Tải bản đầy đủ

Vân môi của người Việt Nam vùng Đồng bằng Sông Cửu Long

VÂN MÔI CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Võ Huỳnh Trang*, Lê Văn Cường**

TÓM TẮT
Ngày nay “vân môi” đãtrở thành dữ liệu sinh trắc học quan trọng để xác định đó chỉ duy nhất là bạn mà
thôi. Tuy nhiên việc sử dụng nó chỉ có ở một số quốc gia mà chưa được phổ biến rộng rãi. Do đó vân môi cần
được nghiên cứu rộng và sâu hơn nữa nhất là ở Việt Nam.
Mục tiêu: (1) Phân loại và tính tỉ lệ các dạng vân môi của người Việt Nam ở vùng Đồng bằng sông Cửu
Long. (2) So sánh vân môi ở nam giới và nữ giới. (3) Xác định vân môi mang tính đặc trưng duy nhất của cá thể.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu vân môi của 1618 người dân gồm ba dân tộc Kinh,
Khmer, Chăm; từ 5 – 82 tuổi; sinh sống ở 8/13 tỉnh thành vùng Đồng bằng sông Cửu Long bằng máy chụp hình
kỹ thuật số.
Kết quả: Chúng tôi phân được 8 dạng vân môi. Trong đó, dạng I rãnh thẳng chiếm tỉ lệ cao nhất. Vân môi ở
nam và nữ nhìn chung không khác nhau. Và chúng tôi không tìm được mẫu vân môi nào giống mẫu vân môi nào.
Kết luận: Vân môi khác nhau ở các cá thể khác nhau nên có thể ứng dụng để nhận dạng cá thể hay xác định
tội phạm.
Từ khóa: Vân môi

ABSTRACT
LIP PRINTS OF THE VIETNAMESE RESIDENTS IN THE MEKONG DELTA

Vo Huynh Trang, Le Van Cuong 169 - 175
Lip prints has become a important data in biometry to identify the unique of an individual. However, use of
this biometric data has been rare – not common, only made in a few countries. Therefore, there should be more
comprehensive research in lip prints, especially in Viet Nam.
Objectives: (1) Classify and calculate the proportion of types of the lip prints of the Vietnamese residents in
the Mekong delta. (2) Compare types of lip prints between male group and female group. (3) Confirm that a lip
print is unique of an individual.
Research methods and subjects: 1618 people of 3 races: Kinh, Khmer and Cham aged from 5 to 82 in 8/13
cities and provinces in the Mekong delta were taken photograph by a digital camera.
Results: 8 types of lip prints were classified. The highest proportion among them is the type I with straight
furrows. Lip prints are generally not different between women and men groups. No identical lip prints were
identified.
Conclusion: Lip prints are different in different individuals. Therefore, they are used for personal
recognition or crime investigation.
Keyword: lip print

BM Giải phẫu - Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
** Bộ môn Giải phẫu - Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh
Địa chỉ liên hệ: ThS. Võ Huỳnh Trang
Điện thoại: 0989576785

*

Email: vhtrang@ctump.edu.vn
169


ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong khoa học hình sự, để xác định cá thể,
người ta dựa vào các chỉ số và đặc điểm do nhân
trắc học cung cấp như: vân tay, nhóm máu, mô
hình răng... Tuy nhiên trong một số trường hợp
không còn đầy đủ các bộ phận như nạn nhân bị
cắt mất tay, bỏng vân tay hay không có hồ sơ về
răng.... thì việc xác định cá thể gặp nhiều khó
khăn (2), (3). Chính vì thế mà gần 20 năm qua
các nhà khoa học đã không ngừng nghiên cứu
để tìm ra nhiều phương pháp khác nhau giúp
phân biệt người này với người khác, “ngũ vân’’
ra đời từ đây. Một trong ngũ vân là: vân môi.


