhồi máu cơ tim (5 trường hợp, chiếm 1,6%). Tỉ lệ mắc HKTMS trên BN nhiễm trùng
cấp là 27,9% (65/233), tỉ lệ mắc HKTMS trên BN suy tim NYHA III/IV là 28,3% (24/85), tỉ lệ mắc HKTMS
trên BN ñợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính là 36,4% (24/66), tỉ lệ mắc HKTMS trên BN nhồi máu não là

27,7% (18/65), tỉ lệ mắc HKTMS trên BN ung thư là 31,9% (15/47) và tỉ lệ mắc HKTMS trên BN nhồi máu
cơ tim cấp là 20% (1/5).
Kết luận: Tỉ lệ huyết khối tĩnh mạch sâu ở bệnh nhân nội khoa cấp tính nằm viện là 28%, trong ñó cao
nhất ở nhóm bệnh nhân bị ñợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (36,4%) và thấp nhất ở bệnh nhân nhồi
máu cơ tim (20%).
Từ khóa: HKTMS: huyết khối tĩnh mạch sâu.

ABSTRACT
DEEP VENOUS THROMBOSIS FOLLOWING ACUTELY MEDICAL ILLNESS
Dang Van Phuoc, Nguyen Van Tri * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 14 Supplement of No 2 - 2010: 170 - 177
Background: Deep vein thrombosis (DVT) is common in hospitalized patients, especially following
acutely medical illness.
Objectives: Study proportion of deep vein thrombosis in patients with acutely medical illness.
Methods: Longitudinal study in 304 patients. Those patients were admitted to hospital because of
acutely medical illness, hospitalized at least 6 days. Duplex ultrasonography of the lower extremities’ deep
veins is done in the first day of our examination. If we got a negative result of ultrasonography in the first
time, a second ultrasonography was done 7 days later.
Results: Among these 304 patients, 233 patients was diagnosed and treated acute infection (76,6%), 85
patients with severe heart failure (28%), 66 patients with acute exacerbation of chronic obstructive
pulmonary disease (21,7%), 65 cases with ischemic stroke (21,4%), 47 cases with cancer (15,5%) and 5
acute myocardial infarction patients (1,6%). Incidence of DVT in acute infection patients was 27,9%
(65/233), in severe heart failure 28,3% (24/85), in acute exacerbation of chronic obstructive pulmonary
disease 36,4% (24/66), in ischemic stroke 27,7% (18/65), in cancer 31,9% (15/47) and in acute myocardial
infarction 20% (1/5).
Conclusions: Prevalence of asymptomatic DVT in acutely ill medical patients was 28%, of which the
highest found in acute exacerbation of chronic obstructive pulmonary disease (36,4%) and the lowest in
acute myocardial infarction (20%).
* Đại Học Y Dược TP. HCM
Địa chỉ liên lạc: PGS TS. Nguyễn Văn Trí

Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Nguyễn Tri Phương 2010

170


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 2 * 2010

Nghiên cứu Y học

Key words: Deep vein thrombosis.



