Tải bản đầy đủ

Chỉ định thuốc không thích hợp ở người cao tuổi nội trú Bệnh viện Thống Nhất - Thành phố Hồ Chí Minh

YHọcTP.HồChíMinh*Tập17*Số4*2013

NghiêncứuYhọc

CHỈĐỊNH THUỐC KHÔNG THÍCH HỢP Ở NGƯỜI CAO TUỔI NỘI TRÚ
BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Phùng Hoàng Đạo*, PhạmHòa Bình**, Nguyễn Văn Trí**

TÓM TẮT
Mởđầu: Kê toa thuốc là công việc hàng ngày và thường xuyên của các bác sĩ lâm sàng. Tiến trình dùng
thuốc là một tiến trình phức tạp gồm nhiều bước, từ lúc bác sĩ kê toa, kiểm tra toa thuốc của khoa dược hoặc nhà
thuốc, giao thuốc, hướng dẫn sử dụng cho người bệnh, cuối cùng là theo dõi tác dụng của thuốc và nhận phản
hồi lại từ người bệnh. Ở mỗi bước của tiến trình đều có thể xảy ra những nguy cơ cho người bệnh.Tuy nhiên,
nhiều vấn đềảnh hưởng bất lợi cho sức khỏe có thể phòng tránh được ngay ở bước kê toa đầu tiên của bác
sĩ(11).Chỉđịnh thuốc không thích hợp ở người cao tuổi (NCT) là vấn đề khá phổ biến trên thế giới, tại Việt Nam
vẫn chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này.
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định, tỉ lệ chỉđịnh thuốc không thích hợp, những loại thuốc thường được
chỉđịnh không thích hợp, cách chỉđịnh thuốc không thích hợp thường gặp nhất, xác định những yếu tố liên quan
đến việc chỉđịnh thuốc không thích hợp.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả, cắt ngang, phân tích trên 1000 bệnh nhân
(BN) cao tuổi điều trị nội trú bệnh viện Thống Nhất thành phố Hồ Chí Minh. Dựa vào tiêu chuẩn STOPP và

tiêu chuẩn bổ sung đểđánh giá việc chỉđịnh thuốc không thích hợp ở NCT.
Kết quả: Tỉ lệ chỉđịnh thuốc không thích hợp theo tiêu chuẩn STOPP là 11,7% và tỉ lệ chỉđịnh không thích
hợp chung là 21,7%. Thuốc thường được chỉđịnh không thích hợp là: ức chế calci, NSAIDs, chlorpheniramin,
glibenclamide, furosemide, theophylline, colchicin, clopidogrel, ức chế alpha, amitriptylin, hyoscine-Nbutylbromide, digoxin, ipratropium, bromazepam và codein.
Kết luận: chỉđịnh thuốc không thích hợp ở NCT chiếm tỉ lệ 21,7%, tỉ lệ chỉđịnh thuốc không thích hợp theo
tiêu chuẩn STOPP là 11,7%.
Từ khóa: người cao tuổi, chỉđịnh thuốc không thích hợp, tiêu chuẩn STOPP, tiêu chuẩn bổ sung.
ABSTRACT
INAPPROPRIATE PRESCRIBING IN THE HOSPITALIZED ELDERLY PATIENT OFTHONG NHAT
HOSPITAL- HO CHI MINH CITY
Phung Hoang Dao, PhamHoa Binh, Nguyen Van Tri
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 - No 4 - 2013: 199 - 205
Background: The prescribing is a work daily of clinicans.The medication-use process is a complicated
progression of steps traditionally consisting of prescribing, communicating orders, dispensing, administering,
and monitoring. At each step, the potential for associated health risks exist; however, many preventable problems
can occur at the initial prescribing stage of physician.Inappropriate prescribing in the hospitalized elderly patient
is a common problem in the world;we have not seen any research on this issue in Vietnam.
Objective: To assess the rate of inappropriate prescribing, drugs name are prescribed the most often
inappropriate, factors related to inappropriate prescribing.
Subjects and methods: A descriptive, cross-sectional analysis study of 1000 older patients hospitalized in
Thong Nhat hospital-HCM city, based on STOPP criteria and additional criteria to evaluate inappropriate
prescribing in the older.
* Bệnh viện Thống Nhất,
** Bộ môn Lão khoa ĐHYD - TPHCM
Tác giả liên lạc: BS. Phùng Hoàng Đạo
ĐT: 0903.979.739

email: bshoangdao@yahoo.com

199


NghiêncứuYhọc

YHọcTP.HồChíMinh*Tập17*Số4*2013

Result: The rate of inappropriate prescribing by STOPP criteria is 11.7%, common ratio are 21.7%, the
most commonly prescribed inappropriate medications were calcium antagonist, NSAIDs, chlorpheniramin,
glibenclamide, furosemide, theophylline, colchicin, clopidogrel, alpha antagonist, amitriptylin, hyoscine-Nbutylbromide, digoxin, ipratropium, bromazepam and codein.
Conclusion: The rate of inappropriate prescribing by STOPP criteria is 11.7%, common ratio are 21.7%.


