Tải bản đầy đủ

Thuyên tắc ối: Báo cáo ca lâm sàng, chẩn đoán và điều trị

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 4 * 2014

Nghiên cứu Y học

THUYÊN TẮC ỐI: BÁO CÁO CA LÂM SÀNG, CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ
Huỳnh Văn Bình*, Đinh Hữu Hào*, Huỳnh Vĩnh Phúc*, Nguyễn Trung Thành*

TÓM TẮT
Thuyên tắc ối là một cấp cứu sản khoa nghiêm trọng, xảy ra đột ngột, điều trị rất khó khăn và có tỷ lệ tử
vong cao. Chúng tôi đã cứu sống cả mẹ và con một trường hợp bị thuyên tắc ối, xảy ra ngay cuối giai đoạn
chuyển dạ. Các triệu chứng lâm sàng xảy ra là bệnh nhân đột ngột tím đen toàn thân, lơ mơ, co giật, tụt huyết áp,
rối loạn đông máu nghiêm trọng. Bệnh nhân đã được chẩn đoán ngay là thuyên tắc ối và tiến hành phẫu thuật
khẩn cấp, hồi sức tích cực, truyền hồng cầu lắng, huyết tương tươi đông lạnh, kết tủa lạnh và tiểu cầu. Bệnh nhân
hồi phục và được chuyển khoa sau 3 ngày, thời gian nằm viện là 12 ngày.
Từ khóa: thuyên tắc ối, cấp cứu sản khoa, tử vong mẹ, tử vong thai nhi, tử vong chu sản.

SUMMARY
AMNIOTIC FLUID EMBOLISM: CASE REPORT, DIAGNOSIC AND TREATMENT
Huynh Van Binh, Dinh Huu Hao, Huynh Vinh Phuc, Nguyen Trung Thanh
*


Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 - Supplement of No 4- 2014: 152 - 157

Amniotic fluid embolism is a serious obstetric emergencies, sudden onset, treatment is difficult and has a high
mortality rate. We have experienced a case of amniotic fluid embolism, which occurs at the end stage of labor, that
both the mother and child survived,. The clinical symptoms that occur suddenly cyanotic patients, coma, seizure,
hypotension, severe coagulopathy. The patient was diagnosed immediately as amniotic embolism and emergency
surgery, intensive care, had tranfusion of red blood, fresh frozen plasma, cryoprecipitate and platelet. The patient
recovered and was transferred after three days, length of hospital stay was twelve days.
Key words: obstetric emergencies, amniotic fluid embolism, maternal morbidity, maternal mortalitity,
neonatal morbidity, stillbirth.
huyết âm đạo, được chẩn đoán con lần 2, thai
Thuyên tắc ối lần đầu tiên được Meyer mô
(8)
38,5 tuần, ngôi đầu, chuyển dạ tiềm thời, ối rỉ
tả vào năm 1926 , nhưng đến năm 1941
giờ thứ 4. PARA 1021, con lần 1 sanh thường,
Steiner và Lushbaugh mới mô tả đặc điểm
không ghi nhận bất thường. Thai kỳ lần này
bệnh học, chẩn đoán và điều trị bệnh thuyên
(12)
khám thai đầy đủ, không ghi nhận thai kỳ bất
tắc ối . Tần suất thuyên tắc ối xảy ra thay đổi
thường. Sản phụ nhập viện trong tình trạng
từ 1/8000 đến 1/800000 trường hợp sanh tùy
tỉnh, niêm hồng, mạch 80 lần/phút, huyết áp
báo cáo. Tỷ lệ tử vong mẹ từ 10 – 85% và tử
(3,7,9)
90/60 mmHg, thân nhiệt 370C, tim thai 140
. Tại Việt Nam, chưa
vong con khoảng 10%
lần/phút, cân nặng 56 kg, cao 150 cm, ước
có khảo sát nào về tần suất và tỷ lệ tử vong
lượng cân thai khoảng 3500g. Kết quả xét
thuyên tắc ối. Chúng tôi báo cáo về một
nghiệm máu lúc nhập viện Hb 11,1 g/dl, bạch
trường hợp thuyên tắc ối được chẩn đoán kịp
cầu 10,32 K/UL, tiểu cầu 299 Giga/L, PT 11,3
thời, các biện pháp hồi sức hợp lý cứu sống
giây, INR 0,95, aPTT 32,8 giây, Fibrinogen 4,15
được cả mẹ và con.


g/L, canxi máu 1,18 mmol/L.