Năm 1902, Fischer đã mô tả vân môi. Năm
1930, ngành nhân chủng học đề cập đến sự tồn
tại của các nếp nhăn này, nhưng không đề ra
ứng dụng nào cho thực tiễn (4). Mãi đến năm
1950 lần đầu tiên vân môi được Snyder (3) sử
dụng để xác định cá thể người. Santos (2) 1967
đề nghị phân các nếp nhăn ở môi ngưnh tỉ lệ các
dạng vân môi.
Bảng 2: Các dạng và tỉ lệ vân môi
Vân môi
Dạng I: Rãnh
thẳng
(Đi hết bề
dầy môi hoặc
không)
Dạng II:
Rãnh phân
nhánh (Đi
hết bề dầy
môi hoặc
không)

- Các số liệu thu thập được xử lý bằng
phần mềm SPSS 18.0.

Dạng III:
Giao rãnh

Dạng IV:
Lưới rãnh

Phân vùng và khu vực môi ñỏ

Mô hình vân môi

KẾT QUẢ

Dạng V:
Rãnh hình
sao

Qua khảo sát vân môi của 1618 người dân ở

Số liệu chung
Dạng VII:
Không qui
tắc

Bảng 1: Giới tính trong mẫu nghiên cứu
Tỉ lệ (%)
45,4
54,6
100

Số lượng (n)
1013
305
300

Tỉ lệ (%)
62,6
18,9
18,5

84

Tỉ lệ
(%)

5,2

N

8

Tỉ lệ
(%)

0,5

N

16

Tỉ lệ
(%)

1,0

N

9

Tỉ lệ
0,58
(%)

N

1

1

Tỉ lệ
0,06
(%)

Dạng VIII:
N
Không có
rãnh (hoặc Tỉ lệ
chỉ có 1 rãnh (%)
thẳng ở giữa)

Bảng 2: Dân tộc trong mẫu nghiên cứu
Dân tộc
Kinh
Khmer
Chăm

N

Dạng VI: Có
rãnh ngang Tỉ lệ 0,06
(%)

kết quả như sau:

Số lượng (n)
734
884
1618

Tỉ lệ
82.9
(%)

N

vùng Đồng bằng sông Cửu Long, chúng tôi có

Giới
Nam
Nữ
Tổng cộng

Kết quả
N 1342

157
9,7

Bảng 3: Tỉ lệ các cấu trúc khác đi kèm với vân môi
Cấu trúc ñi kèm

Kết quả
N Tỉ lệ (%)

171


Phân loại và tỉ lệ vân môi
Củ môi
(Chỉ có ở 354
môi trên)

21,9

Khu vực giữa môi dưới được xem là nơi có
thể nhìn thấy trong bất cứ tình huống nào, đồng
thời cũng là nơi dễ dàng để lại dấu vân môi

Xoắn môi 66

4,1

nhiều nhất, nên vùng này được các nhà nghiên
cứu vân môi trên thế giới chọn làm vùng quyết
định ghi nhận dấu vân môi. Theo y văn, chúng

Nốt vàng 81

5,1

tôi cũng chọn khu vực 1/3 giữa môi dưới là khu
vực quyết định để đọc rãnh khi tính tỉ lệ rãnh, và

Vân môi và giới tính
Bảng 4: Tỉ vân môi theo giới tính
Dạng vân môi
Dạng I
Dạng II
Dạng III
Dạng IV
Dạng V
Dạng VI
Dạng VII
Dạng VIII

N
Tỉ lệ (%)
N
Tỉ lệ (%)
N
Tỉ lệ (%)
N
Tỉ lệ (%)
N
Tỉ lệ (%)
N
Tỉ lệ (%)
N
Tỉ lệ (%)
N
Tỉ lệ (%)

Khu vực 1/3 giữa môi dưới
P
Nam
Nữ
620
722
84,5
81,7
33
51
4,5
5,8
5
3
0,7
0,3
7
9
0,9
1,0
> 0,05
7
2
0,9
0,2
00
1
0,0
0,1
1
00
0,2
0,0
61
96
8,3
10,9

Xác định vân môi mang tính đặc trưng duy
nhất của cá thể
Hàm tìm kiếm theo dòng trong bảng tinh
Excel 2007 cho kết quả không có mô hình vân
môi nào giống mô hình vân môi nào.