Key work:STOPP criteria, additional criteria, older patient, inappropriate prescribing.

ĐẶT VẤN ĐỀ

ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU

Điều trị bằng thuốc thật sự có hiệu quả vìđã
cải thiện được chất lượng cuộc sống cho rất nhiều
người, giúp chữa bệnh, ngăn ngừa hoặc giảm nhẹ
triệu chứng.Tuy nhiên, thuốc cũng có những tác
dụng không mong muốn nếu chúng ta chỉđịnh
không thích hợp.Điều này đặc biệt quan trọng ở
những bệnh nhân cao tuổi.Các tác dụng phụ và
những vấn đề khác liên quan đến thuốc là rất phổ
biến ở người cao tuổi (NCT).

Đối tương nghiên cứu

Kê toa thuốc là công việc hàng ngày và
thường xuyên của các bác sĩ lâm sàng. Tiến
trình dùng thuốc là một tiến trình phức tạp
gồm nhiều bước, từ lúc bác sĩ kê toa, kiểm tra
toa thuốc của khoa dược hoặc nhà thuốc, giao
thuốc, hướng dẫn sử dụng cho người bệnh, cuối
cùng là theo dõi tác dụng của thuốc và nhận
phản hồi lại từ người bệnh. Ở mỗi bước của tiến
trình đều có thể xảy ra những nguy cơ cho
người bệnh.Tuy nhiên, nhiều vấn đềảnh hưởng
bất lợi cho sức khỏe có thể phòng tránh được
ngay ở bước kê toa đầu tiên của bác sĩ(11).
Vấn đề chỉđịnh thuốc không thích hợp cũng
đãđược nhắc đến nhiều trong bệnh viện qua các
buổi giao ban, kiểm thảo tử vong, bình toa thuốc,
xuất toán của cơ quan Bảo hiểm Y tế (BHYT). Mới
đây Bộ Y tế ra Thông tư 23/2011/TT-BYT ban
hành ngày 10.06.2011 về việc hướng dẫn sử dụng
thuốc ở cơ sở y tế có giường bệnh. Điều này nói
lên tính cấp thiết của việc chỉđịnh thuốc thích hợp
cho người bệnh.Chúng ta vẫn chưa biết được tỉ lệ
chỉđịnh thuốc không thích hợp ở NCT Việt Nam
là bao nhiêu, và những yếu tố liên quan hoặc ảnh
hưởng đến việc chỉđịnh thuốc không thích hợp
này.

200

Tiêu chuẩn lựa chọn
Chọn những bệnh nhân cao tuổi (≥ 60), điều
trị nội trú bệnh viện Thống Nhất-thành phố Hồ
Chí Minh trong khoảng thời gian một năm, có
thời gian nhập viện từ ngày 01.6.2010 đến
31.5.2011 tại tất cả các khoa: nội tổng quát, nội tim
mạch, tiêu hóa, nội thần kinh, hô hấp, nội thận,
nhiễm, ung thư, ngoại tổng quát, ngoại chấn
thương, mắt, tai-mũi-họng.
Tiêu chuẩn loại trừ
Loại trừ những trường hợp có thời gian nằm
viện ≤ 24 giờ, bệnh được điều trịở khoa y học cổ
truyền.
Phương pháp nghiên cứu
Mô tả, cắt ngang, phân tích.
Phương pháp tiến hành

Cách tiến hành và phương pháp thu thập số
liệu
Nghiên cứu điều tra trực tiếp qua hồ sơ bệnh
án, các báo cáo thống kê tại Bệnh viện Thống
Nhất-thành phố Hồ Chí Minh.
Các biến số cần thu thập: tuổi, giới, bảo hiểm
y tế (BHYT), ngày nhập viện, ngày xuất viện, cân
nặng, creatinin/máu, bệnh chính, bệnh kèm theo,
chuyên khoa bác sĩ, trình độ bác sĩ, thâm niên bác
sĩ, số chuyên khoa mà bệnh nhân được điều trị, số
bác sĩ tham gia điều trị trên mỗi bệnh nhân, số
thuốc được chỉđịnh trung bình mỗi ngày, số thuốc
và tên cụ thể theo hoạt chất từng loại thuốc được
chỉđịnh trong quá trình nằm viện, loại thuốc được
chỉđịnh không thích hợp tiêu chuẩn STOPP và
không thích hợp theo tiêu chuẩn bổ sung. Thông
tin về trình độ và thâm niên của bác sĩđược xác
định bằng cách hỏi trực tiếp bác sĩ cóliên quan


