Tải bản đầy đủ

Điều trị phẫu thuật u màng não rãnh khứu bằng đường mở sọ trán - thái dương một bên

Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 

ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT U MÀNG NÃO RÃNH KHỨU  
BẰNG ĐƯỜNG MỞ SỌ TRÁN‐THÁI DƯƠNG MỘT BÊN 
Phạm Quỳnh Trang**, Nguyễn Thế Hào*, Trần Trung Kiên*, Phạm Văn Cường* 

TÓM TẮT 
Mục  tiêu: Phân tích phương pháp và đánh giá kết quả phẫu thuật u màng não (UMN) rãnh khứu bằng 
đường mở sọ trán‐thái dương một bên.  
Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu trên 14 bệnh nhân UMN rãnh khứu được phẫu thuật bằng đường mở 
sọ trán‐thái dương (TD) một bên từ 3.2013 đến 6.2014 tại bệnh viện Bạch Mai và bệnh viện Việt Đức.  
Kết quả: 14 bệnh nhân từ18‐68 tuổi (trung bình 41,2), nữ:nam là 10:4. 100% bệnh nhân được phẫu thuật 
sử dụng đường trán TD một bên. Kết quả lấy hết u: Simpson 2 78,7%, Simpson 1: 21,3%. Biến chứng viêm 
màng não: 7,1%, rò DNT: 7,1%. Karnofsky 100 chiếm 78,7%.  
Kết luận: Đường mở sọ trán TD một bên bảo tồn được hệ thống mạch máu, thần kinh ở nền sọ, chức năng 
khứu giác của bệnh nhân. Kết quả phẫu thuật tốt chiếm đa số.  
Từ khóa: u màng não, rãnh khứu. 


ABSTRACT 
FRONTOLATERAL APPROACH IN RESECTION OF OLFACTORY GROOVE MENINGIOMAS 
Pham Quynh Trang, Nguyen The Hao, Tran Trung Kien*, Pham Van Cuong 
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 182 – 186 
Objective: Analyzing the frontolateral approach in resection of olfactory groove meningiomas.  
Methods: Perspective study of 14 patients of olfactory groove meningioma operated from3.2013 to 6.2014 at 
Viet Duc hospital and Bach Mai hospital.  
Results: Mean age 41.2 (from 18 to 68). 100% frontolateral approach. Surgical results: Simpson 2 (78.7%), 
Simpson 1 21.3%. Post‐op complication: Meningitis 7.1%, CSF fistula 7.1%. Karnofsky 100 is 78.7%.  
Conclusions:  Frontolateral  approach  can  preserve  vascular  system, the  cranial  nerves,  olfactory function. 
Surgical result is favorable.  
Keywords: meningiomas, olfactory groove. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 
U màng não rãnh khứu được Durante phẫu 
thuật thành công lần đầu tiên trên thế giới năm 
1885.  Có  nhiều  đường  mổ  khác  nhau  được  sử 
dụng  để  phẫu  thuật  u  màng  não  rãnh  khứu. 
Đường  mổ  được  áp  dụng  phổ  biến  nhất  là 
đường mở sọ trán hai bên. Ưu điểm của đường 
mổ  này  là  có  thể  dễ  dàng  tiếp  cận  khối  u,  cắt 
nguồn mạch máu nuôi u, lấy u được từ cả 2 bên 
liềm đại não. Tuy nhiên, nhược điểm của đường 
mổ trán 2 bên là: 1. Mở vào xoang trán, làm tăng 
* Khoa Ngoại Bệnh viện Bạch Mai   
Tác giả liên lạc: BS Phạm Quỳnh Trang 

182

nguy  cơ  nhiễm  trùng  sau  mổ,  2.  Vén  cả  2  thùy 
trán  gây  tổn  thương  tổ  chức  não  cũng  như  hệ 
thống  tĩnh  mạch  và  nguy  cơ  tổn  thương  dây 
thần  kinh  khứu  giác  hai  bên,  3.  Trong  những 
trường hợp khối u lớn, đường trán 2 bên không 
cho  phép  phẫu  thuật  viên  kiểm  soát  hệ  thống 
động mạch lớn ở nền sọ do khối u làm thay đổi 
vị trí bình thường của động mạch(3,2). Đường mổ 
trán  thái  dương  một  bên  có  thể  khắc  phục 
những vấn đề trên. Chính vì vậy, chúng tôi tiến 


hành  nghiên  cứu  này  nhằm  phân  tích  phương 

** Khoa phẫu thuật Thần Kinh bệnh viện Việt Đức
ĐT: 0944300378  
Email: drphamquynhtrang@gmail.com 

Chuyên Đề Phẫu Thuật Thần Kinh  


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 

Nghiên cứu Y học

 
pháp  và  đánh  giá  kết  quả  phẫu  thuật  u  màng 
não rãnh khứu bằng đường mổ trán thái dương 
một bên 