CA LÂM SÀNG

Sản phụ 36 tuổi, nhập viện lúc 8 giờ vì ra

Sản phụ được chuyển vào phòng sanh
theo dõi sanh ngã âm đạo lúc 11 giờ. Lúc

*

Khoa Phẫu Thuật-Gây Mê Hồi Sức - BV Nhân Dân Gia Định
Tác giả liên lạc: BS Huỳnh Văn Binh
ĐT: 0918051820

152

Email: bshuynhvanbinh@gmail.com

Chuyên Đề Gây Mê Hồi Sức


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 4 * 2014
12g40, sản phụ chuyển dạ ối vỡ hoàn toàn,
xanh loãng, ghi nhận nhịp tim thai giảm 115
lần/phút, sản phụ được cho thở oxy 3 lít/phút,
nằm nghiêng trái. Sau 10 phút, sản phụ đột
ngột co rút nhẹ 2 tay, giật nhẹ phần đầu, mạch
80 lần/phút, huyết áp khó đo, tim thai 100 –
140 lần/phút, 5 phút sau bệnh nhân tím nhẹ
toàn thân, tim thai 80 – 100 lần/phút, ối xanh,
chẩn đoán của bác sĩ khoa sản: Thai suy cấp/
hạ canxi máu, sốc chưa rõ nguyên nhân. Chỉ
định: mổ lấy thai tối khẩn.
Sản phụ được chuyển ngay lên phòng mổ
trong tình trạng tri giác lơ mơ, tím đen toàn
thân, mạch 130 lần/phút, huyết áp 70/40
mmHg, SpO2 65% với oxy mũi 3 lít/phút, tim
nhanh đều, rõ, không âm thổi, âm phế bào rõ,
không ran. Với biểu hiện lâm sàng trên, chúng
tôi chẩn đoán THAI SUY CẤP, NGHI
THUYÊN TẮC ỐI. Phẫu thuật bắt con được
khẩn trương tiến hành ngay sau đó bằng
phương pháp gây mê toàn diện thông khí qua
nội khí quản, các thuốc mê được sử dụng là
propofol 1%, sufentanil, succinylcholin, duy
trì dãn cơ không khử cực là atracrium,
sevorane, kháng sinh (Ampicilline +
sulbactam). Tình trạng bé 3200g, APGAR 5 – 7,
bé được chuyển bệnh lý sơ sinh (xuất viện sau
14 ngày). Sau 20 phút hồi sức, huyết áp có cải
thiện (100/50 mmHg, có duy trì noradrenalin),
nhịp tim còn nhanh (120 lần/phút), SpO2 100%,
vị trí mổ cầm máu khó khăn, kết quả xét
nghiệm thời điểm này: Hb 10,3 g/dl, tiểu cầu
154 Giga/L, PT > 60 giây, aPTT > 140 giây, INR
> 7,0, fibrinogen < 0.5 g/l, D-Dimer 13450
ng/ml, troponin T-hs 0,02 ng/ml. Bệnh nhân
được hồi sức bù dịch bằng nước muối đẳng
trương, bù các chế phẩm của máu gồm 3 đơn
vị hồng cầu lắng, 4 đơn vị huyết tương tươi
đông lạnh, 4 đơn vị kết tủa lạnh; vận mạch
noradrenaline để duy trì huyết áp tâm thu > 90
mmHg; tranexamide, etamsilat để tăng cường
đông cầm máu, furosemide được sử dụng với
mục đích duy trì lượng nước tiểu, điều chỉnh
mất máu và rối loạn đông máu, ổn định thân

