Tải bản đầy đủ

Đánh giá hiệu quả của máy hút áp lực âm trong điều trị các vết thương mãn tính kết quả bước đầu

guyên nhân
bệnh
Nguyên
Loét Loét bàn Loét bàn
nhân
cùng cụt chân do chân tiểu
tì đè
đường
Tiến
triển

Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Chợ Rẫy 2011

Tốt

20

1

4


25

Trung bình

1

0

0

1

Không đổi

1

0

3

4

201


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 4 * 2011

Nghiên cứu Y học

Tiến triển tốt sau 10 ngày điều trị ở bệnh
nhân loét cùng cụt 20/22 bệnh nhân.

Loét bàn chân tiểu đường sau 10 ngày chạy
hút áp lực âm có tiến triễn tốt 4/7 bệnh nhân.

BN TRƯƠNG THỊ BỮA SN 1954, SNV: 11605

SAU 10 NGÀY ĐIỀU TRỊ
BN TRẦN ĐỨC THUẬN SN 1948, SNV 14124


SAU 6 NGÀY ĐIỀU TRỊ

SAU 10 NGÀY ĐIỀU TRỊ

BÀN LUẬN
Những nguyên lý cơ bản của điều trị bằng
hút áp lực âm không phải là ý tưởng mới. Đây
thực chất là một cách nhằm dẫn lưu dịch được
áp dụng trong nhiều năm bởi các nhà ngoại
khoa, khác biệt của hệ thống VAC là lực hút
được phân bố đều trên toàn bộ bề mặt của VT,
khi hệ thống làm việc, một phần chân không
được tạo ra bên trong VT làm giảm đi thể tích &
tạo điều kiện thuân lợi lấy đi dịch từ VT.
Cơ chế của máy hút áp lực âm:
Tạo ra môi trường ẩm ở vết thương.

202

Giảm phù nề quanh vết thương, kích thích
tuần hoàn tại chỗ.
Giảm phát triển vi khuẩn.
Tăng tỉ lệ mọc mô hạt & biểu mô hóa.
Máy hút áp lực âm có thể kiểm soát áp lực
hút, có thể điều chỉnh áp lực từ 50-125mm Hg,
có thể hút liên tục hay ngắt quảng, trong chu kỳ
đầu hút liên tục thường được áp dụng, các chu
kỳ tiếp theo hút ngắt quảng được khuyến cáo
nhằm kích thích quá trình di trú & phân bào.
Chỉ định điều trị bằng hút áp lực âm, ngoài
các vết thương mãn tính, còn được áp dụng rộng
rãi cho các VT do ngoại khoa, VT nhiễm khuẩn

Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Chợ Rẫy 2011


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 4 * 2011
(Tang & CS 2000, Collier 1997) các vạt da, mãnh
ghép, bỏng (Mullner & CS 1997, Banwell 1999).
Người ta cũng nêu lên các biến chứng do hút áp
lực âm như đau do áp lực hút, dị ứng băng dính,
tấm xốp, tổ chức hạt phát triển vào trong tấm
xốp v.v… Tuy nhiên các biến chứng này người
ta có thể tránh khỏi, nếu chúng ta có lưu ý đến.
Những kết quả trên cho thấy Hút áp lực âm
dùng hiệu quả cho các vết thương mãn tính.
Những tổn thương thường mức độ trung bình
đến nặng, việc điều trị cho những tổn thương
này còn rất khó khăn, thời gian lành vết thương
đòi hỏi mất nhiều tháng, với áp dụng hút áp lực
âm có 25/30 trường hợp (83,33%) vết thương
được cải thiện tốt (nền vết thương, dịch tiết vết
thương, tổ chức hạt mới hình thành, tình trạng
nhiễm khuẩn vết thương) sau 10 ngày điều trị.
Một số đặc điểm nổi bật giúp cải thiện tình
trạng của vết thương.
Kiểm soát dịch tiết của vết thương: Trong
30 trường hợp có 25/30 tình trạng dịch tiết vết
thương được cải thiện rõ, kéo theo tình trạng
giảm phù nề cạnh vết thương sau 10 ngày điều
trị. Điều này cũng phù hợp với các báo cáo của
các tác giả nước ngoài. Azad & Niishikawa
(2002): Hút áp lực âm đã loại bỏ trực tiếp dịch
từ vết thương, giảm phù nề. Mustoe (2007):
Hút áp lực âm lấy đi dịch tiết của vết thương,
dịch các khoang kẻ quanh tế bào, giúp cải
thiện cung cấp oxy cho tế bào, ngoài ra nó
cũng giúp loại bỏ các enzymes gây hại cho tế
bào như MMPs (Matrix metalloproteinnases),
protease. Cũng cần lưu ý trong các vết thương
mãn tính, dịch tiết vết thương xuất hiện nhiều
hơn & Thành phần dịch tiết của vết thương
thường chứa các yếu tố trung gian gây viêm
(Inflammatory mediators), các enzymes ở
trạng thái hoạt động làm tiêu đi các protein
(Protein- digesting enzymes) như MMPs. &
một trong các yếu tố góp phần làm tăng tiết
dịch là hiện tượng ischemia- reperfusion injury
ở các vết thương loét do tì đè (Roberto D.
Galiano 2007).

