Tải bản đầy đủ

Nhu cầu phục hồi chức năng của người khuyết tật vận động tại Thành phố Thủ Dầu Một năm 2012-2013

Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 

NHU CẦU PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT 
 VẬN ĐỘNG TẠI THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT NĂM 2012 ‐ 2013 
Nguyễn Văn Hóa* 

TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Nhu cầu phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng là điểm sáng, là tia hy vọng của người khuyết 
tật vận động để họ giảm tỷ lệ khuyết tật và giúp họ sớm hòa nhập xã hội. 
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ nhu cầu phục hồi chức năng của người khuyết tật vận động trong chương trình 
phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại thành phố Thủ Dầu Một năm 2012 ‐ 2013.  
Phương  pháp  nghiên  cứu: Điều tra cắt ngang mô tả, tại 14 xã, phường, với 985 người khuyết tật vận 
động, khám, phỏng vấn dựa vào 23 nhu cầu cơ bản cho người khuyết tật của Tổ chức Y tế thế giới. 
Kết quả và kết luận: Người khuyết tật vận động có nhu cầu chung chiếm tỷ lệ 96%, nhu cầu theo nhóm, 
vận động 82,7%, hòa nhập xã hội 73,7%, sinh hoạt 36,4%, giao tiếp 13,4%. 
Từ khóa: phục hồi chức năng, người khuyết tật vận động, cộng đồng. 


ABSTRACT 
REHABILITATION NEEDS OF PERSONS WITH MOBILITY IMPAIREMENTS 
 IN THU DAU MOT CITY 2012 ‐ 2013 
Nguyen Van Hoa * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6 ‐ 2014: 560 ‐ 564 
Background:  The  demand for  community  ‐  based  rehabilitation  is significantly necessary  for the disabled 
because this is a hope to reduce the rate of disability and help them integrate into society early.  
Objectives:  To  determine  the  percentage  of  the  rehabilitation  needs  of  people  with  disabilities  in  the 
community ‐ based rehabilitation program in Thu Dau Mot town in 2012 ‐ 2013.  
Methods: descriptive cross ‐ sectional survey, in 14 communes, with 985 motor disabilities, examining and 
interviewing with a questionnaire developed by World Health Organization to determine 23 basic needs of the 
disabled. 
Result: Persons with mobility impairments have the general need, team needs; movement, social integration, 
activities, and communication take up 96%, 82.7%, 73.7%, 36.4%, and 13.4% respectively.  
Key words: rehabilitation, disability, community. 

 ĐẶT VẤN ĐỀ 
Nơi đâu trên thế giới cũng có người khuyết 
tật, ở dạng này hay dạng khác, mức độ nặng hay 
nhẹ, trẻ em hay người lớn(4). 
Theo  ước  tính  của  Tổ  chức  Y  tế  thế  giới  và 
Liên  hợp  quốc  năm  2007  người  khuyết  tật  trên 
thế giới có khoảng 650 triệu người, tương đương 
với 10% dân số(8). 
Việt Nam theo tổng điều tra Dân số và Nhà 
ở năm 2009, dân số Việt Nam có 78,5 triệu người 

từ  5  tuổi  trở  lên,  trong  đó  có  6,1  triệu  người 
khuyết tật, chiếm 7,8% dân số từ 5 tuổi trở lên(1). 
Người  khuyết  tật  cần  được  phục  hồi  chức 
năng và can thiệp y tế để phục hồi tầm vận động 
của khớp, làm mạnh cơ, điều hợp các động tác, 
tái rèn luyện cơ bị liệt, bị mất chức năng(6). 
Ở  Việt  Nam  cũng  như  tỉnh  Bình  Dương 
những  đề  tài  nghiên  cứu  về  nhu  cầu  phục  hồi 
chức  năng  (PHCN)  của  người  khuyết  tật  vận 
động (NKTVĐ) còn quá ít. 