Chuyên Đề Gây Mê Hồi Sức

Nghiên cứu Y học

nhiệt bằng dịch truyền ấm và sưởi ấm bệnh
nhân bằng mền warm-touch. Bệnh nhân được
phẫu thuật thắt động mạch hạ vị, động mạch
tử cung 2 bên. Sau khi mổ được 155 phút,
huyết động không ổn định, phải duy trì
noradrenaline liều cao mới giữ vững được
huyết áp, nhịp tim nhanh khoảng 130 – 150
lần/phút, SpO2 100%, da xanh niêm nhạt, phẫu
thuật cầm máu khó khăn, máu mất nhiều qua
ngã âm đạo (khoảng 3700 ml), kết quả khí máu
động mạch biểu hiện toan chuyển hóa và toan
hô hấp pH 6,92; PaCO2 115,2, PaO2 456,6,
HCO3 23,8, BE -11,2, kali 3,7 mmol/L, natri 134
mmol/L, canxi máu 0,8 mmol/L, chức năng
đông máu có cải thiện (Bảng 1), ê kíp mổ
quyết định phẫu thuật cắt tử cung toàn phần
chừa 2 phần phụ, đồng thời thiết lập đường
truyền tĩnh mạch cảnh trong và catheter động
mạch quay dưới siêu âm để thuận tiện cho
công tác hồi sức chống sốc và điều chỉnh các
rối loạn, đổi kháng sinh phổ rộng
(Vancomycin, Pefloxacin và Metronidazol).
Tiếp tục truyền máu và các chế phẩm của
máu, đến thời điểm này là 10 đơn vị hồng cầu
lắng 350 ml, 12 đơn vị huyết tương tươi đông
lạnh, 12 đơn vị kết tủa lạnh, 1 cup tiểu cầu
đậm đặc. Máu mất tổng cộng 4700 ml.
Sau mổ, bệnh nhân được thông khí kiểm
soát với Vt 6 ml/kg, PEEP 5-8 cmH2O, áp lực
hỗ trợ 30 mmHg, FiO2 100% sau đó giảm dần
theo kết quả khí máu động mạch, an thần
bằng kết hợp midazolam với fentanyl. Duy trì
vận mạch noradrenaline, truyền dịch tinh thể
tùy theo mạch, huyết áp, áp lực tĩnh mạch
trung tâm và lượng dịch xuất nhập. Tiếp tục
bù máu và kết tủa lạnh để điều chỉnh tình
trạng thiếu máu và rối loạn đông máu (1 HCL,
4 kết tủa lạnh). Sử dụng lợi tiểu furosemide
khi cần thiết để cân bằng dịch xuất nhập. Sau
mổ giờ thứ 6, bệnh nhân tỉnh, huyết động cải
thiện dần, sốt cao 39,50C được xử trí bằng
truyền paracetamol và lau mát tích cực. Theo
dõi các biến chứng do truyền máu khối lượng
lớn, tổn thương tạng do sốc. Các xét nghiệm cận

153


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 4 * 2014

Nghiên cứu Y học

lâm sàng khác như siêu âm tim màu không ghi
nhận bất thường (EF 63%), siêu âm doppler mạch
máu chi dưới không ghi nhận huyết khối tĩnh
mạch. X-quang phổi có xuất hiện vài nốt xung
huyết phù hợp với tổn thương phổi do truyền máu
khối lượng lớn.
Sau mổ 17 giờ, hô hấp và huyết động ổn
định, ngưng được vận mạch, PaO2/FiO2 > 400,
xét nghiệm chức năng gan, thận trong giới hạn

bình thường. Bệnh nhân được cai máy thở, rút
nội khí quản. Sau mổ 3 ngày, bệnh nhân hồi
phục, chuyển khoa sản bệnh. Sau mổ 12 ngày,
bệnh nhân hồi phục hoàn toàn và được cho ra
viện. Kết quả giải phẫu bệnh: đoạn dưới tử
cung và cổ tử cung các mạch máu dãn rộng,
ghi nhận 2-3 tĩnh mạch có chứa chất sừng, mô
kẽ xuất huyết rải rác phù hợp với bệnh cảnh
thuyên tắc ối.

Bảng 1: Sự thay đổi của chức năng đông máu các thời điểm
PT (giây)
INR
aPTT (giây)
Fibrinogen (g/L)
Hb (g/dl)
Tiểu cầu (Giga/L)
Bạch cầu (K/UL)

Nhập viện
11,3
0,95
32,8
4,15
11,1
299
10,3

Trước mổ
> 60
>7
> 140
< 0,5
10,3
154
10,6

HP giờ 1
16,5
1,4
49,7
0,7
9,2
177
18,1

Nhận xét: ngay khi bệnh nhân vào phòng
mổ đã xảy ra tình trạng rối loạn đông máu
nghiêm trọng dù chưa có mất máu đáng kể,
tình trạng rối loạn đông máu nhanh chóng hồi
phục sau mổ.