KẾT QUẢ 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đặc điểm bệnh nhân: 

Đối tượng nghiên cứu 

Từ tháng 3.2013 đến tháng 6.2014 chúng tôi 
phẫu  thuật  14  u  màng  não  rãnh  khứu  trong  số 
189 u màng não, tỷ lệ là 7,4%. Tuổi bệnh nhân từ 
18 đến 68, trung bình là 41,2 tuổi. Giới: 10 nữ: 4 
nam, tỷ lệ 2,5:1 

Gồm  14  bệnh  nhân  được  chẩn  đoán  là  u 
màng não rãnh khứu  

Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân 
Những bệnh nhân được chẩn đoán dựa vào 
lâm sàng và hình ảnh là u màng não rãnh khứu, 
được  phẫu  thuật  bằng  đường  mổ  trán  thái 
dương một bên 
Kết quả giải phẫu bệnh là u màng não 
Đầy đủ hồ sơ bệnh án, phim ảnh 

Tiêu chuẩn loại trừ 
Bệnh  nhân  được  chẩn  đoán  là  u  màng  não 
rãnh khứu nhưng được phẫu thuật bằng đường 
mổ trán hai bên 
Bệnh nhân không được phẫu thuật 
Không  có  kết  quả  giải  phẫu  bệnh  hoặc  kết 
quả không phải u màng não 
Không đầy đủ hồ sơ bệnh án, phim ảnh 
Thời gian nghiên cứu 
3.2013 đến 6.2014 
Địa điểm nghiên cứu 
Khoa Phẫu thuật Thần kinh ‐ Bệnh viện Việt 
Đức và khoa Ngoại ‐ Bệnh viện Bạch Mai 
Phương pháp nghiên cứu 
Nghiên cứu tiến cứu 
Các chỉ tiêu nghiên cứu 
‐  Các  đặc  điểm  bệnh  nhân:  Tuổi,  giới,  các 
triệu chứng lâm sàng  
‐  Các  đặc  điểm  hình  ảnh  của  khối  u:  Kích 
thước, độ tăng sinh mạch của khối u, u xâm lấn 
một bên hoặc hai bên liềm đại não, phù não, liên 
quan giữa khối u và các động mạch ở nền sọ 
‐ Phương pháp phẫu thuật 
‐ Các thuận lợi và khó khăn trong phẫu thuật 
‐ Kết quả phẫu thuật: Kết quả lấy hết u dựa 
trên  phân  độ  Simpson,  các  biến  chứng  sau  mổ, 

Bệnh Lý Sọ Não 

kết  quả  khám  lại  sau  3‐6  tháng  dựa  vào  bảng 
phân độ Karnofsky (KPS) 

Các triệu chứng lâm sàng được tóm tắt trong 
Bảng 1 
Bảng 1 Các triệu chứng lâm sàng 
Triệu chứng
Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Thay đổi tính cách, nhận thức
9
64,3
Các triệu chứng về thị giác
7
50
Tăng áp lực nội sọ
9
64,3
Giảm/mất hoàn toàn khứu giác
14
100

Các đặc điểm về hình ảnh 
Cả 14 bệnh nhân được chụp cắt lớp vi tính, 
cộng  hưởng  từ  và  chụp  động  mạch  não  trước 
mổ. Các đặc điểm về hình ảnh của khối u được 
tóm tắt trong Bảng 2 
Bảng 2 Các đặc điểm về hình ảnh 
Đặc điểm
Kích thước khối u: <30mm
30-60mm
>60mm
Phù não
U nằm ở đường giữa
U nằm lệch sang một bên
Mạch máu lớn nằm trong u