* Bệnh viện Điều dưỡng – Phục hồi chức năng tỉnh Bình Dương 
Tác giả liên lạc: BS. Nguyễn Văn Hóa 
ĐT: 0918230 119 


Email: nguyenvanhoabvdd@gmail.com 

560

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 

Nghiên cứu Y học

 
Loại nhu cầu PHCN

Mục tiêu nghiên cứu 
Xác  định  tỷ  lệ  nhu  cầu  phục  hồi  chức  năng 
của  người  khuyết  tật  vận  động  trong  chương 
trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại 
thành phố Thủ Dầu Một năm 2012 ‐ 2013. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu cắt ngang mô tả 
985  NKTVĐ  có  hộ  khẩu  tại  thành  phố  Thủ 
Dầu  Một  từ  06/2012  ‐  09/2013.  Phỏng  vấn  trực 
tiếp  NKTVĐ  (đối  với  trẻ  dưới  6  tuổi,  NKTVĐ 
không  nói  được,  phỏng  vấn  người  trực  tiếp 
chăm  sóc)  và  khám  đánh  giá,  phỏng  vấn  dựa 
vào 23 nhu cầu cơ bản cho người khuyết tật của 
Tổ  chức  Y  tế  thế  giới.  Phân  thành  4  nhóm  nhu 
cầu  (nhu  cầu  vận  động,  sinh  hoạt,  hội  nhập  xã 
hội và giao tiếp) và 2 mức độ:  
Mức độ 1: người khuyết tật có thể thực hiện 
hoạt  động  với  sự  hỗ  trợ/thực  hiện  được  một 
phần hoạt động. 
Mức  độ  2:  NKT  không  thể  thực  hiện  được 
hoạt động/phụ thuộc. Đối tượng được chọn dựa 
theo  danh  sách  người  khuyết  tật  vận  động 
xã/phường đang quản lý. 

KẾT QUẢ  
Bảng 1: Đặc điểm dân số học của mẫu nghiên cứu  
Tần số

Tỷ lệ (%)

569
416
không đồng ý

57,8
42,2
Cung cấp

88
487
407

9,0
49,6
41,4

Trong  985  người  KTVĐ  được  thống  kê 
trong nghiên cứu thì nam chiếm đa số với tỷ lệ 
57,8%. Nhóm tuổi từ 15 đến 59 chiếm tỷ lệ cao 
nhất  49,6%  và  thấp  nhất  là  từ  0  đến  14  tuổi 
chiếm tỷ lệ 9%.  
Bảng 2: Phân bố nhu cầu PHCN theo nhóm (n=985) 

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 

Không nhu
cầu(n %)
170 (17,3)
259 (26,3)
626 (63,6)
853 (86,6)

Nhóm  nhu  cầu  về  vận  động  là  cao  nhất 
82,7%, kế tiếp là nhu cầu hòa nhập xã hội 73,7% 
và thấp nhất là nhu cầu giao tiếp 13,4%. 
Bảng 3: Phân bố nhu cầu PHCN nhóm sinh hoạt 
(n=985) 

 Đối tượng nghiên cứu 

Đặc tính mẫu
Giới tính (n=985)
Nam
Nữ
Nhóm tuổi (n=982)
(Có 03NKTVĐ
Từ 0 đến 14 tuổi
Từ 15 đến 59 tuổi
Từ 60 tuổi trở lên

Nhu cầu vận động
Nhu cầu hòa nhập xã hội
Nhu cầu sinh hoạt
Nhu cầu giao tiếp

Nhu cầu
(n %)
815 (82,7)
726 (73,7)
359 (36,4)
132 (13,4)

Nhu cầu sinh hoạt
Đại, tiểu tiện
Làm vệ sinh
Mặc quần áo
Ăn uống

Có nhu cầu
n (%)
338 (34,3)
336 (34,1)
333 (33,8)
173 (17,6)

Mức độ 1
n (%)
244 (72,2)
238 (70,8)
242 (72,7)
118 (68,2)

Mức độ 2
n (%)
94 (27,8)
98 (29,2)
91 (27,3)
55 (31,8)

Trong các nhu cầu về sinh hoạt thì nhu cầu 
về đại, tiểu tiện có tỷ lệ cao nhất 34,3% với nhu 
cầu ở mức độ 2 là 27,8%. Ăn uống có nhu cầu 
thấp nhất với 17,6% và nhu cầu ở mức độ 2 là 
31,8%. 
Bảng 4: Phân bố nhu cầu PHCN nhóm giao tiếp 
(n=985) 
Nhu cầu giao tiếp

Có nhu cầu
n (%)
122 (12,4)
118 (12)
116 (11,8)