BÀN LUẬN
Thuyên tắc ối là một bệnh lý trầm trọng, có
tỷ lệ tử vong cao và tần suất mắc bệnh thay
đổi tùy theo mỗi quốc gia. Tần suất mắc bệnh
thay đổi từ 1,9 – 6,1/100000 trường hợp sanh:
tại Anh là 1,9/100000, Hà Lan là 2,5/100000, Úc
là 3,3/100000, Mỹ là 5,5/100000 và Canada là
6,0/100000 trường hợp(7).
Tỷ lệ tử vong thay đổi từ 0,4 – 1,3/100000
trường hợp sanh, với sự tiến bộ của y học, tỷ lệ
tử vong ngày càng giảm, tỷ lệ bệnh nhân thuyên
tắc ối được cứu sống ngày càng tăng. Năm 1979,
Morgan báo cáo tỷ lệ tử vong mẹ là 86%(9). Năm
1995, Clark báo cáo tỷ lệ tử vong mẹ là 61% và
một số nghiên cứu báo cáo tỷ lệ vong hiện nay
khoảng 10 – 15%(3). Tại Việt Nam chưa có khảo
sát nào về tần suất mắc bệnh và tỷ lệ tử vong của
thuyên tắc ối.
Từ năm 1991 đến 2009, Kramer đã tiến hành
một nghiến cứu đoàn hệ trên 4508462 trường
hợp sanh tại bệnh viện ở Canada, có 292 trường

154

HP giờ 6
11,5
0,97
37,1
2,77
6
180
8,5

HP1
6,6
152
7,7

HP2
10,7
0,9
30,6
3,85
6,5
175
12,3

HP4
3,3
315
10,4

hợp được nghi ngờ là thuyên tắc ối nhưng chỉ có
120 trường hợp (40%) được chẩn đoán xác định.
Các yếu tố nguy cơ liên quan với thuyên tắc ối
như là sanh mổ, sanh giúp, chấn thương tử cung
hoặc cổ tử cung, nhau tiền đạo, nhau bong non,
sản giật. Thuyên tắc ối thường xảy ra vào giai
đoạn cuối của quá trình chuyển dạ, thời điểm sổ
thai và sổ nhau. Thuyên tắc ối làm gia tăng tử
vong thai nhi trong bụng mẹ, thai nhi bị ngạt,
thở máy, nhiễm trùng, động kinh, thời gian nằm
viện kéo dài(5).
Cơ chế bệnh sinh của thuyên tắc ối đến nay
vẫn còn chưa được biết rõ. Đa số nghiên cứu cho
rằng do tế bào nước ối xâm nhập vô máu mẹ gây
tắc nghẽn cơ học ở động mạch phổi và phóng
thích các yếu tố mô làm tăng áp động mạch phổi,
thiếu oxy máu và suy tim phải, bệnh nhân có thể
tử vong ngay lập tức, nếu bệnh nhân còn sống
thì tiếp theo sẽ xảy ra suy tim trái cấp, phù phổi,
rối loạn tri giác và rối loạn đông máu, dẫn đến tử
vong mẹ và thai. Tình trạng rối loạn đông máu là
do sự xuất hiện của dịch ối gây kích hoạt các yếu
tố đông máu. Sự xuất hiện của dịch ối trong
mạch máu đã gây kích hoạt phóng thích yếu tố
III của tiểu cầu, từ đó kích hoạt yếu tố X hoạt
hóa, gây ngưng kết tiểu cầu và hiện tượng này
được kích hoạt liên tục gây ra dòng thác đông

