Tải bản đầy đủ (.pdf) (8 trang)

Đánh giá hiệu quả thủ thuật thông lệ đạo kết hợp nội soi mũi trong điều trị tắc lệ đạo bẩm sinh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (422.57 KB, 8 trang )

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013

Nghiên cứu Y học

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THỦ THUẬT THÔNG LỆ ĐẠO
KẾT HỢP NỘI SOI MŨI TRONG ĐIỀU TRỊ TẮC LỆ ĐẠO BẨM SINH
Nguyễn Thành Danh*, Nguyễn Công Kiệt*

TÓM TẮT
Mục đích: Đánh giá hiệu quả của thủ thuật thông lệ đạo có kết hợp nội soi mũi trong điều trị bệnh lý tắc lệ
đạo bẩm sinh.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng không nhóm chứng, tiến hành tại
bệnh viện Nhi Đồng 2 thành phố Hồ Chí Minh từ 8/2011 – 8/2012. 31 mắt của 23 bệnh nhi bị tắc lệ đạo bẩm sinh
từ trên 6 tháng tuổi được điều trị bằng phương pháp thông lệ đạo có kết hợp nội soi mũi dưới gây mê toàn thân.
Theo dõi và đánh giá kết quả sau 6 tháng.
Kết quả: 23 bệnh nhi (12 nam và 11 nữ) từ 6 tháng đến 60 tháng tuổi. 8 trẻ bị tắc đạo bẩm sinh hai mắt.
Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 16,6 ± 13,5 tháng tuổi. 21/31 mắt đã tiến hành thông lệ đạo trước đó. Tỷ
lệ thành công chung của thông lệ đạo kết hợp nội soi mũi là 90,3% (28/31 mắt) tại thời điểm 6 tháng sau thủ
thuật. Tỷ lệ thành công phụ thuộc vào nguyên nhân tắc nghẽn và tỷ lệ nghịch với số lần thông lệ đạo trước đó.
4/31 mắt (12,9%) xuất hiện biến chứng chảy máu trong lúc tiến hành thủ thuật. 5/31 mắt (16,1%) xảy ra tình
trạng thông sai đường. Tất cả các trường hợp thông sai đường đều được nội soi mũi phát hiện và hướng dẫn
thông đúng đường.
Kết luận: Phương pháp thông lệ đạo có kết hợp nội soi mũi cho tỷ lệ thành công cao, giúp phát hiện nguyên
nhân gây tắc nghẽn và hạn chế biến chứng thông sai đường.
Từ khóa: Tắc lệ đạo bẩm sinh, thông lệ đạo, nội soi mũi.

ABSTRACT
RESULTS OF ENDOSCOPIC ASSISTED PROBING FOR CONGENITAL NASOLACRIMAL DUCT
OBSTRUCTION
Nguyen Thanh Danh, Nguyen Cong Kiet
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 - Supplement of No 1 - 2013: 213 - 220


Purpose: to evaluate the results of lacrimal probing with the use of nasal endoscopy for congenital
nasolacrimal duct obstruction.
Subject and Methods: In a prospective study, at the Children Hospital No.2, HCM city, from August 2011 to August - 2012. 31 eyes of 23 children with congenital nasolacrimal duct obstruction (CNLDO)
underwent probing of the lacrimal duct under general anaesthetic in conjunction with nasal endoscopy. Patients
followed up for 6 months.
Results: A total of 23 children were included in the study and 31 lacrimal drainage system underwent
endoscopic probing. The age range was 6-60months (mean 16.6 ± 13.5 months). 21/31 eyes had previous probing.
The overall success rate was 90.3% (28/31 eyes). The outcome depended on the level of the obstruction and
previous probing. There were no sirious complications notes although 4/31 eyes (12.9%) nasal bleeding and 5/31
eyes (16.1%) had false passage.
Conclusions: Nasolacrimal duct probing under direct nasal endoscopic visualization can be considered as