ĐẶT VẤN ĐỀ
Huyết khối tĩnh mạch sâu là bệnh lý ñược chú ý
từ những năm ñầu của thế kỷ 19. Trong nhóm bệnh
nhân nằm viện, tỉ lệ HKTMS cao hơn nhiều so với
tỉ lệ HKTMS trong cộng ñồng. Điều quan trọng là
các biến chứng xảy ra khi mắc HKTMS khá
nghiêm trọng, có thể xảy ra sớm và gây tử vong
như thuyên tắc phổi hoặc muộn hơn như hội chứng
sau huyết khối(7). Chính vì thế mà HKTMS ngày
càng ñược chú ý nhiều hơn.
Trong các nghiên cứu ñược thực hiện tại các
nước Phương Tây, HKTMS xuất hiện với tỉ lệ
khoảng 55% trên những bệnh nhân ñột quỵ, 24%
trên bệnh nhân nhồi máu cơ tim, 20 - 40% trên
bệnh nhân suy tim ứ huyết, 25 - 42% trên bệnh
nhân nội khoa trong khoa săn sóc ñặc biệt(1,9,11,14). Ở
Châu Á, một số ít quốc gia ñã có nghiên cứu về
HKTMS nhưng chưa nhiều, chủ yếu trên bệnh nhân
ñột quỵ. Chưa có nghiên cứu trên bệnh nhân nội
khoa nói chung.
Ở nước ta, chưa có nghiên cứu bệnh nhân bệnh
nội khoa cấp tính bị HKTMS không có triệu chứng.
Vì vậy, nghiên cứu này nhằm mục ñích xác ñịnh tỉ
lệ HKTMS trên những bệnh nhân nhập viện vì bệnh
lý nội khoa cấp tính. Việc chẩn ñoán HKTMS ñược
thực hiện bằng siêu âm Duplex, một phương pháp
không xâm lấn có ñộ chính xác chấp nhận ñược
trong chẩn ñoán xác ñịnh HKTMS.

ĐỐI TƯỢNG- PHƯƠNG PHÁPNGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi là Nghiên Cứu Dọc
(Longitudinal study).

Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân ñược ñiều trị tại các khoa tim mạch,
hô hấp, thần kinh, ung thư, hồi sức cấp cứu của các
bệnh viện Chợ Rẫy, Nhân Dân Gia Định, Nhân Dân
115, Trưng Vương.

Tiêu chuẩn chọn lựa vào nghiên cứu
Bệnh nhân ñược nhận vào nghiên cứu phải thỏa
các tiêu chuẩn nhận bệnh sau:
- Tuổi từ 18 tuổi trở lên
- Nhập vào một khoa nội vì một bệnh nội khoa
cấp tính và dự kiến phải nằm viện ít nhất 6 ngày.
- Tự nguyện tham gia và ký bản ñồng ý tham
gia vào nghiên cứu.

Tiêu chuẩn loại trừ
- Có tiền sử bị huyết khối tĩnh mạch sâu hoặc
thuyên tắc phổi trong vòng 12 tháng trước ñó.
- Đang hay dự ñịnh sử dụng các biện pháp dự
phòng HKTMS bằng thuốc như heparin không
phân ñoạn, heparin trọng lượng phân tử thấp hay
thuốc kháng ñông uống.
- Đang sử dụng heparin không phân ñoạn hay
heparin trọng lượng phân tử thấp ñể ñiều trị bệnh
nội khoa không phải HKTMS hoặc warfarin trên 48
giờ.
- Vừa trải qua phẫu thuật lớn hay chấn thương
nặng trong vòng 3 tháng trước và phải nhập viện.

Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Nguyễn Tri Phương 2010

171


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 2 * 2010

Nghiên cứu Y học

Mô hình nghiên cứu
Bệnh nhân nhập viện vì một bệnh nội khoa cấp tính và có các yếu tố nguy cơ

Xét nghiệm D-dimer

Dương tính (≥ 500 ng/ml)

Âm tính (< 500 ng/ml)

Siêu âm Duplex hai chi dưới lần 1

Không phát hiện HKTMS

Xác ñịnh HKTMS

Siêu âm duplex hai chi dưới lần 2 (sau 2 tuần nhập viện)

Không phát hiện HKTMS

Xác ñịnh HKTMS

Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Nguyễn Tri Phương 2010

172


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 2 * 2010

Nghiên cứu Y học

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Bảng 1 : Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu:
Đặc điểm
< 65 tuổi
> 65 tuổi
Giới
Nam
Nữ
Thể
Béo phì
trạng
Khơng béo phì
Tuổi