Chuyên Đề Gây Mê Hồi Sức


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 4 * 2014
máu. Ngày nay, người ta đang đề cập đến vai trò
của yếu tố mô tăng trong quá trình mang thai,
đây cũng có thể là nguyên nhân(1,2,3,11).
Chẩn đoán thuyên tắc ối thường là chẩn
đoán sau cùng, sau khi loại các nguyên nhân gây
ngừng tim, tụt huyết áp đột ngột khác có thể xảy
ra. Tụt huyết áp đột ngột do sốc mất máu ở bệnh
nhân đang chuyển dạ sanh có thể là vỡ tử cung
hay nhau tiền đạo ra huyết, ta sẽ thấy dấu hiệu
mất máu nghiêm trọng trên lâm sàng, thai nhi di
động trong bụng mẹ. mất tim thai hay ra huyết
âm đạo nghiêm trọng. Nguyên nhân thứ hai là
sản giật, bệnh nhân có biểu hiện co giật, hôn mê,
tăng huyết áp, phù, đạm niệu, nhưng không có
dấu hiệu rối loạn đông máu trong giai đoạn sớm
và thường được phát hiện sớm trong quá trình
khám thai. Nguyên nhân thứ ba là thuyên tắc
phổi và thuyên tắc khí, lâm sàng thường có biểu
hiện tức ngực, cả hai nguyên nhân này đều có
triệu chứng lâm sàng như trên, nhưng chỉ có
thuyên tắc ối mới gây rối loạn đông máu nhanh
chóng và nghiêm trọng, có thể tìm thấy tình
trạng huyết khối gây tắc tĩnh mạch sâu ở chân.
Một số nguyên nhân khác như bệnh lý van tim
do thấp (siêu âm tim có thể phát hiện), viêm cơ
tim ở người mang thai (có thay đổi trên điện
tim), xuất huyết não (dấu hiệu thần kinh, chẩn
đoàn bằng CT scan)…Tuy là chẩn đoán loại trừ,
nhưng thuyên tắc cần phải được chẩn đoán ngay
lập tức để có những biện pháp xử trí thích hợp.
Thuyên tắc ối thường được chẩn đoán dựa
vào triệu chứng lâm sàng, một trường hợp mang
thai bình thường, không có bệnh lý gì đặc biệt
đột ngột xảy ra một hoặc nhiều triệu chứng như
ngừng tim, tụt huyết áp, suy hô hấp nghiêm
trọng, hôn mê, co giật, đông máu nội mạch lan
tỏa(11). Kết quả nghiên cứu của Kramer từ 1991 –
2009 có 120 trường hợp xác định là thuyên tắc ối
(trong tổng số 4058462 trường hợp sanh), các
triệu chứng thường gặp là ngừng tim (46,7%), tụt
huyết áp nghiêm trọng (32,5%), rối loạn đông
máu (30%), nguy kịch hô hấp (14,2%), hôn mê
(1,7%) và co giật (1,7%)(5).

Chuyên Đề Gây Mê Hồi Sức

Nghiên cứu Y học

Các xét nghiệm sinh hóa máu và hình ảnh
không có giá trị đặc hiệu. Clark và cs đã tìm
thấy tế bào nước ối trong máu lấy từ catheter
ở động mạch phổi ở 50% trường hợp thuyên
tắc ối(3). Một số nghiên cứu đã đề cấp đến vai
trò của tryptase máu, yếu tố mô trong máu
ngoại vi của bệnh nhân, tìm tế bào ối trong
dịch rửa phế quản, phế nang hoặc trong máu
tĩnh mạch trung tâm(11).
Điều trị thuyên tắc ối thường rất khó khăn
và khẩn cấp nhưng không phải là không thể
điều trị. Chúng ta phải đảm bảo cung cấp đủ
oxy, ổn định huyết áp và điều chỉnh rối loạn
đông máu, kết hợp với nhanh chóng mổ lấy
thai để cứu mẹ và con. Hồi sức hô hấp, bệnh
nhân cần phải được đặt nội khí quản, thở máy
có áp lực dương với nồng độ oxy cao trên 90%.
Hồi sức tuần hoàn, khi bệnh nhân có tụt huyết
áp và sốc, nhanh chóng bồi hoàn thể tích nội
mạch bằng dịch truyền tinh thể, cẩn trọng vì
bệnh nhân thường có suy tim cấp trong giai
đoạn này, đa số các trường hợp sẽ cần phải sử
dụng vận mạch noadrenaline và một số thuốc
tăng co bóp cơ tim như dobutamin để nâng
huyết áp. Khi có chảy máu nặng do rối loạn
đông máu, cần truyền hồng cầu lắng, huyết
tương tươi đông lạnh, kết tủa lạnh và tiểu cầu
để điều chỉnh đông máu. Song song với hồi
sức, chúng ta phải tiến hành mổ lấy thai
nhanh chóng, cần phải tiến hành thắt động
mạch hạ vị , thắt động mạch tử cung hoặc cắt
tử cung để hồi sức hô hấp tuần hoàn hiệu quả
hơn. Một số phương pháp điều trị được đề cập
và có vài trường hợp có hiệu quả như tuần
hoàn ngoài cơ thể, lọc máu liên tục, thở N2O,
liệu pháp ECMO sớm(1,2,6,10,4).
Trong trường hợp này, chúng tôi dựa vào
các triệu chứng lâm sàng, tiền sử khám thai,
diễn tiến chuyển dạ đã chẩn đoán ngay là
thuyên tắc ối khi bệnh nhân vào phòng mổ.
Các dấu hiệu lâm sàng xảy ra ở một bệnh
nhân nữ 36 tuổi, con lần 2, thai kỳ hoàn toàn
bình thường, không có tiền căn bệnh lý về hô
hấp. tim mạch, đông cầm máu, giai đoạn cuối