Số bệnh nhân Tỷ lệ
2
14,3
3
21,4
9
64,3
12
85,7
6
42,8
8
57,2
5
35,7

Phương pháp phẫu thuật  
14/14  bệnh  nhân  đều  được  phẫu  thuật,  sử 
dụng mở sọ trán thái dương một bên.  
Bệnh nhân nằm ngửa, đầu nghiêng 45‐60 độ. 
Cửa  sổ  xương  2/3  trán‐1/3  thái  dương  đến  sát 
nền trán và nền thái dương. 
Mở  màng  cứng.  Sử  dụng  kính  vi  phẫu  mở 
đoạn sâu khe Sylvien và bể dịch não tủy giữa TK 
thị giác và ĐM cảnh trong để làm xẹp não. Vén 
não tối thiểu để bộc lộ khối u. Làm giảm thể tích 
trong lòng khối u để bộc lộ dần dần phần màng 
cứng ở nền sọ. Đốt và cắt các cuống mạch nuôi u 

183


Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 
từ  màng  cứng  nền  sọ.  Bộc  lộ  động  mạch  cảnh 
trong cho tới ngã ba, nằm ở mặt sau‐ngoài của u. 
Sau đó, giảm thể tích khối u dần dần để bộc lộ 
được hoàn toàn phức hợp động mạch não trước, 
giao  thoa  thị  giác  và  2  thần  kinh  thị  giác.  Mở 
liềm đại não để kiểm soát được phần u và thần 
kinh  khứu  giác  bên  đối  diện.  Bộc  lộ  đoạn  xa 
động  mạch  não  trước  bên  đối  diện  và  tổ  chức 
não xung quanh khối u. Nếu cần thì mở ống thị 
giác  để  lấy phần  u nằm  trong  ống thị giác.  Sau 
khi lấy hết u, đốt cầm máu kĩ màng cứng ở nền 
trán. Có thể sử dụng cân galea và keo sinh học 
đển tránh rò dịch não tủy. 

Các biến chứng sau mổ  

Các  thuận  lợi  của  đường  mở  sọ  trán  ‐  thái 
dương một bên 

Đặc điểm bệnh nhân: 

Hạn chế mở vào xoang trán 
Hạn chế sử dụng van vén não 
Làm xẹp được não sớm bằng cách mở vào 
bể dịch não tủy ở nền sọ và bằng cách mở khe 
Sylvien. 
Hạn  chế  làm  thương  tổn  hệ  thống  tĩnh 
mạch  dẫn  lưu.  Không  phải  thắt  xoang  tĩnh 
mạch dọc trên 
Hạn chế thương tổn tổ chức não trán hai bên, 
ảnh hưởng đến chức năng nhận thức, tâm thần 
của bệnh nhân. 
Chủ  động  bộc  lộ  được  sớm  động  mạch  và 
thần kinh ở nền sọ 
Bảo tồn được thần kinh khứu bên đối diện. 
Các  khó  khăn  của  đường  mở  sọ  trán  ‐  thái 
dương một bên 
Không quan sát được trực diện khối u. 
Không loại bỏ được từ đầu tất cả các nguồn 
cấp máu từ nền sọ trán hai bên liềm đại não 
Khó khăn khi cần phục hồi những vị trí rách 
của nền sọ tầng trước để tránh rò dịch não tủy 
Kết quả phẫu thuật 
Mức độ lấy hết u dựa theo phân độ Simpson: 
Bảng 3. Kết quả lấy u theo Simpson 
Độ Simpson
Độ I
Độ II
Tổng

184

Số bệnh nhân
3
11
14

Tỷ lệ
21,3
78,7
100

Bảng 4. Biến chứng sau mổ 
Biến chứng
Viêm màng não
Rò dịch não tủy
Tổng số

Số bệnh nhân
1
1
2

Tỷ lệ
7,1
7,1
14,2

Kết quả khám lại sau mổ 3‐6 tháng: 
Bảng 5. Kết quả theo Karnofsky 
Điểm Karnofsky
100
90
80