BÀN LUẬN
Số liệu chung
Do mẫu nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên
trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nên tỉ lệ
giữa nam là 45,4% (734 người) và nữ là 54,6%
(884 người); chệnh lệch nhau hơn 9%.
Dân tộc Kinh chiếm nhiều nhất 62,6%. Dân
tộc Khmer 18,9%, dân tộc Chăm 18,5%.

mẫu rãnh tùy thuộc vào tính vượt trội có thể
đếm được của các dạng rãnh tại khu vực này.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 8 dạng vân
môi. Trong đó dạng I rãnh thẳng chiếm cao
nhất và vượt trội 82,9%; các dạng khác có tỉ lệ
giảm dần theo thứ tự: dạng VIII không rãnh
9,7%; dạng II rãnh phân nhánh 5,2%; dạng IV
lưới rãnh 1%; dạng V rãnh sao 0,58%; dạng III
lưới rãnh 0,5%; dạng VI rãnh ngang và dạng
VII rãnh không qui tắc là thấp nhất với 0,06%.
Cách phân dạng này giống với Suzuki và
Tsuchihasshi bốn dạng đầu: rãnh thẳng, rãnh
phân nhánh, giao rãnh và lưới rãnh. Dạng V
của các tác giả này bao gồm những dạng rãnh
còn lại khác với bốn dạng trước. Nhưng ở đây
chúng tôi đã phân thành bốn dạng khác là
rãnh sao, rãnh ngang, rãnh không qui tắc và
không rãnh, vì các dạng rãnh này khác nhau
và có thể phân biệt dễ dàng, đồng thời một số
dạng rãnh lại mang tính đặc trưng của dân tộc
hay lứa tuổi.
Bảng 5: So sánh dạng vân môi với các tác giả khác
Dạng vân
môi

Chúng Lê V. Tsuchihasshi Sivapatha
tôi (%) Cường
sundharam
(%)
(%)
(%)

Rãnh thẳng
82,9
58,1
Phân nhánh
5,2
13,2
Giao rãnh
0,5
9,0
Lưới rãnh
1,0
3,6
Rãnh sao 0,58 10,4 16,6

26,75
21,0
32,55
12,75
6,95

27,04
12,76
41,33
10,71
8,16

Rãnh ngang 0,06
Rãnh không 0,06
qui tắc
Không rãnh 9,7

Tác giả Lê Văn Cường(1) nghiên cứu trên 220
172


sinh viên Đại học Y Dược TP HCM ghi nhận
dạng rãnh thẳng chiếm cao nhất giống với
chúng tôi. Còn Tsuchihasshi nghiên cứu trên 64
người Nhật và Sivapathasundharam nghiên cứu
trên 200 người Aán Độ thì dạng giao rãnh là phổ
biến nhất, sau đó mới tới rãnh thẳng, trong khi
kết quả của chúng tôi thì giao rãnh xuất hiện rất
thấp. Hai tác giả này có dạng V là dạng các rãnh
khác, chiếm 8,16%. Nhưng chúng tôi và tác giả
Lê Văn Cường đã chia thêm 4 dạng nữa.
Dạng II của tác giả Lê Văn Cường là rãnh
thẳng và có củ môi trên, nhưng qua khảo sát
chúng tôi ghi nhận củ môi trên có thể xuất hiện
cùng với các dạng rãnh khác như giao rãnh, rãnh
phân nhánh, nên chúng tôi không xếp vào phân
loại dạng rãnh mà chúng tôi tách chúng vào
nhóm các cấu trúc đi kèm với vân môi. Tỉ lệ xuất
hiện củ môi trong nghiên cứu của chúng tôi là
21,9% cao hơn ghi nhận tỉ lệ củ môi của tác giả là
15,9%
Tác giả Ludwig Hirth(4) nghiên cứu trên 500
người Đức, ông ghi nhận 31,2% vân môi có hình
xoắn ốc, và có 3 dạng: 1 xoắn ốc ở giữa môi trên,
2 xoắn ốc ở môi dưới, 3 xoắn ốc: 1 ở môi trên, 2 ở
môi dưới. Kết qua ûcủa chúng tôi, chỉ có 4,1%
vân môi có xoắn ốc, và 4 dạng: 2 xoắn ở môi
dưới, 2 xoắn ở môi trên, 1 xoắn nằm một bên ở
môi dưới, 1 xoắn ở môi trên.
Một cấu trúc mới mà chúng tôi ghi nhận
được là môi có nốt vàng, các nốt có thể chiếm
gần hết diện tích phần môi đỏ, hoặc rải rác vài
nốt; có thể xếp thành chuỗi hoặc hợp lại thành
đám nằm hai bên môi đỏ; có thể thấy ở môi trên
hoặc môi dưới hoặc cả hai môi. Tỉ lệ xuất hiện
nốt vàng chiếm 5,1% trong mẫu.