Hiểu câu nói
Nói
Thể hiện ý muốn
Ra hiệu để người khác
112 (11,4)
biết ý muốn của mình
Hiểu được điệu bộ, dấu
109 (11,1)
hiệu của người khác
Đọc môi
96 (9,7)

Mức độ1 Mức độ 2
n (%)
n (%)
94 (77)
28 (23)
91 (77,1) 27 (22,9)
91 (78,4) 25 (21,6)
85 (75,9)

27 (24,1)

83 (76,1)

26 (23,9)

80 (83,3)

16 (16,7)

Nhu cầu về giao tiếp thì nhu cầu về hiểu câu 
nói  có  tỷ  lệ  cao  nhất  12,4%,  trong  đó  nhu  cầu 
mức độ 2 là 23,0%. Nhu cầu về đọc môi có tỷ lệ 
thấp nhất 9,7% với nhu cầu mức độ 2 là 16,7%. 
Bảng 5: Phân bố nhu cầu PHCN nhóm vận động 
(n=985) 
Nhu cầu vận động
Di chuyển được trong
làng
Đi bộ được ít nhất 10
bước
Di chuyển được trong
nhà

Có nhu cầu Mức độ 1 Mức độ 2
n (%)
n (%)
n (%)
778 (79)
694 (70,5)

624 (80,2) 154 (19,8)
555 (80)

139 (20)

645 (65,5) 514 (79,7) 131 (20,3)

561


Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 
Nhu cầu vận động
Đứng
Ngồi
Đau các nơi
Trẻ bú sữa mẹ, lớn
bình thường

Có nhu cầu
n (%)
186 (18,9)
132 (13,4)
27 (2,7)

Mức độ 1
n (%)
94 (50,5)
91 (68,9)
17 (62,9)

Mức độ 2
n (%)
92 (49,5)
41 (31,1)
10 (37,1)

5 (0,5)

2 (40)

3 (60,0)

Trong  các  nhu  cầu  về  giao  tiếp  thì  nhu  cầu 
về  di  chuyển  được  trong  làng  có  tỷ  lệ  cao  nhất 
79%, trong đó nhu cầu mức độ 2 là 19,8%. Nhu 
cầu  về  trẻ  bú  sữa  mẹ,  lớn  bình  thường  có  tỷ  lệ 
thấp nhất 0,5% với nhu cầu mức độ 2 là 60,0%. 
Bảng 6: Phân bố nhu cầu PHCN nhóm HNXH theo 
mức độ nhu cầu (n=985) 
Nhu cầu hòa nhập Có nhu cầu
xã hội
n (%)
Làm việc và thu
684 (69,4)
nhập
Tham gia hoạt động
649 (65,9)
cộng đồng
Làm việc nội trợ
599 (60,8)
Tham gia hoạt động
359 (36,4)
gia đình
Đi học
53 (5,4)
Chơi đùa
57 (5,8)

Mức độ 1 Mức độ 2
n (%)
n (%)
363 (53,1) 321 (46,9)
460 (70,9) 189 (29,1)
462 (77,1) 137 (22,9)
296 (82,4)

63 (17,6)

5 (9,4)
30 (52,6)

48 (90,6)
27 (47,4)

Trong  các  nhu  cầu  về  hòa  nhập  xã  hội  thì 
nhu  cầu  về  làm  việc  và  thu  nhập  có  tỷ  lệ  cao 
nhất 69,4%, trong đó nhu cầu mức độ 2 là 46,9%. 
Nhu  cầu  về  đi  học  có  tỷ  lệ  thấp  nhất  5,4%  với 
nhu cầu mức độ 2 là 90,6%. 
Bảng 7: Nhu cầu PHCN theo giới (n=985) 
Giới tính
Nam
Nữ

Có nhu cầu
n (%)
544(95,6)
401(96,4)

Không có nhu cầu
n (%)
25(4,4)
15(3,6)

p
0,536

Không  có  mối  liên  quan  giữa  giới  tính  với 
nhu cầu PHCN với p >0,05.  
Bảng 8: Tỷ lệ NKTVĐ có nhu cầu PHCN theo nhóm 
tuổi (n=982) (Có 03 NKTVĐ không đồng ý cung cấp 
tuổi) 
Nhóm tuổi
Từ 0 đến 14 tuổi
Từ 15 đến 59 tuổi
Từ 60 tuổi trở lên

Nhu cầu n(%)
87(98,9)
468(96,1)
387(95,1)

Các nhóm tuổi từ 0 đến 14 tuổi, từ 15 đến 49 
tuổi, từ 60 tuổi trở lên có nhu cầu PHCN khá cao 
với tỷ lệ lần lượt là 98,9%; 96,1% và 95,1%.  