Tần số
93
211
164
140
32
272

Tỉ lệ (%)
30,6
69,4
53,9
46,1
10,5
89,5

Tỉ lệ các bệnh nội khoa cấp tính là ngun nhân nhập viện:
80

Nhiễm trùn g cấp

76.6

Suy tim nặn g
(NYHA III/IV)
COPD

60
40

28
21.7 21.4

20
0

Nhồi máu não

15.5
1.6

Ung thư
Nhồi máu cơ tim
cấp

Biểu đồ 1 : Tỉ lệ các bệnh nội khoa cấp tính

là ngun nhân nhập viện

Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Nguyễn Tri Phương 2010

173


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 2 * 2010

Nghiên cứu Y học

Tỉ lệ HKTMS trên bệnh nhân nội khoa cấp tính nằm viện
Bảng 2: Tỉ lệ phát hiện HKTMS theo siêu âm lần 1 và lần 2
siêu âm
Lần 1
Lần 2
Chung 2 lần

tỉ lệ HKTMS
21,0% (65)
8,8% (21)
28%

Tỉ lệ huyết khối tĩnh mạch sâu theo từng nhóm bệnh nội khoa nhập viện
Bảng 3: Tỉ lệ huyết khối tĩnh mạch sâu theo từng nhóm bệnh nội khoa
Bệnh cấp tính
Nhiễm trùng cấp
Suy tim nặng
Đợt cấp COPD
Nhồi máu não
Ung thư
Nhồi máu cơ tim

Tỉ lệ HKTMS
65/233 (27,9%)
24/85 (28,2%)
24/66 (36,4%)
18/65 (27,7%)
15/47 (31,9%)
1/5 (20%)

P
0,98
0,81
0,19
0,85
0,67
1

BÀNLUẬN
Tổng số bệnh nhân ñủ tiêu chuẩn chọn bệnh là 345, trong ñó 21 bệnh nhân có tiêu chuẩn loại trừ,
5 bệnh nhân không ñồng ý tham gia nghiên cứu, 9 bệnh nhân không thể thực hiện xét nghiệm DDimer và/ hoặc siêu âm, 6 bệnh nhân không làm ñược siêu âm lần 2.
Tổng số bệnh nhân ñược ñưa vào phân tích cuối cùng là 304.

Đặc ñiểm bệnh nội khoa cấp tính phải nhập viện
Trong 304 trường hợp, có 233 trường hợp ñược chẩn ñoán và ñiều trị nhiễm trùng cấp
(76,6%), kế ñến là suy tim nặng NYHA ñộ III/IV (85 trường hợp, chiếm 28,0%), ñợt cấp bệnh
phổi tắc nghẽn mãn tính (66 trường hợp, chiếm 21,7%), nhồi máu não (65 trường hợp, chiếm
21,4%), ung thư (47 trường hợp, chiếm 15,5%) và nhồi máu cơ tim (5 trường hợp, chiếm 1,6%).

Tỉ lệ HKTMS ñược chẩn ñoán bằng siêu âm Duplex
Chúng tôi khảo sát 345 BN nhập viện vì bệnh lý nội khoa cấp tính, tất cả BN ñều không có
triệu chứng gợi ý của bệnh lý HKTMS chi dưới. Chúng tôi tiến hành siêu âm Duplex lần thứ nhất
310 BN (loại ra 5 BN không ñồng ý tham gia nghiên cứu, 21 BN có tiêu chuẩn loại trừ, 9 BN
không thể thực hiện D-dimer và/hay siêu âm lần thứ nhất) phát hiện 65 BN bị HKTMS chiếm tỉ lệ
21,0% (65/310). Sau một tuần, chúng tôi tiến hành siêu âm Duplex lần thứ hai 239 BN không có
HKTMS lần ñầu (ñã loại ra 6 BN không thực hiện ñược siêu âm lần 2) phát hiện 21 BN bị
HKTMS chiếm tỉ lệ 8,8% (21/239). Như vậy, qua 2 lần siêu âm màu Duplex, chúng tôi phát 86 ca
mắc HKTMS. Theo công thức Kaplan Bayer (1 – (1 – P1) x (1 – P2)), tỉ lệ chung bị HKTMS
trong dân số nghiên cứu của chúng tôi là 28%
So sánh với một số nghiên cứu trên thế giới về tỉ lệ HKTMS chi dưới trên bệnh nhân nội
khoa ñã thực hiện, chúng tôi nhận thấy kết quả của chúng tôi tương tự với các tác giả Cade JF (tỉ
lệ 28,3% trên mẫu nghiên cứu 60 bệnh nhân)(4), Fraisse F (tỉ lệ 28,1% trên mẫu 84 bệnh nhân)(5),
Belch JJ (tỉ lệ 26% trên 50 bệnh nhân)(2).

