Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

Kiến thức thái độ thực hành về vàng da của các bà mẹ có con bị vàng da sơ sinh điều trị tại khoa nhi Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (205.25 KB, 7 trang )

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010

Nghiên cứu Y học

KIẾN THỨC THÁI ĐỘ THỰC HÀNH VỀ VÀNG DA CỦA CÁC BÀ MẸ
CÓ CON BỊ VÀNG DA SƠ SINH ĐIỀU TRỊ
TẠI KHOA NHI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TIỀN GIANG
Võ Thị Tiến*, Tạ Văn Trầm*

TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành về vàng da của các bà mẹ có con bị vàng da sơ sinh nằm
điều trị tại khoa Nhi Bệnh viện Đa Khoa Tiền Giang.
Thiết kế nghiên cứu: Cắt ngang mô tả. Phỏng vấn kiến thức, thái độ, hành vi về bệnh lý vàng da của 121 bà
mẹ có con bị vàng da sơ sinh nhập viện Khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang.
Kết quả: Kiến thức, thực hành của các bà mẹ có con bị vàng da sơ sinh còn hạn chế. Cần phải tăng cường
giáo dục sức khỏe cho các bà mẹ về bệnh lý vàng da sơ sinh để các bà mẹ có thể phát hiện sớm, mang con đến các
cơ sở y tế khám bệnh kịp thời để được chẩn đoán sớm, điều trị thích hợp.
Kết luận: Cần hướng dẫn cán bộ y tế, gia đình bệnh nhi biết cách phát hiện vàng da, đánh giá mức độ
vàng da để xử lý đúng. Các nhà hộ sinh, y tế địa phương cần phát hiện sớm vàng da, chuyển viện kịp thời,
góp phần giảm tỉ lệ di chứng và tử vong do vàng da sơ sinh.
Từ khóa: vàng da, sơ sinh.

ASTRACT
THE KNOWLEGDE, ATTITUDE AND PRACTICE OF MOTHERS HAVING JAUNDICE CHILDREN IN
PAEDIATRIC DEPARMENT AT TIEN GIANG HOSPITAL
Vo Thi Tien, Ta Van Tram* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 14 - Supplement of No 4 - 2010: 261 - 265
Objectives: to determine the knowlegde, attitude and practice of mothers, having jaundice children in
Paediatric deparment at Tien Giang hospital.
Study design: descriptive and cross-sectional study. Determine the knowlegde, attitude and practice about
jaundice of 121 mothers in Paediatric deparment at Tien Giang hospital.
Results: the knowlegde, attitude and practice of mothers are not good. So it is nesscessery to educate for


mother about jundice for early diagnosist and right treatment.
Conclusion: we have to recognize jaundice children in paediatric to cure on time.
Key word: jaundice.

ĐẶT VẤN ĐỀ
Vàng da là bệnh lý thường gặp ở trẻ sơ sinh
do tăng Bilirubin trong máu. Ở người lớn khi
Bilirubin toàn phần > 2mg% và ở trẻ sơ sinh khi
Bilirubin toàn phần > 7mg% sẽ xuất hiện triệu
chứng vàng da. Vàng da do tăng Bilirubin gián
tiếp thường biểu hiện trong tuần lễ đầu tiên sau
sinh. Trong 3 – 5 ngày đầu sau sinh, khoảng 2%

trẻ sơ sinh có mức Bilirubin > 20mg%, 0,15% trẻ
có mức Bilirubin > 30mg%.
Vàng da do tăng Bilirubin gián tiếp ở trẻ sơ
sinh cần được theo dõi và điều trị thích hợp, nếu
không sẽ dẫn đến triệu chứng vàng da nhân.
Vàng da nhân và các bệnh lý khác của não do
Bilirubin là những tổn thương ở não vùng hạch
nền và nhiều nhân cuống não do độc tính của
Bilirubin. Một trẻ vàng da nhân nếu sống sót

* Bệnh viện Đa Khoa Tiền Giang
Tác giả liên lạc: CN. Võ Thị Tiến, ĐT: 0913771779, Email: khthbvtg@gmail.com