YHọcTP.HồChíMinh*Tập17*Số4*2013
trong nghiên cứu, trường hợp không rõ hoặc
nghi ngờ sẽđược xác định thông qua lãnh đạo
khoa hoặc phòng tổ chức. Chúng tôi không đưa
liều lượng thuốc như là một tiêu chuẩn đểđánh
giá việc chỉđịnh thuốc không thích hợp vào trong
nghiên cứu này, bởi vìở NCT có thểđược chỉđịnh
liều thuốc điều trị thấp hơn so với khuyến cáo ghi
trong dược điển, nhưng vẫn được cho là thích hợp
trên thực tế lâm sàng. Hơn nữa, liều lượng
khuyến cáo ghi trong dược điển là liều lượng của
nhà sản xuấtđược nghiên cứu ở người trẻ chứ
không phải là liều lượng đã nghiên cứu trên
NCT(8, 9). Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0.
Các phép kiểm được sử dụng trong nghiên cứu là
chi bình phương, chính xác của Fisher, và
Kruskal Wallis.

KẾT QUẢ
Trong thời gian một năm, từ 01.6.2010 đến
31.5.2011, tổng số bệnh nhân nhập viện điều trị
nội trú tại bệnh viện Thống Nhất-thành phố Hồ
Chí Minh là 32.207 BN, trong đó có 13.688 BN
cao tuổi, chiếm tỉ lệ 42,5%.
Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện ở 1000
BN cao tuổi được chọn trong số những BN cao
tuổi trên và có các kết quả như sau:
Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Bảng 1.Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Độ tuổi của nhóm nghiên cứu
Tuổi nhỏ nhất
60
Tuổi lớn nhất
102
Tuổi trung vị (KTPV)
75 (69-80)
Tuổi trung bình
74,9 ± 7,6
Tần số (n)
Tỉ lệ (%)
60-69
260
26,0%
Nhóm tuổi
70-79
448
44,8%
≥ 80
292
29,2%
Nam
633
63,3
Giới
Nữ
367
36,7

868
86,8
Bảo hiểm
y tế
Không
132
13,2
Số ngày nằm viện
Ngày
Thời gian ngắn nhất
2
Thời gian dài nhất
134
Giá trị trung vị
12 (7-9)
Giá trị trung bình
15,3 ± 13,7

NghiêncứuYhọc
Bảng 2.Chỉđịnh thuốc trong nghiên cứu.
Thuốc được chỉ định mỗi ngày
Tối thiểu
1
Tối đa
19
Trung vị (KTPV)
7 (6-9)
Trung bình
7,4 ± 2,4
Thuốc được chỉ định trong quá trình nằm viện
Tối thiểu
1
Tối đa
33
Trung vị (KTPV)
10 (7-13)
Trung bình
10,5 ± 4,7
Nhóm thuốc
Tần số (n)
Tỉ lệ (%)
1-4 thuốc
55
5,5
5-8 thuốc
313
31,3
9-12 thuốc
354
35,4
13-16 thuốc
184
18,4
≥ 17 thuốc
94
9,4

Bảng 3.Nhóm thuốc thường được chỉđịnh.
Nhóm thuốc
Tim mạch
Hô hấp
Vitamin
Thần kinh
Kháng sinh
Kháng viêm-giảm đau
Tiêu hóa
Mắt
Ung thư
Nội tiết
Khác

Tần số (n)
287
154
106
94
80
80
74
38
30
23
34

Tỉ lệ (%)
28,7
15,4
10,6
9,4
8,0
8,0
7,4
3,8
3,0
2,3
3,4

Bảng 4. Thuốc được chỉđịnh trung bình theo chuyên
khoa.
Số
Số thuốc
thuốctối
tối thiểu
đa
Hô hấp
4
26
Tim mạch
5
31
Nội thần kinh
4
25
Nội thận
4
20
Nội tổng quát
4
25
Lão khoa
3
33
Ung thư
1
18
Nhiễm
4
28
Tiêu hóa
3
20
Ngoại tổng
2
32
quát
Ngoại CTCH
3
23
Tai-Mũi-Họng
3
13
Mắt
2
14

Chuyên khoa

Trung
bình

Trung vị
(KTPV)

13,8 ± 4,9 13,5 (7-26)
12,6 ± 5,1 11,5 (6-26)
12,0 ± 3,9 11 (6-21)
11,5 ± 4,9 10,5 (8-16)
11,0 ± 4,3 11 (5-21)
10,7 ± 4,5 10 (5-30)
9,5 ± 3,6 10 (5-17)
9,2 ± 4,2 8 (4-24)
9,3 ± 4,1 8 (6-17)
8,6 ± 5,6