Tỉ lệ HKTMS trên nhóm bệnh nhân có nhiễm trùng cấp
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 233 trường hợp nhiễm trùng cấp trên tổng số 304 bệnh
nhân (76,6%). Điều ñáng lưu ý thêm là nhóm nhiễm trùng cấp trong nghiên cứu của chúng tôi có
nhiều bệnh lý khác ñi kèm (88% trường hợp có ≥ 3 bệnh nội khoa cấp tính phối hợp). Có lẽ vì
những lý do trên, tỉ lệ HKTMS ở nhóm nhiễm trùng cấp trong nghiên cứu chúng tôi khá cao
(27,9%).
Hiện tại chúng tôi chưa tìm thấy các nghiên cứu thiết kế riêng ñể tìm tỉ lệ HKTMS trên nhóm
bệnh nhân nhiễm trùng nặng trong và ngoài nước nên không thể so sánh trực tiếp. Cả ba nghiên

Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Nguyễn Tri Phương 2010

174


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 2 * 2010

Nghiên cứu Y học

cứu lớn ngoài nước mà chúng tôi tìm thấy trong y văn ñều thiết kế theo phương pháp bệnh chứng,
kết quả cho thấy nhiễm trùng cấp ñều làm tăng nguy cơ HKTMS.
Nghiên cứu SIRIUS trên nhóm bệnh nhân nội khoa ngoại trú cho thấy nguy cơ HKTMS khi
nhiễm trùng cấp là 1.95 (OR = 1,95) với khoảng tin cậy 95% là 1,31 – 2,93(24). Nghiên cứu
MEDENOX cho thấy nguy cơ HKTMS khi nhiễm trùng cấp tăng lên 1,74 lần (OR = 1,74; 95%,
khoảng tin cậy là 1,12 – 2,75)(23). Trong thử nghiệm MEDENOX, ña số bệnh nhân bị nhiễm trùng
kèm bệnh lý tim phổi. Đây là lần ñầu tiên tình trạng nhiễm trùng ñược ghi nhận là yếu tố nguy cơ
ñộc lập ở bệnh nhân nội khoa nằm viện. Một nghiên cứu công bố năm 2006 của tác giả Smeeth
Liam và cộng sự cũng cho thấy nguy cơ bị HKTMS sau nhiễm trùng hô hấp là 1,91 (95% khoảng
tin cậy là 1,49 – 2,44)(27).
Theo khuyến cáo về dự phòng HKTMS lần thứ bảy của ACCP thì các bệnh nội khoa cấp tính
trong ñó nhiễm trùng cấp ñược xem là yếu tố nguy cơ cao gây HKTMS với tỉ lệ dao ñộng từ 10 –
20%(15).
Như vậy nghiên cứu của chúng tôi bước ñầu góp phần nhấn mạnh tỉ lệ HKTMS ở bệnh nhân
nhiễm trùng cấp cần phải ñược chú ý, ñặc biệt nếu bệnh nhân có nhiều bệnh nội khoa khác ñi
kèm.