Hội Nghị Nhi Khoa Mở Rộng BV. Nhi Đồng 2 – Lần XIX - Năm 2010

1



Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010

Nghiên cứu Y học

thường để lại nhiều di chứng nặng nề và đó là
gánh nặng cho gia đình và xã hội

Phương pháp nghiên cứu

Ngày nay, với sự hiểu biết đầy đủ về cơ chế,
lâm sàng cũng như nhiều phương pháp chẩn
đoán và điều trị có hiệu quả vàng da (2) nhưng
vẫn còn có nhiều trường hợp vàng da nặng cần
can thiệp. Việc phát hiện sớm các dấu chứng,
triệu chứng vàng da, đưa trẻ đến bệnh viện sớm
nhằm được chẩn đoán và điều trị kịp thời, thích
hợp là điều quan trọng giúp trẻ khỏi bệnh và
tránh các biến chứng não của trẻ sơ sinh vàng
da. Sự hiểu biết của các bà mẹ về bệnh lý vàng
da có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả điều trị
của trẻ. Chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm
đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của các
bà mẹ về bệnh lý vàng da sơ sinh, làm cơ sở cho
công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe trong
cộng đồng.

Phương pháp thu thập dữ liệu

Mục tiêu nghiên cứu

Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành về
vàng da của các bà mẹ có con bị vàng da sơ sinh
nằm điều trị tại khoa Nhi Bệnh viện Đa Khoa
Tiền Giang.

ĐỐI TƯỢNG- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊNCỨU
Đối tượng nghiên cứu
Các bà mẹ có con bị vàng da sơ sinh điều trị
tại Khoa Nhi Bệnh viện Đa Khoa Tiền Giang
năm 2009

Cỡ mẫu
Lấy mẫu toàn bộ.

Tiêu chí chọn mẫu
Các bà mẹ có con bị vàng da do tăng
Bilirubin gián tiếp nằm điều trị tại Khoa Nhi
Bệnh viện Đa Khoa Tiền Giang trong năm 2009
đồng ý tham gia nghiên cứu.

Tiêu chí loại trừ
Các bà mẹ không đồng ý tham gia nghiên
cứu, các bà mẹ không thể hợp tác nghiên cứu
(bị điếc, câm…) hoặc các trẻ vàng da sơ sinh bị
bỏ rơi.

Cắt ngang mô tả.
Phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi, xử lý số
liệu bằng phần mềm Epi Info 6.0


KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1. Đặc điểm các bà mẹ
Đặc ñiểm

Số bà mẹ
Tỷ lệ %
n=121

Tuổi
20 – 29
30 – 40
> 40
Nghề nghiệp
Nội trợ
Buôn bán
Nông dân
Công nhân viên
Khác
Trình ñộ văn hoá
Chưa biết chữ
Cấp 1
Cấp 2
Cấp 3
Trung cấp, cao ñẳng, ñại học
Tiền sử thai kỳ
Đủ tháng
Thiếu tháng
Cân nặng lúc sinh
1500g – 2000g
2000g – 2500g

> 2500g

70
33
18

57,9
27,3
14,8

17
25
27
40
12

14
20,7
22,3
33,1
9,9

1
6
60
40
14

0,8
5

50
33,1
11,1

98
23

81
19

10
31
80

8,3
25,6
66,1

Nhận xét: Tuổi của các bà mẹ đa số là 20 – 29
(57,9%), nghề nghiệp đa số là công nhân viên
(33%), nông dân, buôn bán (43%). Hầu hết các bà
mẹ có học vấn từ cấp 2 trở lên, 81% bé sinh đủ
tháng và 66,1% cân nặng lúc sinh >2500g.
Bảng 2. Kiến thức của bà mẹ về vàng da sơ sinh
Nội dung
Biết
Không biết

Vàng da có nguy
hiểm không

Không
Ảnh hưởng ñến não
Vàng da có hại như
Tác hại khác
thế nào:
Không biết
Bà mẹ thấy con vàng da
Cách nhận
Mắt vàng
biết trẻ
Rọi
qua
ánh sáng mặt trời
vàng da
Không biết
Đã nghe/biết về
bệnh lý vàng da:

2Hội Nghị Nhi Khoa Mở Rộng BV. Nhi Đồng 2 – Lần XIX - Năm 2010

n
41
80
43
78
37
24
65
68
20

15
18

%
33,9
66,1
35,5
64,5
30
20
53,7
56,1
16,6
12,4
14,9


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010
Nội dung
Đi khám ngay
Lúc nào
Thấy
da vàng nhiều hơn
ñưa trẻ
ñến cơ sở
Bú kém
y tế khi
Vàng da kéo dài sau 15 ngày
phát hiện
tuổi

vàng da
Không biết
Tắm nắng sáng
Phòng
Cho bú mẹ
ngừa vàng
Không
có cách ngừa
da
Không biết
Cán bộ y tế
Báo chí, truyền hình,ñài phát
Nguồn
thanh
cung cấp
thông tin
Người thân
Khác

n
59
16
12

%
49
13
10

10


8

24
36
6
22
57
36

20
30
5
18
47
29,8

24

19,8

35
2

28,9
1,5

Bảng 3: Thái độ của bà mẹ về vàng da
Thái ñộ
Lo lắng nhiều

Lo lắng vừa
Không lo lắng

n
89
30
2

%
73,7
24,8
1,5

Bảng 4: Thực hành của bà mẹ
Làm gì khi phát hiện bé vàng da
Đến cơ sở y tế
Phơi nắng
Cho uống thuốc
Phơi nắng+cho uống thuốc
Không làm gì

n
71
50
15
15
4

%
58,7

41,2
12,4
12,4
2,3

BÀN LUẬN
Kiến thức của các bà mẹ về vàng da sơ sinh
Có 33,9% bà mẹ trả lời đã từng nghe hoặc
biết về bệnh lý vàng da sơ sinh, 66,1% bà mẹ
không biết. Kết quả nghiên cứu này tương tự
kết quả nghiên cứu của Đỗ Thị Thu Nhi năm
khảo sát tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 Thành Phố
Hồ Chí Minh(1).
Khi được hỏi “vàng da sơ sinh có nguy hiểm
không?” 35,5% cho rằng vàng da có hại cho trẻ.
Tuy nhiên, có 30% các bà mẹ biết là có hại cho
não, 20% các bà mẹ biết là có hại nhưng không
biết là tác hại gì và 53,7% các bà mẹ không biết.
Chúng ta biết rằng, trong phòng ngừa vàng
da sơ sinh và các di chứng do vàng da gây ra,
việc tăng cường giáo dục các bà mẹ các biện
pháp giáo dục sức khỏe cho người dân qua các
phương tiện thông tin đại chúng để các bà mẹ
biết về vàng da sơ sinh biết tác hại của nó đến cơ

Nghiên cứu Y học

thể của đứa trẻ, đặc biệt là tác hại lên não gây tử
vong hoặc để lại nhiều di chứng do tổn thương
não, để các bà mẹ có thể biết mà theo dõi bé sơ

sinh đi khám bệnh kịp thời khi trẻ bị vàng da là
cần thiết.
Khi được hỏi “Làm thế nào để nhận biết trẻ
vàng da?” có 56,1% các bà mẹ trả lời là khi thấy
da cháu bị vàng, 16,6% khi thấy mắt vàng, 12,4%
nhận biết khi rọi qua ánh sáng mặt trời và 14,9%
không biết các nhận biết. Tuy nhiên, khi được
hỏi “lúc nào đưa trẻ đến cơ sở y tế để khám bệnh
khi phát hiện trẻ vàng da” có 49 % là đi khám
ngay, 13% khám khi thấy vàng da ngày càng
tăng, 8 % cho rằng khi vàng da sau 15 ngày tuổi,
10% cho rằng khi trẻ bú kém, có 20% bà mẹ
không biết làm gì.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự
kết quả nghiên cứu của Đỗ Thị Thu Nhi (1) và Lê
Minh Quý (2) và có khác biệt kết quả nghiên cứu
của Nguyễn Thị Lệ Bình 77% bà mẹ có quan sát
da trẻ mỗi ngày nhưng chỉ có 30% bà mẹ nhận
biết trẻ vàng da, 50% bà mẹ đưa con đi khám
bệnh và 50% không biết cho con đi khám mà cho
tắm nắng hoặc không làm gì cả.
Về phòng ngừa vàng da ở trẻ sơ sinh vàng
da: 30% cho rằng việc tắm nắng sáng, 18% cho
rằng không có cách phòng ngừa vàng da sơ sinh,
5% cho rằng bú sữa mẹ sẽ ngừa được vàng da và
47% không biết cách gì để phòng ngừa vàng da
sơ sinh.
Để phòng ngừa vàng da sơ sinh cần sử
dụng các biện pháp nhằm loại trừ các yếu tố
nguy cơ gây bệnh hoặc không có các yếu tố đó