7 (7-30)

8,4 ± 4,8
6,8 ± 2,3
6,0 ± 2,4

7 (6-20)
6 (3-10)
5 (4-12)

KTPV: Khoảng Tứ Phân Vị

201


YHọcTP.HồChíMinh*Tập17*Số4*2013

NghiêncứuYhọc
Bảng 5.Những thuốc thường được chỉđịnh không
thích hợp theo tiêu chuẩn STOPP.
Loại thuốc
Ức chế calci
Trùng thuốc
NSAIDs
Chlorpheniramin
Glibenclamide
Furosemide
Theophylline
Colchicin
Clopidogrel
Ức chế alpha
Amitriptyline
Hyoscine-N-butylbromide
Digoxin
Ipratropium
Bromazepam
Codein
Tổng

Tần số (n)
25
18
12
10
11
11
8
2
1
1
1
1
1
1
1
1
105

Tỉ lệ (%)
2,8
2,0
1,4
1,1
1,2
1,2
0,9
0,2
0,1
0,1
0,1
0,1
0,1
0,1
0,1
0,1
11,7

Bảng 6.Chỉđịnh thuốc không thích hợp theo tiêu
chuẩn bổ sung.
Chỉ định
Không thích hợp (n = 123)
Có chẩn đoán mà
không chỉ định thuốc
Chỉ định thuốc có chống chỉ định
Có thuốc mà không có chẩn đoán
Chỉ định kháng sinh điều trị
không làm kháng sinh đồ
Không làm xét nghiệm theo dõi điều trị
Chỉ định thực phẩm chức năng
Thích hợp (n = 877)

Tổng
Tỉ lệ
(N = 1000) (%)
123
12,3
14

1,4

11
82

1,1
8,2

10

1,0

6
0
877

0,6
0
87,7

Bảng 7.Chỉđịnh thuốc không thích hợp chung (gồm
STOPP & tiêu chuẩn bổ sung).
Chỉ định thuốc
Thích hợp
Không thích hợp

Tần số (n)
783
217

Tỉ lệ (%)
78,3
21,7

Những yếu tố liên quan đến chỉ định thuốc
không thích hợp
Bảng 8.Chỉđịnh thuốc không thích hợp và thời gian
nằm viện.
Chỉ định thích Chỉ định không
hợp
thích hợp
P
(n)
(%)
(n)
(%)
≤ 12 (n =533)
430
80,7
103
19,3
> 12 (n = 467)
353
75,6
114
24,4 0,052
Tổng (N = 1000)
783
78,3
217
21,7
Mốc thời gian
(ngày)

202

Chỉ định thích Chỉ định không
hợp
thích hợp
P
(n)
(%)
(n)
(%)
≤ 15 (n = 635)
523
81,1
112
18,9
> 15 (n = 355)
260
73,2
95
26,8 0,004
Tổng (N = 1000)
783
78,3
217
21,7
Mốc thời gian
(ngày)

60

Tỉ lệ %

51,7
30,2

40
19,3
20

6,3

Chỉ định thuốc
không thích hợp

0
1-4
5-8 9-12 >= 13
thuốc thuốc thuốc thuốc
p< 0,001
Biểu đồ 2. Chỉđịnh thuốc không thích hợp & số
thuốc chỉđịnh trung bình mỗi ngày
Bảng 9. Chỉđịnh không thích hợp theo chuyên khoa.
Chỉ địnhkhông
thích hợp
Chuyên khoa
(n = 217)
BS
Tần
Tỉ lệ (%)
số
Nội thận
5
41,7
Hô hấp
17
30,4
Đa khoa
23
30,3
Nội tổng quát
51
24,8
Thần kinh
17
24,6
Lão khoa
35
23,8
Tiêu hóa
10
22,2
CTCH
7
21,2
Tim mạch
24
20,7
Tai-Mũi-Họng
4
4
Nhiễm
8
11,9
Ngoại tổng quát 8
11,6
Mắt
3
7,9
Ung thư
3
7,3

Chỉ địnhthích
hợp(n = 783)
Tần
số
7
39
53
155
52
112
35
26
92
19
59
61
35
38

p

Tỉ lệ (%)
58,3
69,6
68,7
75,2
75,4
76,2
77,8
78,8
79,3
82,6
88,1
88,4
92,1
92,7

0,002

Bảng 10.Mối liên quan giữa chỉđịnh đa thuốc với
chỉđịnh thuốc không thích hợp chung.
Chỉ định không
thích hợp
Số thuốc
p
Tần số
Tỉ lệ
Tần số (n) Tỉ lệ (%)
(n)
(%)
≥ 5(n = 945)
734
77,7
211
22,3
0,044
< 5(n = 55)
49
89,1
6
10,9
Tổng
783
78,3
217
21,7
(N = 1000)
Chỉ định thích hợp