Nghiên cứu Y học

Sự kiểm soát tốt dịch tiết của vết thương góp
phần làm giảm đi số lượng vi khuẩn trên bề mặt
của vết thương, giảm đi sự liên kết các vi khuẩn
nhằm tạo ra màng Biofilm & điều này góp phần
vào việc giảm đi các hỗn loạn sinh học
(Bioburden) ở vết thương, sẽ hỗ trợ cho quá
trình di trú các tế bào đến vết thương, cũng như
sẽ hỗ trợ sự tăng sản tế bào tại vết thương giúp
nền vết thương tốt hơn và vết thương co nhỏ lại
(Tang & CS 2000). Trong kết quả nghiên cứu trên
một trùng lắp khi dịch tiết vết thương được
kiểm soát tốt 25/30 trường hợp thì nền vết
thương cũng cải thiện (có tổ chức hạt mọc đều,
lấp đầy khoảng trống vết thương) 25/30 trường
hợp sau 10 ngày điều trị. So với các điều trị
thường qui khác cần từ 12-14 ngày (Trần Xuân
Vận 1996).
Một khuyến cáo của các nhà sản xuất. Hút
áp lực âm tiết kiệm được thời gian chăm sóc
vết thương một cách hợp lý (Hạn chế số lần
thay băng).
Việc chọn lựa bệnh nhân cũng cần cân nhắc,
nhất là vết thương cần phải làm sạch sẽ nhằm
bảo đảm thành công cho trị liệu bằng hút áp lực
âm. Mô hình chúng tôi thường áp dụng.
BỆNH NHÂN → ĐÁNH GIÁ BỆNH
NHÂN (Chẩn đoán, đánh giá khả năng lành
VT) → CẮT LỌC, LÀM SẠCH VẾT THƯƠNG
→ KIỄM SOÁT LÂY NHIỄM, NHIỄM KHUẨN
→ ĐỀ RA CHIẾN LƯỢC ĐIỀU TRỊ (HÚT ÁP
LỰC ÂM).

KẾT LUẬN
Hút áp lực âm là một điều trị hỗ trợ tốt giúp
cho quá trình lành vết thương đặc biệt là các vết
thương mãn tính với việc kiểm soát tốt dịch tiết
tại vết thương giúp cải thiện tuần hoàn tại chỗ
vết thương, giảm phù nề cạnh vết thương, giảm
vi khuẩn vết thương cũng như góp phần thu
nhỏ lại diện tích của vết thương (kết quả ngiên
cứu của nhóm 2 & 3). Chúng tôi cũng ghi nhận
những bất lợi như sự di chuyển bệnh nhân bị
hạn chế do phải gắn với máy, chi phí điều trị
tương đối cao.

Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Chợ Rẫy 2011

203


Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 4 * 2011
3.

TÀI LIÊU THAM KHẢO
1.

2.

Denis P. Nix (2007): Patient assessment and evaluation of
healing. In Acute & Chronic wound, Third edition: Mosby, pp
130 – 147
Maureen Benbow (2005): Diagnosing and assessing wound.
In Evidence- based wound management, First published:
Whurr publishers, pp 46 -58

4.

5.
6.

204

Gent Mulder (2010):
Current concepts in wound
management. In The 3 rd International advanced wound care
course, pp 9 -24
Carol Dealey (2005): The management of patients with
wound. In The care of wound, Third edition: Blackwell
Publishing, pp13-43
Baker SR, Stacey MC, Sing G & al (1992): Aetiology of chronic
leg ulcers. European Journal of Vascular surgery 6: 245-251
Banwell PE (1999) Topical negative pressure therapy in
wound care. Journal of wound care 8(2): 79-84

Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Chợ Rẫy 2011



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×