xuất hiện bằng cách nâng cao điều kiện sống,
chăm sóc y tế, bồi dưỡng các kiến thức cho bà
mẹ về nuôi con bằng sữa mẹ, đảm bảo môi
trường sống, quản lý thai tốt, điều trị các bệnh
lý của mẹ và thai nhi nhằm tránh nguy cơ
nhiễm trùng, dọa sinh non… Việc giáo dục các
bà mẹ để các bà mẹ có kiến thức về nuôi con
khuyến khích trẻ bú mẹ sớm, tận dụng sữa
non…giáo dục các bà mẹ dẹp bỏ các tập quán
xấu ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh như nằm buồng

Hội Nghị Nhi Khoa Mở Rộng BV. Nhi Đồng 2 – Lần XIX - Năm 2010

3


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010
tối kéo dài sau sinh để giúp bà mẹ phát hiện
sớm các bất thường khi trẻ vàng da.
Qua nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy
các kiến thức về nhận biết trẻ vàng da, trẻ đi
khám khi đã phát hiện vàng da, cũng như cách
phòng ngừa vàng da sơ sinh của các bà mẹ còn
nhiều hạn chế cần phải tăng cường hơn nữa các
biện pháp giáo dục các bà mẹ về chăm sóc sức
khỏe trẻ em nói chung và trẻ sơ sinh nói riêng,
trong đó có bệnh lý vàng da sơ sinh.
Về nguồn thu nhận thông tin để hiểu biết
vàng da sơ sinh, qua người thân 28,9%, qua cán
bộ y tế 28,9% và qua báo chí truyền hình 18,9%.

Như vậy, tỷ lệ các bà mẹ biết được vàng da
sơ sinh từ nhân viên y tế còn hạn chế, thông
tin báo chí và các phương tiện truyền thông
cũng góp phần tăng kiến thức người dân, việc
giáo dục sức khỏe cho các bà mẹ có con nằm
viện, từ đó họ trở thành những tuyên truyền
viên giáo dục sức khoẻ cho người xung quanh
cũng có vai trò lớn trong việc nâng cao kiến
thức cho người dân.

Thái độ của các bà mẹ khi con bị vàng da
sơ sinh
Đa số các bà mẹ điều tỏ ra thái độ lo lắng
khi con bị bệnh vàng da. Điều này cho thấy
rằng các bà mẹ rất quan tâm đến con mình, và
một khi họ có kiến thức tốt về chăm sóc và
theo dõi trẻ, họ sẽ nhận ra sớm các dấu hiệu
trẻ vàng da và mang trẻ đến cơ sở y tế được
khám, phát hiện sớm, điều trị đúng các trường
hợp vàng da sơ sinh.

Thực hành của các bà mẹ khi trẻ sơ sinh
bị vàng da
Có 58,7% các bà mẹ mang con đến cơ sở y tế,
41,2% cho trẻ tắm nắng, 12,4% cho trẻ uống
thuốc và 2,3% không làm gì. Cần khuyến khích
các bà mẹ thực hiện các biện pháp cho bú sữa
mẹ, tắm nắng…và mang trẻ đến khám tại các cơ
sở y tế để được phát hiện sớm các triệu chứng,
dấu chứng liên quan đến vàng da sơ sinh, các

yếu tố nguy cơ…để điều trị kịp thời, thích hợp
và tích cực khi trẻ có vàng da như: chiếu đèn,

Nghiên cứu Y học

thay máu khi có chỉ định…Việc chỉ định chiếu
đèn sớm và đúng là điều quan trọng để tránh
các biến chứng thần kinh cho trẻ.