Bộ Môn Mắt, Đại Học Y Dược

Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Thành Danh

Chuyên Đề Mắt – Tai Mũi Họng

ĐT: 0934.689.986

Email: dr.danh@yahoo.com.vn

213


Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013


the standard treatment of CNLDO as it minimizes intranasal trauma and leads to a better surgical outcome.
Key words: Congenital nasolacrimal duct obstruction (CNLDO), probing, nasal endoscopy.
linh hoạt trong điều trị khi giúp phẫu thuật viên
ĐẶT VẤN ĐỀ
có cơ hội lựa chọn nhiều biện pháp điều trị thích
Tắc lệ đạo bẩm sinh là bệnh lý thường gặp ở
hợp trong cùng một lần can thiệp. Qua đó, sẽ
trẻ sơ sinh và trẻ nhũ nhi, với tần suất thay đổi
giúp bệnh nhi tránh được nguy cơ gây mê nhiều
từ 5% đến 20%. Cơ chế bệnh sinh do tắc nghẽn
lần(1,2,5,7,9,10). Với những ưu điểm vượt trội, nhiều
trong hệ thống thoát lưu nước mắt, trong đó sự
tác giả nhận định việc kết hợp nội soi mũi với
tồn tại một màng mỏng tại vị trí van Hasner bởi
thủ thuật thông lệ đạo sẽ là xu hướng mới trong
quá trình ống hóa không hoàn toàn chiếm gần
điều trị bệnh lý tắc lệ đạo bẩm sinh trong thế kỷ
80% các trường hợp. Bệnh thường biểu hiện sớm
XXI(2,5).
trong những tuần đầu sau sinh với triệu chứng
Tại Việt Nam, nội soi mũi đã được áp dụng
chảy nước mắt kèm tăng tiết chất nhầy hoặc
kết hợp với thông lệ đạo trong điều trị bệnh lý
ghèn gây rất nhiều lo lắng cho thân nhân bệnh
tắc lệ đạo bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 từ
nhi. Các trường hợp không tự khỏi sau 6 – 12
tháng 10/2010, bước đầu mang lại hiệu quả khả
tháng sẽ được can thiệp bằng nhiều phương
quan. Thế nhưng cho đến nay, ở nước ta cũng
pháp khác nhau, trong đó thông lệ đạo là biện

như tại các quốc gia khác trong khu vực Đông
pháp phổ biến nhất được hầu hết các bác sĩ nhãn
Nam Á hiện vẫn chưa có một báo cáo nào về
nhi trên thế giới đề nghị.
hiệu quả của phương pháp này.
Phương pháp thông lệ đạo với ưu điểm dễ
Với tất cả những nhận định trên, đề tài
thực hiện, cho tỷ lệ thành công cao. Tuy nhiên,
“Đánh giá hiệu quả thủ thuật thông lệ đạo kết
nhiều tác giả vẫn cho rằng đây là thủ thuật “mù”
hợp nội soi mũi trong điều trị tắc lệ đạo bẩm
do phụ thuộc nhiều vào kỹ thuật, kinh nghiệm
sinh” được chọn nghiên cứu nhằm mục đích:
của người thực hiện và thiếu tính khách quan.
Mô tả đặc điểm lâm sàng bệnh lý tắc lệ đạo
Những trường hợp không thành công ở lần
bẩm sinh..
thông lệ đạo đầu tiên thường được đề nghị
thông lại lần thứ hai, thậm chí lần thứ ba trước
khi chuyển sang áp dụng một biện pháp can
thiệp khác mà vẫn không xác định được nguyên
nhân gây thất bại. Đầu thập niên 70 của thế kỷ
XX, với ưu điểm về cung cấp hình ảnh, nội soi đã
khắc phục được các hạn chế nêu trên của thủ
thuật thông lệ đạo truyền thống.
Từ năm 1996, nghiên cứu về vai trò của nội
soi trong thủ thuật thông lệ đạo bắt đầu được
thực hiện tại nhiều nơi trên thế giới. Qua đó, các
tác giả đã khẳng định nội soi mũi sẽ giúp cho
việc tiến hành thủ thuật thông lệ đạo trở nên dễ

dàng, thuận tiện và an toàn hơn. Bên cạnh đó,
nội soi mũi còn giúp chẩn đoán, xử lý triệt để các
nguyên nhân bất thường ở mũi gây tắc ống lệ
mũi. Chính vì thế sẽ làm tăng tỷ lệ thành công
của thủ thuật thông lệ đạo đến 87% - 100%.
Quan trọng hơn, nội soi còn thể hiện được tính

214

Xác định tỷ lệ thành công của thủ thuật
thông lệ đạo kết hợp nội soi mũi trong điều trị
tắc lệ đạo bẩm sinh.
Nghiên cứu này sẽ góp phần làm căn cứ
khoa học cho việc triển khai rộng rãi phương
pháp thông lệ đạo kết hợp nội soi mũi tại các cơ
sở y tế chuyên khoa trong cả nước. Qua đó, giúp
những bệnh nhi bị tắc lệ đạo bẩm sinh có cơ hội
được tiếp nhận một phương pháp điều trị mới,
an toàn, hiệu quả và triệt để hơn.

ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNGPHÁP NGHIÊNCỨộ nhạy –
độ đặc hiệu cao và không đòi hỏi phương tiện
khám chuyên biệt. Kết quả 83,9% trong nghiên
cứu thấp hơn so với tác giả MacEwen đã nêu khi
tiến hành khảo sát độ nhạy và độ đặc hiệu của
nghiệm pháp mất thuốc nhuộm trong chẩn đoán
bệnh lý tắc lệ đạo bẩm sinh(8). Điều này có thể do
sự khác biệt về cỡ mẫu và đối tượng trong 2
nghiên cứu.


Biến chứng chỉ xảy ra trong lúc tiến hành thủ
thuật, chủ yếu là thông sai đường 16,1% (5/31
mắt) và chảy máu 12,9% (4/31 mắt). Tất cả những
biến chứng đều được xử trí tốt và không để lại di
chứng cho bệnh nhân.

BÀN LUẬN
Tuổi
Tuổi trung bình trong nghiên cứu này là 16,6
tháng. Đối chiếu với các nghiên cứu khác trên
thế giới, nhận thấy tuổi trung bình của nghiên
cứu này thấp hơn các nghiên cứu tiến hành tại
châu Âu của tác giả Mac Ewen C.J.(7) (34 tháng
tuổi), tác giả Wallace E.J. 29 tháng tuổi(10), tác giả
Kouri A.S. 32,1 tháng tuổi(5), tác giả Cakmak S.S.
33,9 tháng tuổi(1) nhưng cao hơn nghiên cứu tại
châu Á của tác giả Ossama M.H. 14,1 tháng
tuổi(9). Sự khác nhau này xuất phát từ tiêu chuẩn
chọn mẫu, qua đó gián tiếp thể hiện hai quan
điểm điều trị khác nhau ở các châu lục. Cụ thể
các tác giả tại châu Âu chọn đối tượng nghiên
cứu là những trẻ bị tắc lệ đạo bẩm sinh trên 12
tháng tuổi trong khi tác giả tại châu Á chọn
nhóm đối tượng trên 4 tháng tuổi. Điều này
minh chứng rằng cho đến nay thời điểm thông lệ
đạo vẫn còn là một đề tài gây tranh luận. Trong
nghiên cứu này, chúng tôi chọn thời điểm can
thiệp sau 6 tháng tuổi vừa nhằm mục đích chờ
đợi sự tự mở thông của hệ thống lệ đạo vừa
nhằm làm hạn chế tình trạng viêm kết mạc và sử

dụng thuốc kháng sinh kéo dài gây ảnh hưởng
đến mắt của trẻ.

Triệu chứng cơ năng
Triệu chứng chảy nước mắt hiện diện trong
tất cả các trường hợp, thường xuất hiện liên tục
và sớm ngay trong tháng đầu sau sinh. Trong

Chuyên Đề Mắt – Tai Mũi Họng

Triệu chứng lâm sàng

Tiền căn xử trí
Có ít trường hợp được hướng dẫn và thực
hiện day ấn vùng túi lệ đúng cách (35,5%) và 2/3
được chỉ định thông lệ đạo sớm trước 6 tháng
tuổi. Điều này có thể giải thích bởi nhiều trường
hợp tắc lệ đạo bẩm sinh được chẩn đoán bởi các
các bác sĩ chuyên khoa Nhi, thậm chí Sản khoa
thông qua những lần khám tiêm ngừa đầu tiên.
Do đó, việc cung cấp thông tin về bệnh lý cũng
như cách chăm sóc, day ấn vùng túi lệ cho thân
nhân bệnh nhi chưa thật sự hiệu quả. Ngược lại,
do triệu chứng chảy nước mắt, đổ ghèn xuất

217


Nghiên cứu Y học


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013

hiện sớm sau sinh đã gây nhiều lo lắng cho thân
nhân bệnh nhi, và gây nhầm lẫn sang chẩn đoán
viêm kết mạc nên đại đa số đều được sử dụng
kháng sinh (87,1%) thậm chí nhỏ sữa mẹ vào mắt
theo kinh nghiệm dân gian (42,0%).