YHọcTP.HồChíMinh*Tập17*Số4*2013

NghiêncứuYhọc

Bảng 11.Mối liên quan giữa chỉđịnh thuốc không
thích hợp với nhóm tuổi.

của Phạm Thắng(10), tỉ lệ NCT từ 70-79 tuổi chiếm
đến 44,4%. Trong nghiên cứu Trần Văn Thanh
Phong tại Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2011, bệnh
nhân cao tuổi cóđộ tuổi trung bình là72,9 ± 8,0,
nhóm tuổi từ 60-69 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất
(16,1%), nhóm 70-79 tuổi chiếm 13,3% và nhóm
tuổi trên 80 tuổi chiếm tỉ lệ thấp nhất (6,0%). Theo
báo cáo chung tổng quan y tế Việt Nam năm
2010 của Bộ Y tế, thì tuổi thọ trung bình của người
Việt Nam năm 2010 là 72,8 tuổi (nam 70,2 tuổi và
nữ 75,6 tuổi). Phải chăng do tuổi thọ trung bình
của người Việt Nam là 72,8 tuổi, nên tuổi trung
bình này rơi vào đúng nhóm tuổi chiếm tỉ lệ cao
nhất (44,8%) là nhóm tuổi 70-79 tuổi.

Chỉ định
Chỉ định không
thích hợp
thích hợp
Nhóm tuổi
p
Tỉ lệ
Tần số (n)
Tần số (n) Tỉ lệ (%)
(%)
60-69 (n = 260)
216
83,1
44
16,9
70-79 (n = 448)
353
78,8
95
21,2 0,02
≥ 80 (n = 292)
214
73,3
78
26,7
Tổng (N = 1000)
783
78,3
217
21,7

BÀNLUẬN
Trong nghiên cứu của chúng tôi, NCT chiếm
tỉ lệ 42,5%. Theo nghiên cứu của Trịnh Thị Bích
Hà(14), Trần Văn Thanh Phong(13) và Nguyễn
Thành Danh(7) cho thấy, tỉ lệ NCT lần lượt là
37,7%, 35,4% và 34,4%, kết quả về tỉ lệ NCT của 3
tác giả này gần tương tự nhau. Tuy nhiên, các kết
quả này đều thấp hơn kết quả của chúng tôi
(42,5%). Điều này có thểđược giải thích, bệnh viện
Thống Nhất là bệnh viện dành riêng cho cán bộ
nghỉ hưu, nên tỉ lệ NCT cao hơn so với kết quả
của những nghiên cứu trên. Trong nghiên cứu
của chúng tôi, nam giới chiếm đa số (63,3%), nữ
chiếm 36,7% (bảng 1), kết quả này cũng tương
đương với kết quả của Nguyễn Thành Danh (65%
và 35%), và tương tự như trong nghiên cứu của
Trần Văn Thanh Phong tại bệnh viện Chợ Rẫy số
bệnh nhân cao tuổi nam giới (52,3%) vẫn nhiều
hơn nữ giới (47,7%). Tỉ lệ NCT nam giới trong
nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với nữ giới
và cao hơn so với những nghiên cứu trên. Điều
này được giải thích là do đặc điểm bệnh viện
Thống Nhất, bệnh viện điều trị cho cán bộ trung
và cao cấp nghỉ hưu, nên nam giới chiếm ưu thế
hơn so với nữ. Theo tác giả Trần Anh Tuấn(12), cán
bộ công chức là nữ luôn thấp hơn nam giới, tổng
số cán bộ, công chức từ cấp huyện trở lên, công
chức nữ chiếm 31,9%, trong đó các cơ quan Nhà
nước ở Trung ương, công chức nữ chiếm 34,5%;
các cơ quan Nhà nước ởđịa phương, công chức nữ
chiếm 28,7%; ở cấp xã, công chức nữ chiếm
16,2%. Tuổi trung bình là 74,9 ± 7,6, nhóm tuổi
70-79 chiếm tỉ lệ nhiều nhất (44,8%), kếđến là
nhóm tuổi từ 80 trở lên chiếm 29,2%, và thấp nhất
là nhóm tuổi 60-69 (26%) (bảng 1). Nghiên cứu