155


Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 4 * 2014

chuyển dạ đột ngột tím toàn thân, trụy tuần
hoàn, co giật, thai suy cấp, không có dấu hiệu
mất máu, chức năng đông máu từ bình
thường chuyển sang rối loạn đông máu
nghiêm trọng dù tình trạng mất máu chưa xảy
ra, không có tình trạng phù phổi cấp. Các kết
quả cận lâm sàng sau đó đã cũng cố chẩn đoán
này của chúng tôi, PT, aPTT kéo dài không đo
được, fibrinogen thấp không đo được, định
lượng D-dimer trong máu là 13450 ng/ml. Các
xét nghiệm khác như siêu âm tim, siêu âm
doppler mạch máu chi dưới, men tim không
có sự thay đổi đặc biệt. Kết quả giải phẫu
bệnh: đoạn dưới tử cung và cổ tử cung các
mạch máu dãn rộng, ghi nhận 2-3 tĩnh mạch
có chứa chất sừng, mô kẽ xuất huyết rải rác
phù hợp với một thuyên tắc ối. Chúng tôi
chưa thực hiện được các xét nghiệm như định
lượng tryptase trong máu mẹ, nội soi phế
quản – phế nang lấy dịch rửa tìm tế bào ối. Kỹ
thuật nội soi phế quản – phế nang là kỹ thuật
xâm lấn, nên thực hiện khi tình trạng bệnh
nhân ổn định và các xét nghiệm khác không
đủ giá trị chẩn đoán thuyên tắc ối.
Bệnh nhân được hồi sức toàn diện, đảm
bảo cung cấp đủ oxy, điều chỉnh toan hô hấp
bằng thở máy kiểm soát có PEEP bảo vệ phổi,
duy trì an thần để giúp bệnh nhân thở theo
máy, đảm bảo huyết áp tâm thu luôn 90
mmHg bằng dịch truyền tinh thể và vận mạch
noradrenaline, điều chỉnh rối loạn đông máu
bằng cách truyền máu và chế phẩm máu theo
tỷ lệ 4: 4: 1: 1 (11 hồng cầu lắng, 12 đơn vị
huyết tương tươi đông lạnh, 16 đơn vị kết tủa
lạnh, 1 cuf tiểu cầu đậm đặc), chúng tôi truyền
kết tủa lạnh nhiều hơn vì sau mổ lượng
fibrinogen còn rât thấp (0,7 g/L).
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các thuốc
khác như tranexamide và etamsilat để tăng
hiệu quả cầm máu, sử dụng furosemide để
tăng bài tiết nước tiểu giúp bảo vệ thận và
tránh quá tải tuần hoàn, kháng sinh phổ rộng,
phối hợp kháng sinh để đề phòng nhiễm
trùng, điều chỉnh điện giải và kiềm toan, giữ