Tỉ lệ HKTMS trên nhóm bệnh nhân suy tim nặng (NYHA III/IV)
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 85 bệnh nhân thuộc tiêu chí chẩn ñoán suy tim theo
Framingham, trong ñó có 71 bệnh nhân suy tim ñộ III (83,5%) và 14 bệnh nhân suy tim ñộ IV
(16,5%).
Chúng tôi phát hiện 24 bệnh nhân có HKTMS (28,2%). Trong lần siêu âm ñầu tiên, chúng tôi
phát hiện 18 bệnh nhân có HKTMS, trong lần siêu âm thứ hai chúng tôi phát hiện 6 bệnh nhân có
HKTMS. Như ñã trình bày ở phần trên, thiết kế của chúng tôi nhằm khảo sát tỉ lệ HKTMS ở bệnh
nhân nội khoa cấp tính nhập viện, không nhằm tìm số mới mắc. Tuy nhiên, số mới mắc dự ñoán
của chúng tôi trên bệnh nhân suy tim nặng chắn chắn cao hơn tỉ lệ 6/85 bệnh nhân (7,1%) do có
một số bệnh nhân mới mắc HKTMS lẫn trong lần siêu âm ñầu tiên.
Raza Alikhan và cộng sự nghiên cứu 96 bệnh nhân suy tim ñộ III/IV theo NYHA dùng
phương pháp chụp tĩnh mạch chi dưới hoặc siêu âm cho kết quả tỉ lệ mới mắc là 15%(3). Nghiên
cứu của Belch nhận thấy bệnh nhân suy tim nằm viện không ñược phòng ngừa huyết khối có tỉ lệ
HKTMS là 26%(6).
Chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu về HKTMS trên bệnh nhân suy tim ở Châu Á và Việt
Nam.
Nếu so sánh với các nghiên cứu như ñã nêu trên cho thấy tỉ lệ HKTMS ở bệnh nhân suy tim
nặng trong nghiên cứu của chúng tôi cũng không phải là ít. Kết quả này góp phần giúp thầy thuốc
chúng ta cần cảnh giác HKTMS ở nhóm bệnh nhân suy tim nặng và cần có một thiết kế nghiên
cứu thích hợp ñể tìm chính xác tỉ lệ mới mắc HKTMS ở bệnh nhân suy tim nặng tại Việt Nam.

Tỉ lệ huyết khối tĩnh mạch sâu trên nhóm bệnh nhân bị ñợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn
mãn tính
Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính là bệnh có tỉ lệ cao trong dân số. Bệnh nhân nhập viện vì ñợt
cấp bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính có nguy cơ cao bị HKTMS do có nhiều yếu tố nguy cơ khác ñi
kèm như: tình trạng bất ñộng, tuổi cao, hút thuốc lá, tình trạng nhiễm trùng, bệnh lý ác tính nền,
suy thất phải.
Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi có 66 bệnh nhân có ñợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mãn
tính. Tất cả bệnh nhân này ñều có tình trạng nhiễm trùng cấp, suy hô hấp cấp và bất ñộng. Có lẽ
do tình trạng rất nặng của bệnh nhân, nhiều bệnh nặng phối hợp kèm với tình trạng nằm lâu ñã
làm tỉ lệ HKTMS trong nhóm nhập viện vì ñợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính trong nghiên
cứu của chúng tôi khá cao (36,4%).

Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Nguyễn Tri Phương 2010

175


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 2 * 2010

Nghiên cứu Y học

Nghiên cứu của chúng tôi cho tỉ lệ HKTMS cao hơn so với các tác giả ở Singapore (0%)(22),
Thổ Nhĩ Kỳ (10,7%)(13) và Đức (10,7%)(26) nhưng lại thấp hơn so với nghiên cứu tại Scotland
(44,8%)(33), có thể do nghiên cứu này các tác giả sử dụng phương pháp tiểu cầu gắn Indium-111
ñể chẩn ñoán HKTMS. Tuy nhiên, hầu hết những nghiên cứu này ñều ñược thiết kế sao cho bệnh
nhân hầu như chỉ có bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính và không có tình trạng phối hợp nhiều bệnh
như các bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi.
Theo khuyến cáo của ACCP thì nhóm bệnh nhân ñợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính thuộc
nhóm nguy cơ cao(15). Tỉ lệ HKTMS 36,4% trên bệnh nhân ñợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính
là con số ñáng lưu ý. Chúng tôi nghĩ rằng rất cần một nghiên cứu tiếp theo với thiết kế phù hợp
hơn, chuyên biệt hơn cho bệnh nhân ñợt cấp bệnh phổi mãn ñể chúng ta có cơ sở ñầy ñủ ñánh giá
nguy cơ HKTMS nhằm ñề ra phương án thích hợp cho việc phòng ngừa như các khuyến cáo quốc
tế.