Số bệnh nhân
11
2
1

Tỷ lệ
78,7
14,2
7,1

BÀN LUẬN 
Tỷ lệ tuổi giới trong nghiên cứu của chúng 
tôi không có gì khác biệt so với các nghiên cứu 
trong  y  văn  về  u  màng  não  nói  chung  và  u 
màng  não  rãnh  khứu  nói  riêng.  Tỷ  lệ  u  màng 
não rãnh khứu trong nghiên cứu của chúng tôi 
là 7,4%. Tỷ lệ trung bình ở các nghiên cứu khác 
là từ 4‐10%(4). 
Triệu  chứng  gặp  ở  100%  bệnh  nhân  trong 
nghiên cứu của chúng tôi là giảm hoặc mất khứu 
giác. Có 9/14 (64,3%) bệnh nhân có biểu hiện rối 
loạn  về  tính  cách,  nhận  thức,  tương  ứng  với 
những trường hợp khối u lớn (trên 60mm). Biểu 
hiện tăng áp lực nội sọ không rõ ràng (9/14 bệnh 
nhân ‐ 64,3%): Đau đầu nhẹ, buồn nôn(4). 
Kích thước khối u trung bình là 42mm (nhỏ 
nhất là 26mm, lớn nhất là 71mm). Trong đó có 9 
trường hợp khối u >60mm (64,3%). Tỷ lệ khối u 
có  kích  thước  khổng  lồ  cao  do  u  màng  não  nói 
chung tăng kích thước chậm. Hơn nữa, u màng 
não  rãnh  khứu  khu  trú  ở  vùng  trán,  thường 
không  có  biểu  hiện  lâm  sàng  rầm  rộ  nên  bệnh 
nhân chỉ đi khám ở giai đoạn khối u đã có kích 
thước lớn(3,4). 
Các  khối  u  có  kích  thước  lớn  thường  kèm 
theo  hình  ảnh  phù  não  trên  phim  chụp  cộng 
hưởng  từ.  Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi, 
những khối u kích thước lớn hơn 45mm đều có 
kèm theo phù não (12/14 bệnh nhân ‐ 85,7%). 

Chuyên Đề Phẫu Thuật Thần Kinh  


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 

Nghiên cứu Y học

 
U màng não rãnh khứu có thể nằm ở đường 
giữa hoặc lệch sang một bên. Trong nghiên cứu 
của chúng tôi, có 6/14 bệnh nhân (42,8%) có khối 
u nằm ở chính giữa. 8 trường hợp còn lại (57,2%) 
khối u chiếm ưu thế hơn ở một bên trán. Trong 
các  nghiên  cứu  trên  thế  giới,  tỷ  lệ  khối  u  nằm 
lệch sang một bên thường cao hơn so với khối u 
nằm cân đối ở đường giữa. Nguyên nhân được 
cho là do khối u khởi phát từ rãnh khứu một bên 
nên thường không nằm cân đối ở đường giữa(4). 
Chỉ  có  5/14  bệnh  nhân  (35,7%)  có  các  mạch 
máu  lớn  ở  nền  sọ  nằm  trong  u.  Các  mạch  máu 
này có thể động mạch não trước đoạn A1, thông 
trước hoặc A2. U màng não rãnh khứu xuất phát 
từ nền sọ trước, nên trong quá trình khối u phát 
triển về kích thước, các tổ chức mạch máu, thần 
kinh có xu hướng bị đẩy ra ngoài khối u. Chính 
vì vậy tỷ lệ các mạch máu lớn nằm trong khối u 
không cao. 
Phương pháp phẫu thuật 
Chúng tôi áp dụng đường mở sọ trán thái 
dương  một  bên  cho  cả  14/14  trường  hợp 
(100%). Trong y văn có nhiều quan điểm khác 
nhau  về  việc  lựa  chọn  đường  mổ.  Tác  giả 
Aguiar  (2009)  lựa  chọn  đường  mổ  trán‐thái 
dương  một  bên  cho  những  khối  u  có  kích 
thước  nhỏ  hoặc  trung  bình,  đường  trán  2  bên 
cho  những  khối  u  khổng  lồ(4).  Tuna  (2004)  thì 
lựa  chọn  đường  mổ  trán‐thái  dương  một  bên 
cho  những  khối  u  nằm  lệch  sang  một  bên  và 
đường trán 2 bên cho những trường hợp nằm 
cân  đối  ở  đường  giữa(4).  Chúng  tôi  nhận  thấy 
rằng việc lựa chọn đường mổ trán‐thái dương 
một bên không phụ thuộc vào kích thước cũng 
như vị trí khối u. Với những khối u kích thước 
lớn hoặc khổng lồ, việc làm giảm thể tích khối 
u có thể thực hiện được dễ dàng bằng sử dụng 
dao siêu âm (sonopet) hoặc dùng dao điện đơn 
cực  cắt  từng  phần  nhỏ  trong  lòng  khối  u. 
Chúng  tôi  kê  tư  thế  đầu  bệnh  nhân  nghiêng 
45‐60 độ. Với tư thế đầu như vậy, việc thao tác 
ở đường giữa cũng như sang phía nền sọ bên 
đối diện cũng không gặp khó khăn. 