562

BÀN LUẬN 
Qua  nghiên  cứu  cho  thấy  ở  bảng  1.  NKT 
nam  (57,8%)  luôn  nhiều  hơn  nữ  (42,2%),  theo 
nghiên cứu của Dương Quang Tỉnh nam (57,8), 
nữ  (42,2%)(2);  nghiên  cứu  của  Trần  Văn  Hải  tại 
thị  xã  Tam  Điệp,  Tỉnh  Ninh  Bình  2011nam 
(59,1%)và  nữ  giới  (40,9%)(7);  điều  này  cho  thấy 
rằng  nam  tham  gia  lao  động,  làm  việc,  đi  bộ 
đội…  ngoài  xã  hội  nhiều  hơn  nữ  nên  tỷ  lệ 
thương  tật  gây  nên  khuyết  tật  nhiều  hơn  nữ; 
bảng 8 cho thấy nhu cầu PHCN ở các nhóm tuổi 
khá  cao  với  tỷ  lệ  lần  lượt  là  (98,9%;  96,1%  và 
95,1%),  điều  này  cho  thấy  mọi  lứa  tuổi  đều  có 
nhu  cầu  PHCN  là  nhu  cầu  thiết  yếu  của  người 
khuyết  tật,  họ  mong  mỏi  được  phục  hồi  sức 
khỏe  như  những  người  cùng  trang  lứa  cùng 
hoàn cảnh. WHO đã chia 23 nhu cầu cơ bản của 
NKT theo 4 nhóm là: nhu cầu về sinh hoạt, nhu 
cầu  tự  giao  tiếp,  nhu  cầu  về  vận  động  và  nhu 
cầu về hòa nhập xã hội, nhu cầu về vận động là 
cao nhất (82,7%); thấp nhất là nhu cầu giao tiếp 
(13,4%);  theo  nghiên  cứu  của  Nguyễn  Dương 
Hanh  và  Nguyễn  Trung  Kiên  nhu  cầu  về  vận 
động (39,77%) và thấp nhất là nhu cầu giao tiếp 
(39,47%)(4); nghiên cứu của Nguyễn Lương Bầu 
năm  2005  nhu  cầu  về  vận  động  52,76%  và  nhu 
cầu  giao  tiếp  25,85%(5).  Đối  tượng  nghiên  cứu 
các  tác  giả  nêu  trên  là  người  khuyết  tật  chung; 
đối tượng nghiên cứu là những người khuyết tật 
vận  động  tại  cộng  đồng  nên  nhu  cầu  về  vận 
động  là  cao  nhất;  nhu  cầu  giao  tiếp  thấp  nhất 
tương  tự  kết  quả  tác  giả  Nguyễn  Dương  Hanh 
và  Nguyễn  Trung  Kiên  thấp  nhất  là  nhu  cầu 
giao tiếp (39,47%)(4). 
Nhu  cầu  về sinh hoạt: đại,  tiểu  tiện có  tỷ  lệ 
cao nhất 34,3% trong đó nhu cầu ở mức độ 1 là 
72,2%, mức độ 2 là 27,8%. Ăn uống có nhu cầu 
thấp nhất với 17,6% trong đó nhu cầu ở mức độ 
1  là  (68,2%),  mức  độ  2  là  (31,8%).  Nhu  cầu  về 
sinh hoạt của người KTVĐ: đó là nhu cầu cơ bản 
nhất  của  con  người  như:  là  tự  ăn  uống,  đánh 
răng,  tắm  rửa,  đi  đại  tiểu  tiện  và  mặc  quần 
áo...Tuy  vậy,  người  KTVĐ  thường  bị  phân  biệt 