Số lượng thuốc được chỉđịnh trung bình mỗi
ngày: 7,4 thuốc, số thuốc được chỉđịnh từ 5-8
thuốc chiếm tỉ lệ 31,3%, từ 9-12 thuốc chiếm
35,4% và từ 13 thuốc trở lên chiếm 27,8% (bảng
2). Nghiên cứu của Harugeri tại Ấn Độ(4) năm
2010, số lượng thuốc được chỉđịnh nhiều nhất 5-8
loại thuốc, chiếm tỉ lệ 36,6%, theo Nguyễn Thành
Danh(7)và Trần Văn Thanh Phong(13) số lượng
thuốc được chỉđịnh trung bình lần lượt là 7,9
thuốc và 8,2. Kết quả này không khác biệt so với
nghiên cứu của chúng tôi. Nhóm thuốc thường
được chỉđịnh trong nghiên cứu của chúng tôi là:
tim mạch 28,7%, hô hấp 15,4%, vitamin 10,6%,
thần kinh 9,4%, kháng sinh 8,0%, kháng viêmgiảm đau 8,0%, tiêu hóa 7,4%, mắt 3,8%, ung thư
3,0%, nội tiết 2,3%. Nghiên cứu của Trần Văn
Thanh Phong, thì nhóm thuốc tiêu hóa là nhóm
thuốc thường được chỉđịnh nhiều nhất, có 72,7%
bệnh nhân cao tuổi nhập viện có chỉđịnh nhóm
thuốc tiêu hóa, các nhóm thuốc thường được
chỉđịnh ở NCT lần lượt tiếp theo là nhóm thuốc
tim mạch (61,0%), nhóm thuốc kháng sinh
(59,6%), thần kinh-cơ (50,7%), các nhóm thuốc
còn lại như vitamin, nhóm thuốc hô hấp, và nội
tiết thì chỉđịnh không nhiều. Thuốc thường được
chỉđịnh trong nghiên cứu của Nguyễn Thành

203


YHọcTP.HồChíMinh*Tập17*Số4*2013

NghiêncứuYhọc
Danh: thuốc tim mạch 28,5%, kháng sinh 23,5%,

thuốc, theo nghiên cứu của Cartwright(2) năm

thần kinh 12%, giảm đau-kháng viêm 11,9%, hô

2007, thuốc được chỉđịnh không thích hợp thường

hấp 10,5%, tiêu hóa 9,2%, và vitamin 3,7%. Số

gặp là thuốc tim mạch và chlorpheniramin, theo

thuốc được chỉđịnh nhiều nhất ở các chuyên khoa

nghiên cứu của Caitriona Cahir(1) năm 2010 tại Ai

hô hấp với trung vị là 13,5 thuốc, tim mạch 11,5,

Len, những thuốc thường được chỉđịnh không

nội thần kinh 11, nội tổng quát 11, nội thận 10,5,

thích hợp theo tiêu chuẩn STOPP: trùng thuốc

lão khoa và ung thư cùng là 10 thuốc, nhiễm và

4,8%, aspirin 1,4%, theophylline 1,2%, NSAIDs

tiêu hóa 8 thuốc, ngoại tổng quát bằng với ngoại

0,8%, digoxin 0,4%, và thiazid 0,4%.