Bệnh Lý Sọ Não 

Các thuận lợi của đường mở sọ trán‐thái dương 
một bên 
Cũng như nhận xét một số tác giả, chúng tôi 
nhận thấy phẫu thuật lấy u màng não rãnh khứu 
bằng đường mở sọ trán thái‐ dương một bên có 
nhiều ưu điểm. Nổi bật nhất là việc bảo tổn được 
hệ  thống  tĩnh  mạch  vùng  trán  và  xoang  tĩnh 
mạch  dọc  trên,  mà  đường  mở  sọ  trán  hai  bên 
thường xuyên gặp phải. Ngoài ra, đường mở sọ 
trán thái dương cho phép tiếp cận ngay từ đầu 
hệ  thống  động  mạch  nền  sọ.  Theo  Babu  (1995), 
mặc dù khối u có xu hướng đẩy các động mạch 
ra ngoài(1). Tuy nhiên, trong một số trường hợp, 
khối  u  vẫn  phát  triển  vòng  quanh  các  động 
mạch. Việc tiếp cận ngay từ đầu giúp tránh làm 
tổn  thương  các  động  mạch  lớn  trong  quá  trình 
phẫu tích lấy u.  
Với  đường  trán  2  bên,  quá  trình  phẫu  tích 
lấy  u  bắt  đầu  trực  tiếp  từ  nền  sọ  trán  ở  phía 
trước. Trong giai đoạn cắt bỏ chỗ bám của khối 
vào  nền  sọ  trước,  não  còn  phù  nên  cần  phải 
dùng van vén tổ chức não, có thể gây tổn thương 
tổ chức não trán cả 2 bên. Ở đường mở sọ trán‐
thái dương một bên, phẫu thuật viên có thể hút 
dịch não tủy để làm xẹp ở nền sọ. Việc mở khe 
Sylvian ở phần sâu làm cho thùy trán được vén 
ra một cách nhẹ nhàng, không gây đè ép nhiều 
vào tổ chức não(1,2). 
Một  ưu  điểm  nữa  của  đường  mở  trán  thái 
dương  một  bên  là  khả  năng  bảo  tồn  được  dây 
thần  kinh  khứu  một  bên.  Ở  đường  trán  2  bên, 
trong  quá  trình  cắt  bỏ  chỗ  bám  của  khối  u  vào 
nền sọ trước, thần kinh khứu cả 2 bên thường bị 
tổn  thương.  Khối  u  thường  phát  triển  từ  rãnh 
khứu  một  bên,  thần  kinh  khứu  bên  đối  diện 
thường bị đẩy ra ngoài. Bằng cách phẫu tích lấy 
u từ một bên, ở giai đoạn lấy u cuối cùng ở phía 
bên  đối  diện,  phẫu  thuật  viên  có  thể  phẫu  tích 
phần còn lại của khối u ra khỏi thần kinh khứu(2).  
Các hạn chế của đường mở sọ trán‐thái dương 
một bên 
Khối  u  màng  não  rãnh  khứu  xuất  phát  từ 
đường  giữa.  Việc  tiếp  cận  khối  u  từ  bên  cạnh 