Tỷ lệ thành công chung
Có sự biến thiên theo thời gian do có sự khác
nhau trong tiêu chuẩn đánh giá giữa lúc tiến
hành thủ thuật và tại các điểm tái khám. Bên
cạnh đó, cũng phải kể đến nguyên nhân từ quá
trình phát triển tự nhiên của cơ thể, đặc biệt các
cơ vòng mi, cơ Horner giúp cho bơm lệ đạo hoạt
động ngày càng hiệu quả hơn. Khi đối chiếu với
các nghiên cứu khác, nhận thấy tỷ lệ thành công
của chúng tôi (90,3%) gần tương tự với tác giả
Wallace 88,5%(10) nhưng cao hơn so với kết quả
của các tác giả Gardiner 84,8%(3), tác giả Mac
Ewen 85%(7), tác giả Kouri A.S. 84,6%(5). Sự khác
biệt này do nghiên cứu của chúng tôi đã loại
những trường hợp tắc lệ đạo bẩm sinh có
nguyên nhân từ lệ quản nên kết quả sẽ cao hơn
so với hai tác giả trên. Bên cạnh đó, sự khác biệt
còn có thể xuất phát từ đặc điểm của nhóm đối
tượng nghiên cứu. Cụ thể, toàn bộ 33/33 mắt
thuộc nhóm nghiên cứu của tác giả Gardiner đều
đã thông lệ đạo thất bại trước đó. Điều này đã
khiến cho tỷ lệ thành công giảm thấp. Với

nghiên cứu của tác giả Mac Ewen và Kouri,
nhóm đối tượng nghiên cứu có độ tuổi phân bố
rộng, tuổi cao nhất lên đến 126 tháng. Trong
bệnh lý tắc lệ đạo bẩm sinh ở trẻ lớn, người ta
nhận thấy có sự gia tăng tỷ lệ các dạng tắc nghẽn
phức tạp, các bất thường vùng mũi đi kèm.
Chính điều này khiến cho tỷ lệ thành công của
phương pháp thông lệ đạo ở trẻ lớn giảm thấp.
Tuy nhiên, kết quả của chúng tôi vẫn thấp
hơn so với công trình của tác giả Cakmak
(94,4%)(1) do tác giả chỉ chọn can thiệp trên
những trẻ chưa thông lệ đạo. Cho đến hiện
nay, trong các nghiên cứu về phương pháp
thông lệ đạo có kết hợp nội soi mũi trong điều
trị bệnh lý tắc lệ đạo bẩm sinh, công trình của
tác giả Ossama M.H. cho tỷ lệ thành công cao
nhất: 97,0% ở lần thông đầu và 100% ở lần

218

thông thứ 2(9). Sự khác biệt này có thể giải
thích bởi ba yếu tố chính. Thứ nhất, tác giả
chọn thời điểm tiến hành can thiệp sớm (4
tháng), do đó tỷ lệ thành công sẽ bao gồm
luôn những trường hợp tự khỏi. Thứ hai, chủ
động chọn những trẻ chưa có can thiệp trước
đó và giới hạn tuổi cao nhất trong nghiên cứu
(48 tháng). Điều này đã hạn chế các trường
hợp tắc nghẽn phức tạp hoặc những bất
thường vùng mũi đi kèm thường xảy ra ở trẻ