Vân môi và giới tính
Theo bảng 3.4, tỉ lệ vân môi ở nam và nữ gần
tương đương nhau, có sự chênh lệch nhưng
không nhiều. Ở nam thứ tự xuất hiện các dạng
giống như thứ tự xuất hiện chung các dạng vân
môi, dạng I chiếm cao nhất, đến dạng VIII, rồi
dạng II, dạng IV, dạng V, dạng III, dạng VII,
dạng VI. Nhưng ở nữ thì thứ tự này có thay đổi,
bốn dạng đầu giống mẫu chung, nhưng tiếp

theo là dạng III rồi mới dạng V, dạng VI và VII
không ghi nhận xuất hiện ở nữ. Tuy nhiên sự
khác nhau về tỉ lệ và thứ tự xuất hiện các dạng
rãnh không có ý nghĩa thống kê với P > 0,05.
Khi so sánh riêng dạng vân môi của nam và
nữ với các tác giả, theo bảng 4.2 thì kết quả của
chúng tôi là dạng rãnh thẳng phổ biến nhất ở cả
hai giới, điều này giống với kết quả nghiên cứu
của tác giả Lê Văn Cường trên người Việt Nam.
Còn trên người Nhật, theo Tsuchihashi thì giao
rãnh là dạng phổ biến nhất, dạng rãnh thẳng chỉ
xếp thứ 2. Nghiên cứu của chúng tôi thì ghi
nhận dạng giao rãnh và dạng lưới rãnh xuất
hiện với tỉ lệ rất thấp, chưa tới 1% ở cả hai giới.
Bảng 6: So sánh dạng vân môi với các tác giả khác ở
nam và nữ
Dạng vân
môi

Chúng tôi Lê Văn Cường Tsuchihashi
Nam Nữ
Nam
Nữ
Nam
Nữ

Rãnh thẳng
Phân nhánh
Giao rãnh
Lưới rãnh
Rãnh sao
Rãnh ngang
Không qui tắc
Không rãnh

84,5 81,7
4,5 5,8
0,7 0,3
0,9 1,0
0,9 0,2
0,0 0,1
0,2 0,0
8,3 10,9

Củ môi

19,8 23,6

58,6% 57,7% 27,3% 26,2%
13,4% 12,9% 18,2% 23,8%
9,6% 8,6% 31,3% 33,3%
4,8% 2,5% 13,6% 11,9%
10,5% 13,6%