185


Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 
làm  cho  phẫu  thuật  viên  không  qua  sát  được 
toàn diện khối u. Việc cắt phần bám của khối u 
vào  nền  sọ  tầng  trước  từ  đầu  cũng  đồng  nghĩa 
với việc cắt toàn bộ nguồn cấp máu cho khối u. 
Vì vậy, quá trình lấy từng phần khối u sau đó sẽ 
ít  chảy  máu.  Ngược  lại,  ở  đường  mở  trán‐thái 
dương  một  bên,  phẫu  thuật  viên  không  thể  cắt 
bỏ các động mạch cấp máu cho khối u từ nền sọ 
trán ngay từ đầu được(3,2). 
Vì  khối  u  phát  triển  từ  nền  sọ  trước  nên 
trong quá trình cắt bỏ chỗ bám của khối u, phần 
màng cứng ở phần nền sọ này có thể bị rách gây 
rò dịch não tủy. Ở đường mở sọ trán 2 bên, phẫu 
thuật  viên  có  thể  quan  sát  được  trực  diện  chỗ 
rách  màng  cứng  để  phục  hồi  ngay  trong  mổ. 
Đây cũng chính là 1 hạn chế của đường mở trán‐ 
thái dương một bên(2). 
Kết quả phẫu thuật 
Chúng  tôi  đánh  giá  mức  độ  lấy  hết  u  dựa 
vào  phân  độ  Simpson.  Có  11/14  trường  hợp 
(78,6%) là Simpson 2. Chúng tôi để lại phần khối 
u bám vào màng cứng phủ xoang sàng để tránh 
gây rách màng cứng dẫn đến rò dịch não tủy. 
Có  1  bệnh  nhân  có  biến  chứng  viêm  màng 
não  sau  mổ.  Bệnh  nhân  có  xoang  trán  rất  lớn 
kèm  theo  viêm  xoang  trong  thời  gian  phẫu 
thuật.  Bệnh  nhân  đã  được  điều  trị  khỏi  bằng 
kháng  sinh  liều  cao.  1  bệnh  nhân  khác  có  biến 
chứng rò dịch não tủy do rách màng cứng ở nền 
sọ đã  được điều trị  bằng  đặt  dẫn  lưu  thắt  lưng 
trong vòng 5 ngày sau mổ. Không phát hiện biến 

chứng  phù  não  sau  mổ  nào  trong  cả  14  trường 
hợp.  Đây  là  ưu  điểm  nổi  bật  của  đường  mở  sọ 
trán‐thái dương so với đường mở trán 2 bên. 
Kết quả sau mổ tốt (điểm Karnofsky 90‐100) 
chiếm tỷ lệ cao: 13/14 bệnh nhân (92,9%). Các tác 
giả khác cũng thông báo kết quả tương tự khi áp 
dụng  đường  mở  sọ  1  bên  đối  với  u  màng  não 
rãnh khứu(3,4). 

KẾT LUẬN 
Đường  mở  sọ  trán‐thái  dương  một  bên  áp 
dụng  trong  phẫu  thuật  u  màng  não  rãnh  khứu 
có  nhiều  ưu  điểm:  Bảo  tồn  được  hệ  thống  tĩnh 
mạnh‐  xoang  tĩnh  mạch,  kiểm  soát  được  hệ 
thống  động  mạch,  thần  kinh  ở  nền  sọ,  bảo  tồn 
được  chức  năng  khứu  giác  của  bệnh  nhân.  Kết 
quả phẫu thuật tốt chiếm đa số. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1.

Babu  R.,  Barton  A.  (1995),  “Resection  of  olfactory  groove 
meningiomas:  Technical  note  revisited”,  Surgical  Neurology 
44:567‐572. 

2.

De Aguiar P., Tahara A.(2009), “Olfactory groove meningiomas: 
Approaches  and  complications”,  Journal  of  Clinical 
Neuroscience 16: 1168‐1173. 

3.

Tomasello  F.,  Angileri  F.  (2011),  “Giant  olfactory  groove 
meningiomas:  Extent  of  frontal  lobe  damage  and  longterm 
outcome  after  pterional  approach”,  World  Neurosurgery  76: 
311‐317. 

4.

Tuna H., Bozkurt M. (2005), “Olfactory groove meningiomas”, 
Journal of Clinical Neuroscience 12(6): 664‐668. 

 
Ngày nhận bài báo:  

 

 

20/10/2014 

Ngày phản biện nhận xét bài báo:  

2/11/2014 

Ngày bài báo được đăng:  

05/12/2014 

 

 

 

186

Chuyên Đề Phẫu Thuật Thần Kinh  



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×