CTCH là 7 thuốc vàít hơn là khoa Tai-Mũi-Họng

Bệnh nhân có thời nằm viện trên 15 ngày có tỉ

6 thuốc và chuyên khoa mắt làít nhất với 5 thuốc

lệ chỉđịnh thuốc không thích hợp 26,8%, cao hơn

(bảng 4). Nghiên cứu của Nguyễn Thành Danh,

so với bệnh nhân nằm viện từ 15 ngày trở xuống

số lượng thuốc được chỉđịnh ở chuyên khoa: nội

(16,9%) (p < 0,05) (bảng 8). Nghiên cứu của

thần kinh (9,8 ± 3,5), nội tổng quát (8,0 ± 2,5), nội

Nguyễn Thành Danh, những bệnh nhân có thời

tim mạch (7,9 ± 2,5), ngoại tổng quát (7,4 ± 2,4), ít

gian nằm viện từ 9 ngày trở xuống có tỉ lệ chỉđịnh

nhất ở chuyên khoa ngoại CTCH (6,0 ± 1,8) và

thuốc không thích hợp là 31%, trên 9 ngày có tỉ lệ

ngoại thần kinh (6,0 ± 1,6). Số thuốc được chỉđịnh

chỉđịnh thuốc không thích hợp là 38,3% (p <

trung bình ở nhóm tuổi 60-69 là 9,9 thuốc, 70-79

0,05), bệnh nhân càng nằm viện lâu hơn thời gian

là 10,5 thuốc, từ 80 tuổi trở lên là 11,3 thuốc (p <

nằm viện trung bình, càng tăng tỉ lệ chỉđịnh

0,001) (biểu đồ 1), theo nghiên cứu của Nguyễn

thuốc không thích hợp (p < 0,05). Chỉđịnh thuốc

Thành Danh, số thuốc được chỉđịnh trung bình ở

không thích hợp thường gặp ở chuyên khoa nội

nhóm tuổi 60-69 tuổi là 7,6 thuốc, nhóm 70-79

thận 41,7%, hô hấp 30,4%,đa khoa 30,3%, nội tổng

tuổi 7,9 thuốc, ≥ 80 là 8,4 thuốc (p < 0,001). Điều

quát 24,8%, thần kinh 24,6%, lão khoa 23,8%, tiêu

này nói lên càng chỉđịnh nhiều thuốc càng gia

hóa 22,2%, ngoại CTCH, tim mạch 20,7%, vàít

tăng tỉ lệ chỉđịnh thuốc không thích hợp. Những

nhất ở chuyên khoa mắt 7,9%, và ung thư 7,3% (p

loại thuốc được chỉđịnh không thích hợp theo tiêu

< 0,05) (bảng 9). Nghiên cứu của Nguyễn Thành

chuẩn STOPP chiếm 11,7%, trong đó: ức chế calci

Danh, tỉ lệ chỉđịnh thuốc không thích hợp nhiều

2,8%, NSAIDs 1,4%, chlorpheniramin 1,1%,

nhất là: nội tổng quát (55,6%), nội tim mạch

glibenclamide

1,2%,

(20,7%), ngoại tổng quát (11,2%), thần kinh

theophylline0,9%, colchicin 0,2%, clopidogrel

(8,9%), vàít nhất ở chuyên khoa ngoại chỉnh hình

0,1%, ức chế alpha 0,1%, amytriptylline 0,1%,

(0,9%) (p < 0,001). Nghiên cứu của Micheal(6), tỉ lệ

hyoscine-N-butylbromide 0,1%, digoxin 0,1%,

chỉđịnh không thích hợp thường gặp ở các

ipratropium 0,1%, bromazepam 0,1%, codein

chuyên khoa: tim mạch (50%), nội tổng quát

0,1%, và chỉđịnh trùng thuốc 2,0% (bảng 5), trong

(45%), thận (40%), hô hấp (38%), thần kinh (30%),

nghiên cứu của Nguyễn Thành Danh, tỉ lệ

và lão khoa (26%)(8), theo Daniela Fialova(3), tỉ lệ

chỉđịnh thuốc không thích hợp theo tiêu chuẩn

chỉđịnh thuốc không thích hợp thường gặp ở bác

STOPP là 10,8%, các thuốc chỉđịnh không thích

sĩ tim mạch (48%), đa khoa (33%) và lão khoa

hợp là: chlorpheniramin, furosemide, corticoid,

(24%). Tỉ lệ chỉ thuốc không thích hợp ở nhóm

NSAIDs, ức chế calci, aspirin, hyoscine-N-

chỉđịnh đa thuốc (≥ 5 thuốc) vànhóm không đa

butylbromide, theophylline, và chỉđịnh trùng

thuốc (< 5 thuốc) lần lượt là 22,3% và 10,9% (p <

204

1,2%,

furosemide


YHọcTP.HồChíMinh*Tập17*Số4*2013

NghiêncứuYhọc

Danh(7) cũng cho kết quả tương tự, tỉ lệ chỉđịnh

hợp nhiều hơn những bệnh nhân có thời gian
nằm viện từ 15 ngày trở xuống.

thuốc không thích hợp ởnhóm chỉđịnh đa thuốc

TÀILIỆUTHAMKHẢO

là 35,6% cao hơn so với nhóm chỉđịnh không đa

1.

0,05) (bảng 10). Nghiên cứu của Nguyễn Thành

thuốc (15,4%) (p < 0,001). Tỉ lệ chỉđịnh thuốc
không thích hợp tăng dần theo nhóm tuổi, nhóm

2.

60-69 tuổi tỉ lệ chỉđịnh thuốc không thích hợp
16,9%, nhóm tuổi 70-79 là 21,2% và caonhất ở
nhóm ≥ 80 tuổi với tỉ lệ 26,7% (p < 0,05) (bảng 11),
trong nghiên cứu của Nguyễn Thành Danh, tỉ lệ
chỉđịnh thuốc không thích hợp ở nhóm tuổi 70-79

3.

4.

là 38,4%,nhóm ≥ 80 tuổi là 36,5% và ít nhất ở
nhóm tuổi 60-69 là 28,1% (p< 0,05).
5.

KẾT LUẬN
Tỉ lệ chỉđịnh thuốc không thích hợp theo tiêu
chuẩn STOPP là 11,7% và tỉ lệ chỉđịnh không

6.

thích hợp chung là 21,7%.
Những loại thuốc thường được chỉđịnh không
thích

hợp

là:

ức

chế

calci,

7.