9,1%

4,8%

14,4% 17,2%

Xác định vân môi mang tính đặc trưng duy
nhất của cá thể
Để có thể kết luận không có vân môi của
người nào giống người nào trong 1364 người
Nhật mà mình nghiên cứu, Tsuchihasshi đã
xây dựng sơ đồ cho các rãnh vân môi dựa theo
qui ước ghi sơ đồ răng với bốn vùng: 1/4 trên
(P); 1/4 trên (T); 1/4 dưới (P); 1/4 dưới (T); các
rãnh vân môi sẽ được bà ghi nhận theo 6 dạng
phân loại của bà lên 4 vùng trên. Tsuchihashi
gọi đây là mô hình vân môi. Từ đó bà đã kết
luận: không có vân môi nào có cùng mô hình
trong nghiên cứu của mình. Trong nghiên cứu
này, chúng tôi phân vân môi thành 12 khu vực
như trên đã mô tả, 8 dạng vân mơi sẽ được ghi
nhận trên 12 khu vực này. Vì vân môi rất đa
dạng và phong phú, nên tuy cùng một dạng
rãnh nhưng chúng có thể khác nhau về chiều
173


dài, độ rộng, độ nông sâu, nên để chi tiết thêm
các dạng rãnh, 4/8 dạng lớn này được phân
thành các dạng nhỏ hơn, và ký kiệu dấu “'”
hay “a” hoặc “b” để phân biệt vài đặc điểm
khác nhau trong dạng đó. Với cách phân chia
này chúng tôi có 16 dạng nhỏvà được mã hóa
từ số 1 đến 16 khi nhập vào bảng tính Excel.
Khi xây dựng mô hình vân môi, chúng tôi ghi
nhận 1 đến 2 dạng rãnh trên một khu vực. Khi
tạo bảng tính Excel thì với một khu vực vân
môi chúng tôi có hai cột ghi nhận hai dạng
rãnh này, nên với 12 khu vực môi, chúng tôi có
24 cột dạng rãnh vân môi. Mỗi cấu trúc củ môi,
xoắn môi, nốt vàng cũng được xây dựng thành
cột. Tổng cộng chúng tôi có 25 cột và1618 dòng
trong bảng tính Excel. Với việc sử dụng hàm
tìm kiếm theo dòng, chúng tôi có kết quả
không dòng nào giống dòng nào tức là không
có mô hình vân môi nào giống mô hình vân
môi nào. Điều này chứng minh trong 1618
người Việt Nam vùng Đồng bằng sông Cửu
Long không có vân môi của người nào giống
người nào.

2.
3.
4.

5.

6.

Khoa học Kỹ thuật lần thứ 22, chuyên đề Y học cơ sở. Nhà xuất
bản Y học TP Hồ Chí Minh. Phụ bản số 1, tập 9, tr: 1 - 5.
Santos M.(1967). A supplementary stomatological means of
identification, Int. Microform. J. Leg. Med, 2.
Snyder L.(1950).Homicide Investigation. Thomas Springfield, III,
pp: 65.
Sivapathasundharam B. and Prakash P.A.(2001).Lip prints
(Cheiloscopy). Indian Journal of Dental Research, 12 (4), pp: 234 237.
Suzuki K., Suzuki H., and Tsuchihashi Y.(1970). New attempt of
personal identification by means of lip print. Journal of the Indian
Dental Association, 42 (1), 1970, pp: 8 - 9.
Tsuchihashi Y.(1974).Studies on personal identification by means
of lip prints. Forensic Science, 3 (3), pp: 233 - 248.

KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu vân môi của 1618 người
Việt Nam ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long,
chúng tôi ghi nhận:
Có 8 dạng vân môi
- Dạng I rãnh thẳng phổ biến nhất chiếm
82,9%%.
- Củ môi có thể kết hợp với các dạng khác,
và xuất hiện với tỉ lệ21,9%.
- Xoắn môi xuất hiện 4,1% và gặp bốn dạng:
1 xoắn ở môi trên, 1 xoắn ở một bên môi dưới, 2
xoắn ở môi trên, 2 xoắn ở môi dưới.
Không có sự khác nhau về vân môi giữa
nam và nữ: dạng I phổ biến nhất ở cả hai giới.
Vân môi khác nhau giữa các cá thể khác
nhau hay nói cách khác là vân môi mang tính
đặc trưng duy nhất của cá thể.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Lê Văn Cường.(2005). Hình thái vân môi của 220 sinh viên Đại Học
Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Y Học TP. Hồ Chí Minh, Hội nghị

174


175



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×