lớn. Cuối cùng, tác giả tiến hành bẻ cuống mũi
trên toàn bộ mẫu nhằm làm thông thoáng tại
vị trí lỗ đổ của ống lệ mũi vào hốc mũi.
Khi phân tích tỷ lệ thành công theo nhóm
tuổi nhận thấy tỷ lệ này giảm dần theo nhóm
tuổi. Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý
nghĩa thống kê. Sự khác biệt này do đặc điểm
trong bệnh lý tắc lệ đạo bẩm sinh, tỷ lệ tắc nghẽn
phức tạp, phối hợp với những bất thường vùng
sọ mặt, mũi xoang tăng cao ở trẻ lớn, làm giảm
tỷ lệ thành công của thủ thuật thông lệ đạo.
Nghiên cứu của tác giả Wallace cho tỷ lệ thành
công 96,4% ở nhóm từ 12 đến 24 tháng; 84,5% ở
nhóm trên 24 tháng(10). Tỷ lệ này là cao hơn so
với nghiên cứu của chúng tôi, có thể do tác giả
Wallace tiến hành thông lệ đạo trên những trẻ
không có tiền căn can thiệp trước đó.
Tỷ lệ thành công tỉ lệ nghịch với số lần can
thiệp thông lệ đạo trước đó. Sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê, tương quan nghịch giữa tỷ lệ
thành công và số lần can thiệp thông lệ đạo
trước đó, mức độ tương quan thấp (R = - 0,38).
Trong những nghiên cứu trước đây chưa có
phân tích ghi nhận về mối tương quan này có lẽ
một phần là do hầu hết các nghiên cứu tiến hành
ở ngay lần thông đầu tiên hoặc đã chuyển sang
áp dụng một phương pháp điều trị khác như
phẫu thuật đặt ống nong lệ đạo, phẫu thuật tiếp
khẩu túi lệ - mũi… chứ không cố gắng tiến hành
thông lại nhiều lần như ở nước ta. Trong khi đó

ở nước ta hiện nay, do tâm lý sợ gây mê của thân
nhân bệnh nhi kèm với tình trạng thiếu trang
thiết bị và đội ngũ nhân viên y tế chuyên về mắt
nhi, gây mê nhi tại các cơ sở y tế các tỉnh nên hầu

Chuyên Đề Tai Mũi Họng – Mắt


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013
hết các bệnh nhi thất bại với thông lệ đạo thường
được chỉ định tiếp tục thông lại nhiều lần. Tỷ lệ
phẫu thuật đặt ống ở những bệnh nhân này là
rất thấp và gần như không có bệnh nhi nào được
chỉ định phẫu thuật tiếp khẩu túi lệ - mũi. Thực
trạng này kéo dài sẽ làm tăng khả năng tổn
thương đường dẫn lệ, tạo sẹo xơ… ảnh hưởng
đến kết quả thành công của các phương pháp
khác sau đó.
Tỷ lệ thành công phân bố theo nguyên nhân:
Đối chiếu kết quả với các tác giả khác, nhận thấy
đối với nguyên nhân hẹp điểm lệ, tỷ lệ thành
công của chúng tôi tương tự với các tác giả Mac
Ewen và Wallace. Đối với những trường hợp tắc
nghẽn tại ống lệ mũi, tỷ lệ thành công trong
nghiên cứu của chúng tôi (90,9%) cao hơn so với
tác giả Mac Ewen (85,0%) nhưng thấp hơn của
tác giả Wallace (100%) có lẽ do sự chênh lệch về
cỡ mẫu. Đối với những trường hợp chảy nước
mắt chức năng, tỷ lệ thành công trong nghiên
cứu này tương tự kết quả của tác giả Kouri,

nhưng cao hơn so với của tác giả Mac Ewen
(25%) và Wallace (55,6%). Điều này có thể lý giải
do thời gian theo dõi của chúng tôi và tác giả
Kouri là sau thủ thuật 6 tháng trong khi 2 tác giả
Mac Ewen và Wallace đánh giá chỉ sau 1 tháng.
Do đó, sẽ có một số trường hợp chảy nước mắt
chức năng sẽ tự khỏi sau một thời gian theo dõi
khiến cho tỷ lệ thành công tăng.
Đáng lưu ý, trong kết quả nghiên cứu cho
thấy có 12,9% các trường hợp tắc lệ đạo bẩm sinh
có nguyên nhân từ những bất thường vùng mũi.
Nếu như không có sự hỗ trợ của nội soi, những
trường hợp này sẽ thất bại với nhiều lần thông lệ
đạo “mù” lập đi lập lại mà không xác định được
nguyên nhân của sự thất bại. Trong khi đó, với
sự kết hợp của nội soi mũi, những bất thường
này sẽ được quan sát trực tiếp và can thiệp đơn
giản như bẻ cuống mũi với tỷ lệ thành công cao,
giúp bệnh nhi tránh phải thông lại nhiều lần,
tránh chịu phẫu thuật đặt ống không đáng có.