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 

Nghiên cứu Y học

 
đối xử, dễ dẫn đến cách sống khép mình và tách 
biệt, tự ti nhất là đối với NKT nặng. Ăn uống là 
một chức năng tự nhiên của đời sống sinh học, 
có ý nghĩa sống còn với mỗi con người, vẫn biết 
thế nhưng không phải ai cũng tự ăn uống được 
nên  NKT  cần  phải  tự  thích  nghi.  Người  KTVĐ 
thường nghèo, ít và thậm chí chưa được tiếp cận 
kiến thức về dinh dưỡng nên họ ăn uống thường 
không  hợp  lý,  các  nhu  cầu  thuộc  về  vệ  sinh  cá 
nhân như đại tiểu tiện, đánh răng, rửa mặt, thay 
quần  áo  có  thể  NKTVĐ  còn  tùy  tiện  vì  ít  giao 
tiếp nên chưa chú ý hoặc không có khả năng tự 
chăm  sóc  cho  bản  thân.  Theo  nghiên  cứu 
Nguyễn  Dương  Hanh  và  Nguyễn  Trung  Kiên 
nhu cầu cao nhất là đi vệ sinh 97,24%, trong đó 
loại 1 (70,21%), loại 2 (29,79%), thấp nhất là tự ăn 
uống  48,96%  trong  đó  loại  1(87,32%),  loại  2 
(12,68%)(4). Ở cả hai nhu cầu cao nhất và nhu cầu 
thấp nhất tỷ lệ NKT có nhu cầu mức độ 2 thấp 
hơn  mức  độ 1,  đây  là  dấu  hiệu  cho thấy  ở nhu 
cầu sinh hoạt NKT ít lệ thuộc vào người khác 
Nhu cầu giao tiếp của NKTVĐ: gồm những 
nhu cầu như tự mình hiểu được điều người khác 
nói  hoặc  diễn  đạt;  đồng  thời  biểu  hiện  ý  nghĩ, 
nhu cầu, tình cảm, tâm tư, nguyện vọng của bản 
thân để người chưa khuyết tật có thể hiểu được. 
Việc trao đổi các thông tin qua giao tiếp giúp cho 
mọi người hiểu về nhau, với khả năng, tình cảm 
và  trách  nhiệm  của  gia  đình  và  cộng  đồng  cần 
động  viên,  chia  sẽ,  giúp  đỡ  NKTVĐ  những  gì 
cần thiết, kịp thời, kết quả giống các tác giả khác 
về  nhu  cầu  tuy  có  khác  nhau  về  tỷ  lệ  các  nhu 
cầu.  Nhu  cầu  giao tiếp thì nhu  cầu về hiểu  câu 
nói  có  tỷ  lệ  cao  nhất  12,4%,  trong  đó  nhu  cầu 
mức độ 1 (77%), mức độ 2 là (23%), nhu cầu về 
đọc  môi  có  tỷ  lệ  thấp  nhất  9,7%  với  nhu  cầu, 
mức  độ 1  (83,3%) mức độ 2  là  (16,7%).  Kết  quả 
tương  đương  kết  quả  nghiên  cứu  Nguyễn 
Dương  Hanh  và  Nguyễn  Trung  Kiên  nhu  cầu 
giao  tiếp  39,47%  trong  đó  nhu  cầu  về  hiểu  câu 
nói  chiếm tỷ  lệ  cao nhất 91,11%  trong  đó  loại  1 
(43,09%),  loại  2  (56,91%),  thấp  nhất  là  nhu  cầu 
đọc  bằng  môi  57,04%,  trong  đó  loại  1  (74,03%), 
loại 2  (25,97%)(4).  Ở  cả  hai  nhu  cầu  cao nhất  và 