Tỉ lệ HKTMS trên nhóm bệnh nhân nhồi máu não
Trong số 65 bệnh nhân nhập viện vì bệnh lý nhồi máu não cấp không có triệu chứng huyết
khối tĩnh mạch chi dưới, có 18 bệnh nhân ñược phát hiện có huyết khối chiếm tỉ lệ 27,7%. Đây là
một tỉ lệ khá cao trên bệnh nhân nhồi máu não nằm viện, ñiều mà trước ñây chưa ñược quan tâm
ñầy ñủ ở Việt Nam. Do ñó việc ñiều trị dự phòng HKTMS ñã bị bỏ qua và việc tầm soát thuyên
tắc phổi cũng ít khi ñược thực hiện.
Tương ñương với các nghiên cứu trên dân số Châu Âu (tác giả Warlow(32), Gibberd FB(16),
Sandset(25), Turpie(31), Landi(20)) và Châu Á (Tso(30), Sun(29), De Silva DA(10)) nghiên cứu của
chúng tôi có cỡ mẫu, ñộ tuổi trung bình cũng tương ñồng và tỉ lệ mắc huyết khối tĩnh mạch trên
bệnh nhân nhồi máu não nằm viện là 27,7%. Tỉ lệ mắc bệnh HKTMS trên bệnh nhân nhồi máu
não ở Việt Nam tương ñồng với tỉ lệ ở các nước khác trên thế giới. Tỉ lệ này tương phản với kết
luận của nhiều tác giả trước ñây cho rằng tỉ lệ HKTMS ở Châu Á thấp hơn nhiều so với ở Châu
Âu và việc ñiều trị dự phòng là không cần thiết. Hơn thế nữa, tỉ lệ thực sự của nó còn cao hơn
nữa vì theo tác giả Kearon thì giá trị chẩn ñoán dương tính HKTMS của siêu âm chỉ khoảng
80%(18).

Tỉ lệ HKTMS trên bệnh nhân nội khoa cấp tính có kèm ung thư
Bệnh nhân ung thư gia tăng nguy cơ bị HKTMS do nhiều nguyên nhân, bao gồm các yếu tố
sinh ung, các biện pháp can thiệp như ñặt ñường truyền tĩnh mạch trung tâm, hóa trị, xạ trị và
phẫu thuật. Tỉ lệ HKTMS ở nhóm bệnh nhân ung thư trong nghiên cứu của chúng tôi là 31,9%. Tỉ
lệ này cao hơn so với những nghiên cứu khác. Theo Kroger và cộng sự, tỉ lệ này là 11,8% (60/507
ca)(19), theo nghiên cứu của Helen và cộng sự là 12% (463/3775)(8), theo nghiên cứu của Henrik
Toft Sorensen và cộng sự 21,4% (668/3215)(28). Theo nghiên cứu MEDENOX, tiền sử ung thư
hoặc ñang bị ung thư liên quan có ý nghĩa thống kê với HKTM (OR 1,62; 95%CI, 0,93 – 2,75).
Như ñã trình bày, tỉ lệ HKTMS trong nhóm của chúng tôi cao hơn có thể do bệnh nhân trong
mẫu nghiên cứu của chúng tôi ñồng thời có nhiều bệnh nội khoa cấp tính phối hợp.