KẾT LUẬN
Qua khảo sát các bà mẹ có trẻ sơ sinh bị vàng
da điều trị tại Khoa Nhi Bệnh viện Đa Khoa Tiền
Giang năm 2009 chúng tôi nhận thấy:
Kiến thức: 33,9% các bà mẹ đã nghe và biết
về vàng da sơ sinh, 35,5% các bà mẹ biết vàng
da sơ sinh có hại và 30% biết là có ảnh hưởng
đến não, về nhận biết vàng da 56% khi thấy da
trẻ bị vàng, 16% thấy mắt trẻ bị vàng. Phòng
ngừa: 30% tắm nắng sớm, 70% không biết
phòng ngừa hoặc cho rằng không có cách
phòng ngừa.
Thái độ và hành vi: Đa số rất lo lắng khi trẻ
sơ sinh bị vàng da sơ sinh, 58% đem con đến
khám bệnh tại các cơ sở y tế, 41% cho trẻ tắm
nắng khi bị vàng da, 12,4% cho uống thuốc và
2,3% không làm gì khi trẻ vàng da.
Qua đó, chúng tôi nhận thấy kiến thức, thực
hành của các bà mẹ có con bị vàng da sơ sinh
còn hạn chế. Trong điều kiện hiện nay với sự
hiểu biết đầy đủ về cơ chế lâm sàng và các cơ sở

y tế đều có trang bị các phương tiện cần thiết cho
điều trị vàng da sơ sinh thì việc trẻ sơ sinh được
chẩn đoán sớm và điều trị đúng tích cực các
trường hợp vàng da là cần thiết.
Kiến thức của người dân, đặc biệt là các bà
mẹ còn hạn chế, ảnh hưởng đến kết quả điều trị
trẻ sơ sinh bị vàng da. Những trường hợp trẻ sơ
sinh bị vàng da nếu các bà mẹ phát hiện sớm,
đưa trẻ đến cơ sở y tế khám bệnh, được xử trí
sớm, kịp thời, chỉ cần chiếu đèn điều trị, trẻ sẽ
khỏi bệnh trong vòng vài ngày. Ngược lại, các
trường hợp phát hiện trễ, đem đến bệnh viện trễ,
trẻ bị vàng da nặng, có khi có biến chứng thần
kinh, dù điều trị tích cực như thay máu có thể
giảm được tỷ lệ tử vong do vàng da, nhưng di
chứng thần kinh, tâm thần như điếc, liệt, chậm
phát triển, kém thông minh…sẽ cao, để lại gánh
nặng cho gia đình và xã hội.

4Hội Nghị Nhi Khoa Mở Rộng BV. Nhi Đồng 2 – Lần XIX - Năm 2010


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010

Nghiên cứu Y học

KIẾN NGHỊ
Qua nghiên cứu này chúng tôi có các kiến
nghị sau:
Tăng cường giáo dục sức khỏe cho các bà mẹ

biết bệnh lý vàng da sơ sinh, biết cách phát hiện
sớm trẻ bị vàng da, cách chăm sóc sức khỏe ban
đầu khi trẻ vàng da và đem trẻ đi khám bệnh
ngay để được chẩn đoán và điều trị thích hợp.
Tập huấn cho nhân viên y tế, đặc biệt là các
nhân viên làm việc tại khoa sản và nhi sơ sinh về
bệnh lý vàng da sơ sinh, các phát hiện sớm, cách
điều trị thích hợp để xử trí đúng các trường hợp
vàng da sơ sinh và hướng dẫn các bà mẹ có trẻ
sơ sinh biết về vàng da sơ sinh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1

2

Đỗ Thị Thu Nhi (2008), Kiến thức về bệnh vàng da của các bà
mẹ có con bị vàng da điều trị tại Khoa Sơ sinh, Bệnh viện Nhi
đồng 2 năm 2008, Y học Thành Phố Hồ Chí Minh, số 4, tập 12,
trang 35 – 41.
Lê Minh Quý (2004), Đặc điểm vàng da tăng Bilirubin gián tiếp
ở trẻ được thay máu tại Khoa Sơ sinh, Bệnh viện Nhi đồng 1, Y
học Thành Phố Hồ Chí Minh, tập 10, số 1, trang 37 – 42.

Hội Nghị Nhi Khoa Mở Rộng BV. Nhi Đồng 2 – Lần XIX - Năm 2010

5


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010


6Hội Nghị Nhi Khoa Mở Rộng BV. Nhi Đồng 2 – Lần XIX - Năm 2010

Nghiên cứu Y học


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010

Hội Nghị Nhi Khoa Mở Rộng BV. Nhi Đồng 2 – Lần XIX - Năm 2010

Nghiên cứu Y học

7



×