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 

nhu cầu thấp nhất tỷ lệ NKT có nhu cầu mức độ 
2 thấp hơn mức độ 1, đây là dấu hiệu cho thấy ở 
nhu  cầu  giao  tiếp  NKT  ít  lệ  thuộc  vào  người 
khác và có khả năng hòa nhập cộng đồng với tỷ 
lệ cao. 
Nhu cầu về vận động của người KTVĐ gồm 
hoạt động như: ngồi dậy, đứng đi lại quanh nhà, 
đi lại trong làng, trẻ bú mẹ, lớn bình thường và 
biểu hiện đau ở các nơi. Kết quả nghiên cứu cho 
thấy, nhu cầu về di chuyển được trong làng có tỷ 
lệ  cao nhất 79%,  trong đó nhu  cầu mức  độ 1  là 
(80,2%), mức độ 2 là (19,8%); nhu cầu về trẻ bú 
sữa mẹ, lớn bình thường có tỷ lệ thấp nhất 0,5% 
với nhu cầu mức độ 1(40%) mức độ 2 là (60%), 
kết  quả  tương  đương  nghiên  cứu  Nguyễn 
Dương Hanh và Nguyễn Trung Kiên nhu cầu di 
chuyển  trong  xóm  cao  nhất  chiếm  tỷ  lệ  98,5% 
trong đó loại 1(57,46%), loại 2 (42,54%). 
Sự khác nhau giữa các nhu cầu về vận động 
của người KTVĐ có thể một phần là do mức độ 
khuyết  tật  khác  nhau,  mặt  khác,  trong  thực  tế 
NKTVĐ thường ít vận động nên các thương tổn 
thứ cấp lại dễ phát sinh làm cho việc vận động 
của họ thêm khó khăn hơn. Do vậy, việc PHCN 
cho NKTVĐ về lĩnh vực vận động tại cộng đồng 
cần lồng ghép nhiều kỹ thuật mới đạt hiệu quả. 
Ở cả hai nhu cầu cao nhất và nhu cầu thấp nhất 
tỷ lệ NKT có nhu cầu mức độ 2 thấp hơn mức độ 
1, đây là dấu hiệu cho thấy NKTVĐ luôn cần có 
sự giúp đỡ để sớm hòa nhập cộng đồng. 
Nhu cầu hòa nhập xã hội của NKTVĐ: nhu 
cầu  hòa  nhập  xã  hội  của  NKTVĐ  không  giống 
nhau giữa trẻ em và người lớn; trong đó trẻ em 
KTVĐ có nhu cầu về hòa nhập xã hội thông qua 
các  hoạt  động  với  các  bạn  cùng  lứa  tuổi  bao 
gồm:  chơi  đùa  chỉ  có  5,8%  (mức  độ  1:  52,6%; 
mức độ 2: 47,4%); đi học 5,4% (mức độ 1: 9,4%; 
mức độ 2: 90,6%); theo nghiên cứu của Nguyễn 
Dương  Hanh  và  Nguyễn  Trung  Kiên  nhu  cầu 
cao  nhất  là  đi  học  84,21%  trong  đó  loại  1 
(43,75%),  loại  2  (56,25%),  thấp  nhất  là  chơi  đùa 
73,68% trong đó loại 1 (21,43%), loại 2 (78,57%). 
Qua kết quả nêu trên chúng ta thấy trẻ em ở lứa 

563


Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 
tuổi đi học, vui đùa, nhưng nhu cầu ở mức độ 2 
luôn cao, tỷ lệ này cho thấy trẻ em không thể đi 
học  được  chiếm  tỷ  lệ  cao.  Đối  với  người  lớn 
KTVĐ,  nhu  cầu  về  hòa  nhập  xã  hội  người  lớn 
bao  gồm  các  hoạt  động  như:  tham  gia  các  hoạt 
động trong gia đình, tham gia các hoạt động xã 
hội, làm việc và thu nhập, làm nội trợ. Trong các 
nhu cầu về hòa nhập xã hội thì nhu cầu về làm 
việc và thu nhập có tỷ lệ cao nhất 69,4% trong đó 
nhu cầu mức độ 1 là 53,1%, mức độ 2 là 46,9%. 
Nhu cầu về tham gia hoạt động gia đình có tỷ lệ 
thấp nhất 36,4% với nhu cầu mức độ 1 là 82,4%, 
nhu cầu mức độ 2 là 17,6%; theo nghiên cứu của 
Nguyễn  Dương  Hanh  và  Nguyễn  Trung  Kiên 
nhu cầu cao nhất là làm việc và thu nhập 94,34% 
trong đó loại 1(15,69%), loại 2 (84,31%), nhu cầu 
về tham gia hoạt động gia đình có tỷ lệ thấp nhất 
74,39% với nhu cầu mức độ 1 là 40,53%, nhu cầu 
mức độ 2 là 59,47%. Từ kết quả trên nhận thấy 
nhu cầu làm việc có thu nhập luôn chiếm tỷ cao, 
điều này do NKT khó có cơ hội làm việc độc lập, 
nhất  là  NKT  có  nhu  cầu  ở  mức  2  là  không  thể 
làm việc độc lập và hỗ trợ cao hơn nhu cầu sinh 
hoạt gia đình luôn thấp hơn bởi vì sinh hoạt gia 
đình  thì  đơn  giản  hơn,  nhu  cầu  mức  độ  1  cao 
hơn  mức  độ  2;  còn  nghiên  cứu  của  Nguyễn 
Dương Hanh và Nguyễn Trung Kiên thì ngược 
lại,  cho  thấy  NKT  trong  nghiên  cứu  có  cơ  hội 
hòa nhập xã hội nhiều hơn.  