156

ấm bệnh nhân, tránh hạ thân nhiệt làm trầm
trọng thêm tình trạng rối loạn đông máu.
Bệnh nhân đã được mổ lấy thai nhanh
chóng, cứu sống được thai nhi, được cắt tử
cung toàn phần chừa 2 phần phụ sau khi thắt
động mạch tử cung, động mạch hạ vị để cầm
máu nhưng không hiệu quả.
Trường hợp thuyên tắc ối của chúng tôi
hồi sức đạt hiệu quả nhanh chóng sau 17 giờ,
huyết động cải thiện, sớm ngưng được vận
mạch, không có suy thận cấp, có tổn thương
phổi do truyền máu khối lượng lớn ở mức độ
nhẹ, bệnh nhân được cai máy và rút nội khí
quản thành công. Bệnh nhân được ra khỏi hồi
sức sau 3 ngày và ra viện sau 12 ngày, em ra
viện sau 14 ngày. Năm 2000, Bryan báo cáo
một trường hợp ra viện sau 6 tuần(2). Năm
2010, Naixi Li báo cáo một trường hợp ra viện
sau 4 ngày. Năm 2010, Roberts báo cáo có 13
trường hợp sống sót, thời gian nằm viện từ 5 –
59 ngày(10).
Các biện pháp hồi sức tích cực được tiến
hành khẩn cấp với những nhân viên có kinh
nghiệm và được phân công nhiệm vụ cụ thể
từng người, phối hợp chặt chẽ với phẫu thuật
viên để mổ lấy thai khẩn cấp, tiến hành lấy
máu thực hiện các xét nghiệm để tầm soát tất
cả các nguyên nhân có thể gây trụy tuần hoàn
ở bệnh nhân chuyển dạ sanh và định hướng
chẩn đoán thuyên tắc ối. Tại đơn vị chúng tôi,
khi xảy ra một trường hợp cấp cứu tối khẩn
chúng tôi luôn có sự phân công, điều động
thống nhất bởi một bác sĩ gây mê có nhiều
kinh nghiệm nhất tại thời điểm đó, thông báo
cho toàn đơn vị có một trường hợp thuyên tắc
ối, phân công người đảm trách an toàn gây
mê, người lo chuẩn bị máu và thông báo cho
lãnh đạo bệnh viện biết những gì đang diễn
ra, ngân hàng máu sẽ có sự chuẩn bị máu tối
khẩn, mọi hoạt động đều ưu tiên cho phòng
mổ nhưng luôn đảm bảo đúng quy trình. Một
trường hợp thuyên tắc ối thường cần phải
chuẩn bị hơn 8 đơn vị hồng cầu lắng, 8 hơn vị

Chuyên Đề Gây Mê Hồi Sức


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 4 * 2014
huyết tương đông lạnh, 8 đơn vị kết tủa lạnh
và 1 cup tiểu cầu đậm đặc.

KẾT LUẬN
Chúng tôi đã có kinh nghiệm trong chẩn
đoán và điều trị thành công một trường hợp
thuyên tắc ối. Đây là một bệnh lý cấp cứu sản
khoa nghiêm trọng, có tần suất thấp, nhưng
thường xảy ra đột ngột và tỷ lệ tử vong mẹ và
con cao. Chẩn đoán thường dựa vào các triệu
lâm sàng như đột ngột suy hô hấp, tụt huyết
áp hoặc ngừng tim, rối loạn đông máu nghiêm
trọng, thường xảy ra ở cuối cuộc chuyển dạ

Chuyên Đề Gây Mê Hồi Sức

Nghiên cứu Y học

khi đã vỡ ối hoặc sổ nhau trong lúc mổ lấy
thai. Thuyên tắc ối có thể được điều trị thành
công nếu được chẩn đoán sớm, các biện pháp
xử trí chảy máu ở tử cung và hồi sức tích cực
phù hợp, cần một đội ngũ nhân viên y tế có
kinh nghiệm và có sự phối hợp chặt chẽ giữa
gây mê hồi sức, sản khoa và ngân hàng máu.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ngày nhận bài báo:

18/04/2014

Ngày phản biện đánh giá bài báo:

28/04/2014

Ngày bài báo được đăng:

30/06/2014

157



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×