NSAIDs,

furosemide,

8.

theophylline, colchicin, clopidogrel, ức chế alpha,

9.

chlorpheniramin,

glibenclamide,

amitriptylin, hyoscine-N-butylbromide, digoxin,
ipratropium, bromazepam và codein. Cách

10.

chỉđịnh thuốc không thích hợpthường gặp là có
chỉđịnh thuốc mà không có chẩn đoán.

11.

Có 4 yếu tố liên quan đến việc chỉđịnh thuốc
không thích hợp là:

12.

Càng chỉđịnh nhiều thuốc càng gia tăng tỉ lệ
chỉđịnh thuốc không thích hợp.

13.

Chỉđịnh thuốc không thích hợp tăng dần theo
nhóm tuổi, cao nhất ở nhóm tuổi từ 80 trở lên.

14.

Chỉđịnh thuốc không thích hợp thường gặp
ở bác sĩ thuộc các chuyên khoa: nội thận, hô
hấp, đa khoa, nội tổng quát, lão khoa, thần
kinh, tiêu hóa, tim mạch.
Những bệnh nhân có thời gian nằm viện
trên 15 ngày, có tỉ lệ chỉđịnh thuốc không thích

Caitriona Cahir, Tom Fahey, Mary Teeling et al (2010).
“Potentially inappropriate prescribing and cost outcomes for
older people: a national population study”, British Journal of
Clinical Pharmacology, vol. 69(5), pp. 543-546.
Cartwright O.M., Moulin J, and H. L.S (2007).“A
Retrospective valuation of Potentially Inappropriate
Medication Use in Hospitalized Elderly Patients”, Proceedings
of the 3rd Annual GRASP Symposium, Wichita State University,
pp. 42.
Daniela Fialova Eva,Topinkova et al. (2005). “Potentially
Inappropriate Medication Use Among Elderly Home Care
Patients in Europe”, JAMA, vol. 293(11), pp. 1355.
Harugeri A, Joseph J, and P. G (2010).“Potentially
inappropriate medication use in elderly patients: A study of
prevalence and predictors in two teaching hospitals”, J
Postgrad Med, vol. 56,pp. 186-91.
Lund BC, et al. (2010).“Inappropriate prescribing predicts
adverse drug events in older adults”,Ann Pharmacother (44),
pp. 957-63.
Michael B. Rothberg, Penelope S, Pekow Fengjuan Liu et al
(2008). “Potentially Inappropriate Medication Use in
Hospitalized Elders”, Journal of Hospital Medicine, vol. 3(2),
pp. 95
Nguyễn Thành Danh (2012).“Chỉđịnh thuốc không thích hợp
ở NCT nội trú Bệnh viện Củ Chi năm 2010”,Luận án chuyên
khoa cấp 2, Đại học y dược Tp. Hồ Chí Minh.
Patrick Milotov (2009).“Physiological Alterations with
Aging”, Drug-Related Problems in the Elderly, pp. 10-18.
Perucca, E.,(2007). “Age-related changes in pharmacokinetics:
predictability and assessment methods”, Int Rev Neurobiol,
vol. 81, pp. 183–199.
Phạm Thắng (2009).“Mô hình bệnh tật của NCT điều trị tại
viện Lão khoa Quốc gia”, Tạp chí Y học thực hành, tập 666(6), tr.
41-44.
Robert L Page, S.A.L., Lucinda L Bryant, J Mark Ruscin
(2010).“Inappropriate prescribing in the hospitalized elderly
patient: Defining the problem, evaluation tools, and possible
solutions”, Clinical Interventions in Aging, vol. 5, pp. 75-87.
Trần Anh Tuấn (2012).Vấn đề bình đẳng giới trong quá trình tiếp
tục cải cách chếđộ công vụ, công chức. Truy cập ngày 12 tháng 9
năm, tại websitehttp://www.caicachhanhchinh.gov.vn/
Trần Văn Thanh Phong (2011).“Mô hình vàđặc điểm Bệnh tật ở
NCT điều trị nội trú Bệnh viện Chợ Rẫy”, Luận văn Thạc sĩ Y
học, Đại học y dược Tp. Hồ Chí Minh.
Trịnh Thị Bích Hà (2011).“Mô hình vàđặc điểm bệnh tật của
người cao tuổi điều trị nội trú Bệnh viện Nhân Dân Gia Định từ
01/01/2009 đến 31/12/2009”, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú
năm 2011, Đại học y dược Tp. Hồ Chí Minh.

Ngày nhận bài: 27/09/2012
Ngày phản biện đánh giá bài báo: 18/02/2013
Ngày bài báo được đăng: 27/12/2013

205



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×