Tỉ lệ HKTMS trên nhóm bệnh nhân có nhồi máu cơ tim cấp
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 5 bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp lúc nhập viện nhưng
không thể sử dụng thuốc chống ñông vì có chống chỉ ñịnh, trong ñó có 1 bệnh nhân bị HKTMS
(20%). Kết quả này cũng tương tự như một số nghiên cứu khác trên thế giới. Theo Emerson và
cộng sự(12) tỉ lệ này là 34,15%, theo nghiên cứu của Handley AJ(7) là 29,17%, theo nghiên cứu của
Nicolaides và cộng sự(21) là 15,69% và theo nghiên cứu của Warlow và cộng sự(32) là 17,19%.
Hiện nay do chiến lược ñiều trị kháng ñông trong bệnh lý nhồi máu cơ tim ñược thực hiện
một cách nghiêm ngặt và rất sớm, nên nguy cơ HKTMS trên nhóm bệnh nhân nhồi máu cơ tim
cấp thật sự không còn là vấn ñề ñáng lo lắng. Tuy nhiên, các thầy thuốc tim mạch vẫn cần chú ý
hơn về nguy cơ HKTMS trên những bệnh nhân có chống chỉ ñịnh dùng thuốc kháng ñông.

Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Nguyễn Tri Phương 2010

176


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 2 * 2010

Nghiên cứu Y học

KẾT LUẬN
Tỉ lệ huyết khối tĩnh mạch sâu ở bệnh nhân nội khoa cấp tính nằm viện là 28%, trong ñó cao
nhất ở nhóm bệnh nhân bị ñợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (36,4%) và thấp nhất ở bệnh
nhân nhồi máu cơ tim (20%).

TÀI LIỆUTHAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.