KIỀN NGHỊ 
Chương  trình  PHCN  dựa  vào  cộng  đồng 
tỉnh  Bình  Dương  cần  phải  khảo  sát  nhu  cầu 
PHCN  của  NKTVĐ  theo  từng  nhóm  nhu  cầu 
và  có  kế  hoạch  hổ  trợ  cho  NKTVĐ  sớm  hòa 
nhập xã hội.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 
Ban chỉ đạo điều tra dân số trung ương (2009) ʺTổng điều tra 
dân số và nhà ở Việt Nam 2009ʺ. NXB Y học. Hà Nội. Tr 6 ‐ 
226. 

2.

Dương  Quang  Tỉnh  (2011),  Nghiên  cứu  nhu  cầu  phục  hồi 
chức năng của người khuyết tật và kết quả chương trình phục 
hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại 2 xã của huyện tuyên 
Du  Tỉnh  Bắc  Ninh.  Luận  án  Bác  sĩ  Chuyên  khoa cấp  II.  Đại 
học Y Hà Nội. Tr 60. 

3.

Công Phượng (2012).  
https://vietnam.unfpa.org/webdav/site/vietnam/shared/Public
ations%202011/Disability_Viet.pdf. Truy cập ngày 23/1/2012. 

KẾT LUẬN 
Qua  kết  quả  nghiên  cứu  trên  985  người 
khuyết  tật  vận  động  tại  thành  phố  Thủ  Dầu 
Một, tỉnh Bình Dương 06/2012 ‐ 09/201. Người 
khuyết  tật  nhu  cầu  theo  nhóm,  vận  động 
(82,7%),  hòa  nhập  xã  hội  73,7%,  sinh  hoạt 
36,4%, giao tiếp (13,4%). 

1.

4.

Nguyễn Dương Hanh, Nguyễn Trung Kiên (2011). Nhu cầu 
phục  hồi  chức  năng  tại  cộng  đồng  của  người  khuyết  tật  ở 
quận Ninh Kiều. Đề tài nghiên cứu khoa học cáp thành phố. 
Thành phố Cần Thơ. Tr38 ‐ 39. 

5.

Nguyễn  Lương  Bầu  (2005),  Tình  hình  người  tàn  tật  và  hoạt 
động phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại huyện Tân 
Yên tỉnh Bắc Giang năm 2005. Luận án Bác sĩ Chuyên khoa 
cấp II. Trường Đại học Y Thái Bình. Tr 43 ‐ 82. 

6.

Trần Văn Chương (2010), Phục hồi chức năng bệnh nhân liệt 
nửa người do tai biến mạch máu não. Nhà xuất bản Y học Hà 
Nội. Hà Nôi.Tr 9 ‐ 71. 

7.

Trần  Văn  Hải  (2011),  Tình  hình  hoạt  động  phục  hồi  chức 
năng dựa vào cộng đồng cho người khuyết tật về vận động 
tại thị xã Tam Điệp Tỉnh Ninh Bình 2011. Luận án tốt nghiệp 
chuyên khoa II. Đại học Y Thái Bình. Tr 29 ‐ 101. 

8.

United Nation Population Fund (2009). Người khuyết tật Việt 
Nam: một số kết quả chủ yếu từ tổng cục điều tra dân số và 
nhà ở Việt Nam 2009. Tr. 34‐78. 

 
Ngày nhận bài báo:  

 

 

18/5/2014 

Ngày phản biện nhận xét bài báo:  

25/6/2014 

Ngày bài báo được đăng:  

14/11/2014 

 

 

 

 

564

 

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×