Biến chứng
Có 4 mắt bị chảy máu trong lúc thủ thuật,
tuy nhiên đây là tình trạng chảy máu nhẹ, tự
cầm sau 2-5 phút và không gây ảnh hưởng đến
kết quả phẫu thuật. Tình trạng chảy máu là biến
chứng phổ biến của thủ thuật thông lệ đạo, được
ghi nhận trong tất cả các báo cáo của những tác
giả khác. Có 5 mắt (16,1%) xuất hiện biến chứng
thông sai đường biểu hiện bởi hình ảnh đầu que

thông đi dưới niêm mạc vùng hốc mũi hoặc
thoát ra ở vị trí bất thường. Đây là những trường
hợp bị hẹp đầu xa của ống lệ mũi hoặc màng tắc
nghẽn dày. Tất cả các trường hợp hợp này được
mở rộng bằng dao nội soi và thông lại đúng hệ
thống giải phẫu đường dẫn lệ nhờ sự hướng dẫn
của phương tiện nội soi. Nếu không có sự kết
hợp của nội soi mũi, các biến chứng nêu trên sẽ
không được phát hiện kịp thời. Do đó, khi thực
hiện bơm rửa lệ đạo kiểm tra, sẽ tạo nên tình
trạng sưng nề vùng mi – hốc mắt, gây đau cho
bệnh nhi cũng như tạo tâm lý lo lắng cho thân
nhân. Có thể nói, đây là một trong những ưu
điểm nổi bật của việc kết hợp nội soi vào thủ
thuật thông lệ đạo. Ngoài việc làm giảm tỷ lệ
biến chứng, nội soi còn giúp nâng cao tỷ lệ thành
công cho phương pháp thông lệ đạo trong việc
điều trị bệnh lý tắc lệ đạo bẩm sinh.

KẾT LUẬN
Trong điều trị bệnh lý tắc lệ đạo bẩm sinh,
phương pháp thông lệ đạo kết hợp nội soi mũi
cho tỷ lệ thành công cao 90,3%. Tỷ lệ thành công
này phụ thuộc vào nguyên nhân và tỷ lệ nghịch
với số lần can thiệp thông lệ đạo trước đó.
Nội soi mũi sẽ giúp phẫu thuật viên quan sát
trực tiếp các thương tổn, phân loại nguyên nhân
và hạn chế biến chứng thông sai đường.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.

2.

Chuyên Đề Mắt – Tai Mũi Họng

Nghiên cứu Y học

Cakmak SS (2010), “Is it necessary to accompany probing with
endoscopy in cases of congenital nasolacrimal canal obstruction
?”. International Journal of Pediatric Otorhinolaryngology, 74 (9),
pp.1013-1015.
Elmorsy S (2010), “Endoscopic assisted probing for
symptomatic congenital nasolacrimal duct obstruction after
one year of age”. Rhinology, 48 (1), pp.100-103.

219


Nghiên cứu Y học
3.

4.

5.

6.

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013


Gardiner JA (2001), “The role of nasal endoscopy in repeat
peadiatric nasolacrimal duct probing”. J AAPOS, 5 (3), pp.148152.
Katowitz JA (2002), “Management of pediatric lower system:
probing and silastic intubation”. Pediatric Oculoplastic Surgery,
Springer, pp.309-324.
Kouri AS (2008), “Result of endoscopic assisted probing for
congenital nasolacrimal duct obstruction in older children”.
International Journal of Pediatric Otorhinolaryngology, 72 (6),
pp.891-896.
Lueder GT (2009), “Pediatric lacrimal disorders”. Pediatric
Ophthalmology current thought and a practical guide. Springer,
chapter 20, pp.276-279.

220

7.

8.

9.

10.

MacEwen CJ (2001), “Value of nasal endoscopic and probing in
diagnosis and management of children with congenital
epiphora”. British Journal Ophthalmology, 85, pp.314-318.
MacEwen CJ, Young JD (1991), “The fluorescein disappearance
test: an evaluation of its use in infants”. Journal Pediatric
Ophthalmology and Strabismus, 28 (6), pp.302-305.
Ossama MH (2010), “Nasal endoscopic visualization and

management of leading causes of probing failure”. Journal of
Pediatric Ophthalmology & Strabismus, 47 (4), pp.214-219.
Wallace EJ (2006), “Endoscopic assisted probing for congenital
nasolacrimal duct obstruction”. Eye, 20, pp.998-1003.

Chuyên Đề Tai Mũi Họng – Mắt



×