Ageno W (2004), "Another good reason for not ignoring thromboprophylaxis in acutely ill medical patients". Journal of
Thrombosis and Haemostasis, 2, 1889–1891.
Akman MN, Cetin N, Bayramoglu M, et al (2004), "Value of the D-Dimer Test in Diagnosing Deep Vein Thrombosis in
Rehabilitation Inpatients". Arch Phys Med Rehabil, 85, 1091-1094.
Alikhan R, Cohen AT, Combe S, et al (2004), "Risk Factors for Venous Thromboembolism in Hospitalized Patients With
Acute Medical Illness". Arch Intern Med, 164, 963-968.
Ambrosetti M, Spanevello A, Salerno M, Pedretti RF (2003), "Prevalence and prevention of venous thromboembolism in
patients with acute exacerbations of COPD". Thromb Res, 112(4), 203-207.
Bagaria V, Modi N, Panghate A, Vaidya S (2006), "Incidence and risk factors for development of venous thromboembolism in
Indian patients undergoing major orthopaedic surgery: results of a prospective study". Med. J, 82, 136-139.
Belch JJ, Lowe GDO, Ward AG, et al (1981), "Prevention of deep vein thrombosis in medical patients by low-dose heparin".
Scott Med J, 26, 115-117.
Bressollette L, Nonent M, Oger E, et al (2001), "Diagnostic Accuracy of Compression Ultrasonography for the Detection of
Asymptomatic Deep Venous Thrombosis in Medical Patients". Thromb Haemost, 86, 529–533.
Chew HK, et al (2006), "Incidence of Venous thromboembolism and its effect on survival among patients with common
cancers". Arch Intern Med, 166, 458-464.
Coon WW (1976), "Epidemiology of Venous Thromboembolism". Ann. Surg, 186(2), 149-164.
Deidre A. De Silva (2006), "Deep Vein Thrombosis following Ischemic Stroke among Asians". Cerebrovasc Dis, 22, 245-250.
Dunn AS, Brenner A, Halm EA (2006), "The magnitude of an iatrogenic disorder: A systematic review of the incidence of
venous thromboembolism for general medical inpatients". Thromb Haemost, 95, 758–762.
Emerson PA (1977), "Preventing thromboembolism after myocardial infarction: effect of low-dose heparin". Br Med J, 1, 1820.
Erelel M, et al (2002), "The frequency of deep venous thrombosis and pulmonary embolus in acute exacerbation of chronic
obstructive pulmonary disease". Respiratory Medicine, 96, 515-518.
Ferris EJ (1992), "Deep Venous Thrombosis and Pulmonary Embolism: Correlative Evaluation and Therapeutic Implications".
American Roentgen Ray Society, 159, 1149-1155.
Geerts WH, Pineo GF, Heit JA, et al (2004), "Prevention of Venous Thromboembolism - The Seventh ACCP Conference on
Antithrombotic and Thrombolytic Therapy". Chest, 126, 338S-400S.
Gibberd FB, Gould SR, P, M. (1976), "Incidence of deep vein thrombosis and leg oedema in patients with strokes". Neurol
Neurosurg Psychiatry 39, 1222-1225.
Handley AJ (1972), "Low-dose heparin after myocardial infarction". Lancet, 2, 623-624.
Kearon C, Julian JA, Newman TE, Ginsberg JS (1998), "Noninvasive diagnosis of deep vein thrombosis". Ann Intern Med, 128,
663-677.
Kroge K, Weiland D, Ose C, et al (2006), "Risk factor for venous thromboembolic events in cancer patients". Annals of
Oncology, 17(2), 297-303.
Landi G, D'Angelo A, et al (1992), "Venous thromboembolism in acute stroke : prognostic importance of hypercoagulability".
Archives of neurology, 49(3), 279-283.
Nicolaides AN, Renney JT, Kidner PH, Hutchison DC, Clarke MB (1971), "Myocardial infarction and deep-vein thrombosis".
Br Med J, 1, 432-434.
Pek WY, Stan S, Lee P, Chee CB, Wang YT (2001), "Deep vein thrombosis in patients admitted for exacerbation of chronic
obstructive pulmonary disease". Singapore Med J, 42(7), 308-311.
Samama MM (1999), "A Comparison Of Enoxaparin With Placebo For The Prevention Of Venous Thromboembolism In
Acutely Ill Medical Patients". N Engl J Med, 341, 793-800.
Samama MM (2000), "An epidemiologic study of risk factors for deep vein thrombosis in medical outpatients: the Sirius
study". Arch Intern Med, 160, 4315-4320.
Sandset PM, Dahl T, Stiris M, et al (1990), "A double-blind and randomized placebo-controlled trial of low molecular weight
heparin once daily to prevent deep-vein thrombosis in acute ischaemic stroke". Semin Thromb Hemost, 16, 25-33.
Schaehofer B (1998), "Prevalence of deep-vein thrombosis of the leg in patients with acute exacerbation of chronic obstructive
pulmonary disease". Respiration, 65(3), 171-172.
Smeeth L, Thomas S, Hall AJ, Hubbard R, Vallance P (2006), "Risk of deep vein thrombosis and pulmonary embolism after
acute infection in a community setting". Lancet, 367, 1075-1079.
Sorensen HT et al (2000), "Prognosis of cancer associated with venous thromboembolism". N Engl J Med, 343, 1846-1850.
Sun KK, Pang BS, Yang YH (2004), "The prevalence of deep venous thrombosis in hospitalized patients with stroke".
Zhonghua Yi Xue Za Zhi, 84(8), 637-641.
Tso SC (1980), "Deep venous thrombosis after strokes in Chinese". Aust N Z J Med, 10, 513-514.
Turpie AG, Leizorovicz A (2006), "Prevention of venous thromboembolism in medically ill patients: a clinical update ". Med.
J, 82, 806-809.
Warlow C, Douglas AS (1972), "Venous thrombosis following stroke". Lancet, 1, 1305-1316.
Winter JH, Buckler PW, Bautista AP, et al (1983), "Frequency of venous thrombosis in patients with an exacerbation of chronic
obstructive lung disease". Thorax, 38, 605-608.

Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Nguyễn Tri Phương 2010

177



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×